Giới thiệu tác phẩm “ Nhân Văn Giai Phẩm” ( II )

Quyển biên khảo  “ Nhân Văn Giai Phẩm „ ra mắt độc giả vào tháng 5 năm 2012 đã gây tiếng vang trong Sinh hoạt Văn học Nghệ thuật  và châm ngòi nổ các cuộc thảo luận về quyền tự do trong văn chương ,nghệ thuật ,báo chí ..

Quan trọng hơn là nỗi mong chờ một xã hội dân chủ ,trong đó không chỉ  quyền tự do ngôn luận ,tự do báo chí ,văn chương mà nhiều quyền khác của người dân được tôn trọng & bảo vệ ,nhất  là Nhân Quyền.
Dù có giá trị quan trọng trong văn học và lịch sử , nhưng  với tầm vóc đồ sộ gần 1.000 trang giấy , công trình biên khảo suốt hơn 20 năm trời với nhiều sự kiện văn học , lịch sử  của thời kỳ đã bị nhấn chìm trong bóng đen, quyển biên khảo Nhân văn Giai Phẩm không phải dễ đọc trong thời gian ngắn ,như những quyển sách bình thường.

Đây là một công trình biên khảo chứa chất cả kho tài liệu với hàng ngàn chi tiết đan quyện nhau, cần được lật giở nhiều lần để tìm hiểu và nghiên cứu lâu dài.
Để nắm sơ lược toàn bộ nội dung quyển biên khảo ,qua đó  thấy được  giá trị và tầm quan trọng của  nó ,chúng ta hãy tham khảo „ Nhân Văn Giai Phẩm „  qua ba lảnh vực :

Văn học-Nghệ thuật Xã hội –Con người và Chính trị-Lịch sử

Nhan van giai pham

1) Văn học-Nghệ thuật

Tôi bước đi không thấy phố không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ

hai câu thơ trên thường được nhắc đến đầu tiên khi bàn đến Nhân Văn Giai Phẩm.Có nhiều người  biết  hai câu thơ  nhưng  không hề biết vụ án Nhân Văn Giai Phẩm cùng những nạn nhân liên quan ,cũng như không biết tên Trần Dần, tác giả bài thơ „ Nhất định thắng“.

Tuy nhiên dù cuộc đời tác giả hai câu thơ bị vùi dập ,nhấn chìm trong bóng tối  qua bao năm,  hai câu thơ vẫn được nhiều người nhớ vì chúng tỏa sức mạnh lạ thường .

Chúng giống  ngọn đuốc tỏa sáng làm lu mờ  đám hào quang luôn cố tô vẽ lên ánh cờ đỏ , màu cờ  biểu tượng chủ nghĩa Cộng Sản .
Hai câu thơ đã nhấn chìm cả „thế giới sau “Bức màn đỏ“ vào màu ảm đạm ,sủng ướt nước mưa“ , gợi người ta nghĩ đến cuộc sống thê lương của người dân sau „Bức màn đỏ“,một xã hội bị che kín tất cả.
Do vậy cũng không ngạc nhiên khi tác giả hai câu thơ bị đọa đày trong cuộc sống dưới lá cờ đỏ .

Hai câu thơ trên thật ra chỉ là hai câu mở đầu Bản Trường ca hay tấm thảm kịch „Nhân Văn Giai Phẩm „, được viết bằng số phận  nhiều văn nghệ sĩ, trí thức ở thời kỳ Đảng CS VN bắt đầu lảnh đạo.

Tất cả bị giấu kín , nhấn chìm trong bóng tối cho đến khi học giả Hoàng văn Chí cho ra đời quyển „Trăm hoa đua nở trên đất Bắc“ để từ đó khởi sự các biên khảo sau này về phong trào “Nhân Văn Giai Phẩm “.

