NGUYỄN CHÍ THIỆN III

Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện

Tình cảm trong thơ Nguyễn Chí Thiện

Trần Phong Vũ

Nếu chỉ ngừng lại ở ngôn ngữ đanh thép, quyết liệt của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện thuở sinh thời trong những lần lên tiếng ở những cuộc hội thảo hoặc biểu tình chống cộng đó đây, người ta không khỏi nghĩ ông là người khô khan, cứng cỏi, thiên trọng về lý trí mà thiếu vắng sự rung động của con tim. Nói cách khác, là người lạnh lùng, vô cảm!
Định kiến này được hỗ trợ thêm với những ai luôn bị ám ảnh bởi những ngôn từ, ý tưởng chém đanh chặt sắt của tác giả Hoa Địa Ngục xuyên qua những bài thơ hài tội Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác-Lê do họ Hồ du nhập Việt Nam đầu thế kỷ trước. Cụ thể là những vần thơ, những bài viết với thứ ngôn ngữ bỗ bã, khô nhám, không có tu từ văn chương (như lời thú nhận của chính nhà thơ Nguyễn Chí Thiện), cực tả những hành vi bạo ngược, tàn nhẫn, phi nhân tính có một không hai của chế độ ngục tù cộng sản tại miền Bắc rải rác trong thi phẩm Hoa Địa Ngục và tập truyện Hỏa Lò của ông.

Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện

Nguyễn Chí Thiện có thể thao thao bất tuyệt, nói chuyện hàng giờ dường như không biết mệt. Những cử tọa và khán thính giả thường theo dõi ông trong những lần ông được mời lên tiếng trước đám đông hoặc tham gia các buổi phỏng vấn, hội thảo trên các làn sóng phát hình, phát thanh, đều có nhận xét chung như thế. Ông nói mà không cần văn bản, dù chỉ là một dàn bài sơ lược hoặc một vài gợi ý nhỏ trên giấy.

Nhưng, trong cuộc sống bình thường ông là người thâm trầm, ít nói và gần như không mấy ai thấy ông cười. (Là người có mối liên hệ lâu dài với Nguyễn Chí Thiện, những lần làm MC trong các buổi giới thiệu sách, trước và sau khi mời tác giả Hoa Địa Ngục lên phát biểu, với giọng khôi hài diễu cợt nửa đùa nhửa thật, nhà báo Đinh Quang Anh Thái thường thách đố cử tọa nếu ai có tài chọc nhà thơ họ Nguyễn khiến ông cười sẽ có thưởng!). Trong hàng trăm, hàng ngàn tấm ảnh chụp Nguyễn Chí Thiện trên mạng, trên báo, họa hiếm người ta mới bắt gặp một nét cười vui thoáng hiện trên khuôn mặt vốn dĩ khắc khổ với cặp mắt ngơ ngác mang mang nét buồn u uẩn của ông.
Có lẽ vì những ấn tượng trên đây mà nhiều bà con, kể cả những người vốn có thiện cảm với tác giả Hoa Địa Ngục xuyên qua lập trường chống cộng dứt khoát không dời đổi –đúng hơn là chống cái ác- của nhà thơ, vẫn mang cái ám ảnh khó dứt bỏ, nghĩ ông là người khô khan, gỗ đá. Có người đã không ngần ngại nói lên cái cảm giác sờ sợ khi đến gần ông! Cuối cùng, để tìm ra một lý do, người ta cho rằng vì bị cộng sản cầm tù quá lâu và những đòn thù ác độc mà ông và đồng bào ông phải chịu đã biến ông thành con người vô cảm như thế!

Nhưng nếu chịu khó đọc kỹ toàn bộ thi ca của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện trong Hoa Địa Ngục, nhất là nếu có dịp gần gũi, thân cận, được chia sẻ tâm tình để hiểu rõ con người thực của ông, người ta sẽ nhận ra ở ông còn ẩn giấu một mẫu người khác.
Đó là mẫu người giầu tình cảm, giầu lòng nhân ái.
Là người tình cờ quen biết tác giả Hoa Địa Ngục trong nhiều năm, được ông quý mến, tin cậy, coi là bạn, bản thân người viết những giòng này có thể nói thẳng mà không sợ bị cho là ngoa ngôn rằng mình đã được may mắn tận tai nghe ông phơi bày cho thấy những ngõ ngách bí ẩn nhất trong cuộc đời ba chìm bảy nổi của ông. Đấy là những trải nghiệm đớn đau, uất nghẹn trong mấy chục năm tù đày, những thời khoảng tự do ngắn ngủi, tạm bợ khi được phóng thích nhưng vẫn bị săn đuổi rinh mò thường xuyên. Đấy là những mảnh tình câm, những môi tình một chiều chưa kịp trao lời hẹn ước đã phải chia xa. Và đấy cũng bao gồm cả những mối liên hệ tình cảm với người thân kẻ thuộc, với cha mẹ, anh chị em cùng những biến chuyển trong cuộc hành trình tìm về nguyên lý sự sống. Vì thế, với cá nhân tôi, cái vẻ khắc khổ, lạnh lùng đến gần như khinh mạn, vô cảm thường thấy nơi Nguyễn Chí Thiện chỉ như mặt nổi của một tảng băng sơn giữa đại dương. Dưới đó chìm sâu cả một trời tâm sự, dĩ nhiên là nhiều khổ đau, phiền muộn nhưng cũng le lói những niềm vui chợt đến rồi chợt đi.
Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện

Trên những đoạn đường đi về hai chiều ngót 200 dậm nối liền Santa Ana – San Diego, nhất là những lần cùng ông ngồi xe đò từ nam California đi San Jose, Sacramento, San Francisco, và ngược lại trong 5, 7 tiếng đồng hồ một lượt đi, hoặc những buổi thức khuya trên căn phòng nhỏ lầu 10 trong cư xá ông cư ngụ, chúng tôi đã trao đổi, tâm tình với nhau nhiều điều. Ông tỏ ra có một trí nhớ khác người khi kể về những kỷ niệm thời thơ ấu ở Hànội, ở Hải Phòng và những tỉnh miền cao mà ông có dịp đi qua. Qua lời kể lại theo hồi ức của ông về cuộc sống lang thang ở thành phố cảng khoảng cuối thập niên 50, tôi thoáng bắt gặp lại vài chi tiết vụn vặt trong bài viết của giáo sư Đỗ Mạnh Tri dựa vào cuốn