Nhân Văn Giai Phẩm là phong trào tranh đấu cho tự do dân chủ của văn nghệ sĩ và trí thức miền Bắc có tầm vóc lớn lao, khởi xướng đầu năm 1955 và bị chính thức dập tắt tháng 6 năm 1958.( NVGP- Chương 1)

Xét ở phương diện Văn hóa nghệ thuật vào  thời kỳ Nhân Văn Giai Phẩm có hai tờ báo ra đời : Nhân Văn Giai Phẩm và Báo Nam Phong  để chúng ta thấy ở đây,  không chỉ một vụ án mà là hai vụ án:

Vụ án Nhân Văn Giai Phẩm và vụ án Báo Nam Phong.

Qua đó tên tuổi những nạn nhân bị đàn áp ,kết tội,bị đày đọa suốt cả cuộc đời thuộc vụ án Nhân Văn Giai Phẩm có thể kể là: Phan Khôi,Trần Dần , Hoàng Cầm,Lê Đạt,Phùng Quán, Phùng Cung, Trương Tửu..Nữ sĩ Thụy An, Nhạc sĩ Tử Phác và Đặng Đình Hưng Văn Cao,Họa sĩ Dương Bích Liên, Họa sĩ Trần Duy.

Và thêm một số tên tuổi chưa kịp nhắc hết cũng liên quan đến Nhân Văn Giai Phẩm như : Bùi Quang Đoài, Thanh Châu, Hoàng Huế, Hoàng Yến, Hữu Loan, Tạ Hữu Thiện..

Những tên tuổi có liên quan đến vụ án Báo Nam phong là Phạm Quỳnh ,Nguyễn văn Vĩnh ,Trần Trọng Kim cùng Nguyễn Bá Trác,Nguyễn Thái Bạt ,Lê Dư.

Ngoài ra cần nhắc tới Báo Sáng Tạo và nhóm chủ trương Cao Nhị, trong bài tự kiểm thảo, cũng „nhận tội“: „Tôi nhận làm thư ký toà soạn báo Sáng Tạo, tờ báo chuyên đả kích phim ảnh Liên Xô và đả kích lãnh đạo trên mặt sân khấu và điện ảnh“.Sáng Tạo chỉ ra được hai số rồi chết. Thế nhưng hai số đó cũng gây ra một số „tác hại „đáng kể với những bài của Trần Công, Nắng Mai Hồng, Phan Vũ, Vũ Phạm Từ, Kỳ Nam, v v .

Lướt qua các tên tuổi nêu trên chúng ta hiểu tại sao vụ án Nhân Văn Giai Phẩm có tầm vóc lớn và quan trọng . Vì qua đó hầu hết các văn nghệ sĩ tài ba với nhiều tác phẩm để đời đã bị dập vùi và cấm sáng tác trong thời gian dài. Dẫn đến sự bức tử nền văn học Việt nam ở  thời kỳ đang vươn lên thật mạnh mẽ ,thời kỳ chữ quốc ngữ ra đời và phát triển,thời kỳ của „Trăm hoa đua nở trên đất Bắc”.

Cái phận người Nhân Văn phải đi vào sa lầy, phải lún xuống, phải chịu nhận cái thời không nhân văn của dân tộc mình. Câm và điếc. Như đã chết.“( NVGP-Chương 11-Trần Dần)

Tại sao họ phải chịu số phận nghiệt ngã tàn khốc đó ?

Có thể trả lời vắn tắt là do họ không những không chịu đi theo đúng đường lối văn nghệ Đảng CS đã vạch ra mà còn đả phá đường lối văn nghệ “chuyên chính” :

„Mỗi văn nghệ sĩ lại phải tự trả lời dứt khoát: ủng hộ hay phản đối đường lối văn nghệ của chủ nghĩa Mác–Lênin, đường lối văn nghệ phục vụ công nông binh, phục tùng chính trị, theo yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng và phục tùng sự lãnh đạo của Đảng?
Đó là tiêu chuẩn để phân rõ ranh giới giữa hai đường lối văn nghệ vô sản và tư sản. Không thể nhập nhằng. Không thể lừa dối mình và lừa dối người bằng những lập luận quanh co của quan điểm văn học nghệ thuật tư sản đồi trụy trá hình dưới nhiều chiêu bài giả dối “chống công thức”, “chống giáo điều”, “đi tìm cái mới”.“

(Tố Hữu Ý nghĩa một cuộc đấu tranh trong văn nghệ-1958-xem tài liệu tham khảo )

Đường lối và chính sách chỉ đạo này không phải xuất phát từ Việt nam mà từ Liên Xô, cụ thể có thể thấy qua bài Tổ chức Đảng và văn học có Đảng tính“ của Lê Nin một bài báo như  phương châm ,chỉ thị cho Văn nghệ sĩ dưới sự lảnh đạo của Đảng.Học giả Hoàng Xuân Nhị đã có nhận xét về nó như sau:

Chủ yếu là bài ấy xây dựng Đảng tính trong văn học, dứt khoát lên án văn học tự do cá nhân chủ nghĩa, văn học tư sản đã lỗi thời, đã thành phản động. Bài ấy cũng xây dựng một phần cho tổ chức tính. Mức yêu cầu đối với các văn sĩ trong Đảng có cao hơn đối với các văn sĩ ngoài Đảng. Nhưng đã tự giác đi theo lý tưởng đấu tranh dưới lá cờ tiền phong của Đảng thì văn sĩ trong cũng như ngoài Đảng phải có Đảng tính trong đó bao gồm tổ chức tính “  (Hoàng Xuân Nhị-Về bài báo của Lê-nin năm 1905, vạch rõ nguyên lý của nền văn học có Đảng tính)

.Đây là thời kỳ của những “câu thơ “ mang Đảng tính :
„Trái tim anh đó rất chân thật chia ba phần tươi đỏ
Anh dành riêng cho Đảng phần nhiều
Phần cho thơ, và phần để em yêu…“
( Tố Hữu – Bài ca Mùa Xuân 1961)
… lên ngôi  và làm “ Cánh chim đầu đàn “ đại diện cho nền Văn chương XHCN chiếm ngự trong suốt bao năm trời tại Việt nam.

Ở lảnh vực Văn học Nghệ Thuật qua biên khảo Nhân Văn Giai Phẩm một tên tuổi được đặt  vị trí trân trọng hàng đầu là Phan Khôi, người trí thức mà theo học giả Tạ Trọng Hiệp sẽ  là “ Một người xa lạ trong bối cảnh lịch sử Đảng CS nắm quyền .

Theo ông có rất ít người biết đến Phan Khôi, nạn nhân đã bị trù dập khốc liệt là ai .Vì tất cả những gì thuộc về Phan Khôi đã bị xóa bỏ đến không còn dấu tích , giống như ngôi mộ của ông. 

Phan Khôi là ai ?

Nhân văn Giai phẩm – chương 21 đã để dành nhiều trang viết về Phan Khôi vì : Phan Khôi là khuôn mặt học giả phản biện duy nhất của Việt Nam trong thế kỷ XX. Là lãnh đạo tinh thần của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm .

Qua việc đối chứng so sánh tiểu sử ,phẩm chất trong sáng ,tinh thần cương trực Phan Khôi với tiểu sử Hồ Chí Minh cùng những chi tiết về Năm sinh giả ,ngày tháng hoạt động sửa đổi ,mạo danh tên tuổi bài viết vv.. đã cho người đọc hiểu :Tại sao Phan Khôi bị trù dập dưới thời Hồ Chí Minh lảnh đạo.

Hồ Chí Minh không ngần ngại nhận mình là tác giả những bài viết và những công trình không phải của ông. 

Đó là sự cách biệt sâu xa về nhân cách giữa hai nhà cách mạng. Lời Phan Khôi dặn con: „Khi con gái của Mác hỏi cha thích tính gì nhất? Mác đã trả lời: tính thật thà!“ (Phan Thị Thái, Nhớ cha tôi học giả Phan Khôi, Kiến thức ngày nay, tháng 12/1996),

là một chúc thư mà cũng là lời Phan Khôi cảnh cáo Hồ Chí Minh về toàn diện lịch sử mờ ám của ông.

Trong lảnh vực văn học Phan Khôi còn là người mở đầu cho

phong trào Thơ mới ,với bài thơ Tình già.


2) Xã hội :

Phong trào “ Nhân Văn Giai Phẩm” không chỉ đấu tranh cho tự do trong Văn hóa Nghệ thuật mà tranh đấu quyết liệt cho các vấn đề quan trọng xã hội :Tình trạng dân chủ ,quyền tự do của người dân trong chế độ độc đảng,chuyên chính , quyền sở hửu cơ bản với chính sách cải cách ruộng đất và số phận người trí thức ,những người thể hiện khả năng tư duy qua khả năng phản biện bị vùi dập ,đày đọa :

a)Dân chủ-Tự Do

Ở đây phải nhắc đến đầu tiên một trí thức đã đi trước thời đại hàng chục năm, những điều ông nhận xét, những tư tưởng ông nêu lên từ 1956 vẫn còn có thể đưa ra để bàn thảo cho các vấn đề xã hội ngày nay. Đó là luật sư Nguyễn Mạnh Tường với những bài viết phê bình chính sách cải cách ruộng đất, đòi hỏi chế độ pháp trị, dân chủ , cùng phê bình chế độ độc tài đảng trị và nêu cao vị trí và vai trò người trí thức trong xã hội.
“Qua những sai lầm trong cải cách ruộng đất, xây dựng quan điểm lãnh đạo „ ông đã nêu lên điểm thiết yếu vấn đề:
“Quốc hội thành lập đã mười năm [từ 1946 đến 1956]. „Nhưng quyền lập pháp của Quốc hội ở đâu?“
„Dư luận quần chúng quan niệm rằng Quốc hội chỉ có quyền thông qua các chính sách mà thôi“.
„Trong bản Tuyên ngôn độc lập, trong Hiến pháp cũng như trong các sắc lệnh, đạo luật, nguyên tắc dân chủ đã được ban bố“.
Nhưng trong thực tế: „người dân không có quyền, không có phương tiện nói lên ý kiến của mình, tham gia xây dựng các chính sách của Chính phủ“.
Đề nghị hướng sửa chữa sai lầm:
một chế độ pháp trị chân chính, một chế độ dân chủ thực sự.“..
„Tuy rằng trong nước ta có một Bộ Tư pháp, có các toà án, có luật lệ, nhưng chế độ pháp trị hầu như không có“.
Vì không có một chế độ pháp trị chân chính cho nên mới xẩy ra vụ cải cách ruộng đất.”…..
Về Cải cách ruộng đất và cải tạo tư sản,qua Tiểu thuyết Une voix dans la nuit –Tiếng vọng trong đêmông đã viết nhận xét :
Chưa bao giờ ở nước ta và có thể trong cả lịch sử loài người, một chính quyền khẳng định sự áp chế vô nhân đạo đến độ không đoái hoài đến nỗi đau khổ cá nhân và gia đình như thế; chưa bao giờ, kể cả trong lúc thác loạn điên khùng nhất, một bạo chúa dám động đến quyền sở hữu cá nhân và đập vỡ viên gạch nền móng của xã hội loài người.
(Tiếng vọng trong đêm -Trang 59)“

webh (25)

           b) Độc tài đảng trị

Nhân Văn Giai Phẩm ,chương 24- Vấn đề Trí thức và độc tài đảng trị :

Người ta dạy dân tín điều Mác-xít xưa nay Việt Nam không ai biết, còn thực hành thì người dân chỉ biết những cấm điều phải tuyệt đối tuân theo, mặc dù trong những diễn văn gửi đến cử tọa quốc tế, các lãnh đạo chối tiệt, bảo ở Việt Nam làm gì có cấm. Ví dụ người ta hay nói đến dân chủ, nhưng những quyền tự do đương nhiên và quyền con người thì không được biết đến ở Việt Nam. Hay quyền tự do ý kiến, có trong tất cả các nước dân chủ, cũng không được biết ở Việt Nam. Cấm phê bình chỉ trích những người cầm quyền trong Đảng và những quyết định của họ, cấm cả sự không tán thành (…).Tất cả báo chí, dù ở đâu, tuyệt đối không dám có một bài viết, bài báo ngắn hay bản tin để lộ một ý kiến xấu đối với những người cầm quyền hay đối với đường lối chính trị của Đảng. Một sự kiểm duyệt tỷ mỷ, cẩn mật, đầy cảnh giác không bao giờ cho in những dòng khiếp đảm như thế“ (Tiếng vọng trong đêm -trang 100- 101).

“Người cộng sản khi lên cầm quyền, từ chối thay đổi khẩu hiệu, tiếp tục tuyên bố: Vì dân, Do dân. Nhưng cái dân tộc mà họ vin vào đó, biết rõ hơn ai hết rằng chẳng có cái gì do dân làm cả, lý do hiển nhiên là dân không có quyền bầu những đại biểu của mình trong chính quyền và vì vậy dân không có quyền biểu quyết những chính sách được áp dụng ở trong nước. Quốc hội và tất cả những cơ quan cầm quyền, trong mọi lãnh vực hoạt động, đều tràn đầy cộng sản, từ ủy ban chỉ đạo tới ủy viên bình thường, không có một cái gì làm ở trong nước mà không qua sự chỉ đạo và kiểm soát của những người cộng sản hoặc những người sắp vào đảng, họ đánh nhau để chiếm chỗ, ra sức ngoan ngoãn, dễ bảo, tận tụy với Đảng.

Biểu thức “Do dân” vì vậy không có ý nghiã gì.( NVGP-Chương 25)

Để tố cáo sự độc tài đảng trị, kiểm soát cả trái tim con người,nhà thơ Lê Đạt đã có bài „Nhân câu chuyện mấy người tự tử“ với những câu thơ như:
...Dán nhãn hiệu“Made in Cách mạng“
Ngang nhiên xúc phạm con người
Đẩy họ đi tự tử..
(Lê Đạt)
Những câu thơ này vẫn còn giá trị ứng vào hoàn cảnh xã hội hiện nay tại Việt nam.

c) Trí thức :
khi kết luận trang về trí thức trong xã hội độc đảng độc tài của Nguyễn Mạnh Tường ,Thụy Khuê đã viết :
„Ngậm miệng là điều kiện cần và đủ để thành công mọi mặt, từ công việc làm ăn đến thăng quan tiến chức. Từ miếng giấy thông hành về nước, đến việc dạy học, việc mở và dự hội thảo ở Việt Nam.Ngoại trừ những khuôn mặt can trường đã vào tù, tinh thần trí thức hướng dẫn xã hội và dân tộc đến bình đẳng tự do, dân chủ, đã bị dẹp tan, gần như diệt chủng, kể cả những „trí thức“ đã đi du học, làm việc ở nước ngoài, đã được giải thưởng quốc tế, cũng lộn về để nhận ân sủng, phẩm hàm, nhà cửa.“
Thông điệp Nguyễn Mạnh Tường để lại cho chúng ta, mạnh mẽ và dứt khoát:
Sống không chỉ có ăn mặc, có nhà cửa, có phẩm hàm, địa vị, mà còn phải có văn hoá, tư tưởng. Phải đòi cho được quyền làm người. Cho chính mình và cho người khác.Nếu không, con người sẽ chẳng khác gì con vật.
( NVGP-Nguyễn Mạnh Tường-Chương 16)
Trong vấn đề đấu tranh cho dân chủ với quyền tự do tư tưởng ở đây chúng ta cũng cần nhắc đến Hoàng Đạo & nhóm Tự Lực Văn Đoàn với các bài viết về tự do dân chủ, quyền làm người, luật lao động, quyền công dân cùng các tác phẩm đầy tính nhân văn của nhóm Tự lực Văn Đoàn.

3- Chính trị-Lịch sử: 
các phong trào yêu nước nở rộ trong thời chống thực dân Pháp có thể kể tóm tắt qua biên khảo Nhân Văn Giai phẩm như sau:

a) Phan Bội Châu & Phong trào Đông Du (1906-1908) .Xuất phát từ phong trào này có Lương ngọc Quyến và cuộc Khởi nghĩa Thái nguyên lập truyền thống cho cuộc khởi nghĩa do Nguyễn Thái Học cầm đầu sau này.

b) Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng với
Phong trào Duy Tân (1905-1908) và chủ trương Đấu tranh Bất bạo động.

c) Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền với hội Đồng Bào Thân ái tại Pháp .Phong trào yêu nước do Phan Văn Trường khởi xướng ở Paris năm 1912 cùng với Phan Châu Trinh sau thêm ba thanh niên Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh ( 1918) và Nguyễn Tất Thành ( 1919 ) được đồng bào gọi là nhóm Ngũ Long đã có ảnh hưởng lớn trong việc chống thực dân tại Pháp vào những năm 1920.


Các bài họ viết ký bút hiệu chung là Nguyễn Ái Quấc.

Sau họ là những đệ tử của Nguyễn An Ninh như Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Hồ Hữu Tường, Huỳnh Văn Phương… tiếp tục tranh đấu đến 1945,không theo cộng sản hay là nhóm Đệ tứ đã bị cộng sản tiêu diệt từ 1945.
Theo Nhân Văn Giai Phẩm –Chương 17 có những chi tiết như sau :
-,, Đến 1918, nhóm này lại được Nguyễn An Ninh ở Sàigòn sang nhập bọn. Người ngoài cho đó là năm con rồng, bởi người Việt xưng mình là „ con rồng „. Linh hồn của nhóm „ ngũ long „ này là Phan Chu Trinh. Và khi chường ra công chúng, nhứt là khi viết báo chống thực dân, thì ý kiến do cụ Tây Hồ xướng ra, Nguyễn Thế Truyền, Phan văn Trường và Nguyễn An Ninh thảo thành tiếng Pháp và giao cho Nguyễn Tất Thành đem giao cho nhà báo với bút hiệu chung Nguyễn Ái Quốc .
Nhân Văn Giai Phẩm Chương 18 -Nguyễn Ái Quốc,lai lịch và văn bản ghi :

Thình nguyện thư lên án chế độ thực dân Pháp viết bằng tiếng Pháp ký tên với bút hiệu Nguyễn Ái Quốc do luật sư Phan Văn trường viết cùng với sự góp ý của cả nhóm .Nguyễn Tất Thành chỉ là người đứng ra nhận tên Nguyễn Ái Quốc.
Nguyễn Tất Thành, xa nước quá lâu, sống vất vả ở trên tàu, rồi biệt lập ở Luân Đôn, mới sang Pháp, không có đủ điều kiện thông tin về tình hình trong nước, lại không đủ kiến thức và Pháp văn, nên chỉ có thể giữ vai trò khiêm tốn: học Pháp văn, giữ sổ sách, tập viết mấy dòng tin tức, in và phát truyền đơn. Nhưng vì muốn trở thành chính khách, Nguyễn Tất Thành nhận tên Nguyễn Ái Quấc.”
Bản án chế độ thực dân Pháp“ có thể được coi là một sáng tác tập thể, mà Nguyễn Thế Truyền làm „chủ biên“ và viết lời giới thiệu. Cuốn sách in năm 1925, sau khi Nguyễn Tất Thành đi Nga hai năm. 1946, in lại lần đầu ở Hà Nội.
Trong hồi ký Trần Dân Tiên, viết khoảng 1948, Hồ Chí Minh không nói gì đến cuốn Đông dương (1923-1924),  chắc ông không biết có cuốn sách này. Đông Dương cùng bố cục như Bản Án chế độ thực dân Pháp, nhưng lời văn điềm đạm hơn, gần với lối viết của Nguyễn An Ninh và Phan Văn Trường. Điểm chung của hai tác phẩm là cùng dùng những mẩu chuyện, những nhân chứng trong các bài ký tên Nguyễn Ái Quốc. Đông dương nói đến tình trạng ở nước ta, còn Bản Án chế độ thực dân Pháp viết chung cho nhiều dân tộc.
Về „Bản án chế độ thực dân Pháp“ Hồ Chí Minh chỉ nói một câu: „“Ông Nguyễn chỉ viết một quyển sách duy nhất là quyển: „Bản án chế độ thực dân Pháp“; quyển này gồm những tài liệu chống thực dân Pháp, trích trong những sách của người Pháp viết để ở thư viện quốc gia“. (Trần Dân Tiên, trang 37).
Việc ông cho rằng: „quyển này gồm những tài liệu chống thực dân Pháp, trích trong những sách của người Pháp viết để ở thư viện quốc gia“, chứng tỏ ông chưa đọc „Bản án chế độ thực dân Pháp“ khi ông viết dòng chữ này, và ông đã vô tình hạ giá tác phẩm: chẳng có cuốn sách nào của người Pháp lại viết về tội ác của một thành phần dân tộc mình, như thế, lưu trong thư viện, để cho ông chép lại.

Nghiên cứu và tìm hiểu “Nhân Văn Giai Phẩm “ ở phương diện Chính trị-Lịch Sử chúng ta cần nhắc đến người trí thức có vai trò trong lịch sử và cũng là nạn nhân vụ án “ Nhân Văn Giai Phẩm “: Nguyễn Hữu Đang
26
Theo Nhân Văn Giai Phẩm –chương 9- Nguyễn Hữu Đang

(1913-2007):
Nguyễn Hữu Đang tham gia Chính phủ lâm thời mở rộng, cấp bậc thứ trưởng (Bộ truyên truyền). Được cử làm trưởng ban tổ chức ngày lễ tuyên bố độc lập 2/9/1945.
Từ tháng 10/1945 đến tháng 12/1946: Thứ trưởng bộ Thanh niên, Chủ tịch uỷ ban vận động mặt trận văn hoá. Là người cộng sản, nhưng Nguyễn Hữu Đang luôn luôn tự do trong hành động và tư tưởng của mình. Ông đã đứng lên lãnh đạo phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, đã tạo được một thời kỳ sôi nổi, trong vòng bốn tháng, trí thức và văn nghệ sĩ, dám nói, dám viết, những điều mình nghĩ, dám chủ trương cải tiến xã hội Việt Nam thành một nước dân chủ theo đà tiến của thế giới bên ngoài. Là cột trụ của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, Nguyễn Hữu Đang đã bị bắt, bị cầm tù, bị quản thúc và mất quyền tự do phát biểu trong 59 năm, từ tháng 4/ 1958 đến tháng 2/2007, khi ông mất.

Có thể thấy từ  59 năm của cuộc đời ông Nguyễn Hữu Đang cho đến nay trong  xã hội Việt Nam quyền tự do ngôn luận vẫn không đổi khác.

Bản Án “ Nhân Văn Giai Phẩm “ không chấm dứt vào thời điểm “Nhân Văn Giai phẩm “ ra đời mà kéo dài  đến ngày nay , dưới nhiều hình thức khác nhau.
Báo chí Việt Nam gần như chỉ còn những bồi bút,viết một chiều theo đúng chính sách,chủ trương của Đảng ,đúng theo chỉ đạo do Tố Hửu soạn ra từ 1958.

Trong thời đại Internet dù  rất khó tướt đoạt quyền tự do ngôn luận của người dân và che dấu tất cả như xưa , nhưng nhà cầm quyền độc tài vẫn tìm cách kết án, buộc tội nhiều Blogger, phóng viên, cùng những người trí thức có can đảm nói tiếng nói đối lập .

Việc cầm tù vô thời hạn những nhà viết Blog như : Nguyễn văn Hải

( Điếu Cày); Blogger Anh ba Sài Gòn Phan Thanh Hải và Blogger Tạ Phong Tần, chủ nhân blog Sự thật và Công Lý, cũng như việc trấn áp ,trù dập Blogger TS. Nguyễn Xuân Diện vừa qua đã cho thấy  vụ án Nhân Văn Giai Phẩm vẫn kéo dài và tiếp diễn khi Đảng CS VN còn nắm quyền cai trị đất nước.

Nếu như „Đêm giữa ban ngày „của nhà văn Vũ Thư Hiên cho chúng ta biết những khoảng tối tăm “lấy đêm làm ngày“trong giai đoạn Đảng CS VN nắm quyền thì Nhân Văn Giai Phẩm của nhà văn Thụy Khuê cho thấy  số phận con người trí thức và đời sống nhân văn trong chế độ CS như thế nào .

Cả hai quyển sách như bổ sung cho nhau để cùng đưa ra ánh sáng những sự thật trong lịch sử đã bị dấu kín .

Cho thấy rõ bản chất chế độ CS và con người theo chủ nghĩa CS .
Cho thấy cả dân tộc đã bị lừa dối .
Qua đó giúp người dân tiến đến bước xóa bỏ thần tượng giả mạo , biết độc lập tư duy,không học tập một chiều tư tưởng một cá nhân có quá nhiều nghi vấn trong tiểu sử .

Thấy rõ con đường do Hồ Chí Minh đã dẫn dắt cả dân tộc đi theo là con đường lầm lạc ,giết hại hàng triệu đồng bào và đưa đất nước lệ thuộc vào Trung quốc như ngày nay.

Từ đó người dân sẽ đứng lên đòi hỏi chế độ đổi mới ,để  thoát cảnh „Đêm giữa ban ngày“ , đạt nguyện vọng mơ ước về một chân trời tự do trong nghệ thuật :
Bao giờ nghe được bản tình ca
Bao giờ bình yên xem một tranh tĩnh vật
Bao gìờ
Bao giờ chúng nó đi tất cả
Những con người không phải của chúng ta
Vẫn ngày ngày ngang nhiên sống…“
( Văn Cao –Anh có nghe thấy không)
Nỗi khát vọng tự do , niềm mơ ước được cởi trói của văn nghệ sĩ trong chế độ độc tài đảng trị qua bài „Anh có nghe thấy không“ của Văn Cao cho thấy Trí thức ,văn nghệ sĩ yêu sự thật ,công lý,tự do sẽ đứng lên đấu tranh để thoát khỏi số phận làm nạn nhân  những vụ án „Nhân Văn Giai Phẩm“

Dương Hoàng Mai
Munich.
12.06.2012

Nhân Văn Giai Phẩm &Vấn Đề Nguyễn Ái Quốc, biên khảo của Thụy Khuê,có thể đặt mua theo địa chỉ sau:
Tủ Sách Tiếng Quê Hương
P.O.Box 4653
Fall Church, VA 22044


 

Advertisements

Hãy ghi ý kiến, thắc mắc của bạn vào đây:

Trage deine Daten unten ein oder klicke ein Icon um dich einzuloggen:

WordPress.com-Logo

Du kommentierst mit Deinem WordPress.com-Konto. Abmelden / Ändern )

Twitter-Bild

Du kommentierst mit Deinem Twitter-Konto. Abmelden / Ändern )

Facebook-Foto

Du kommentierst mit Deinem Facebook-Konto. Abmelden / Ändern )

Google+ Foto

Du kommentierst mit Deinem Google+-Konto. Abmelden / Ändern )

Verbinde mit %s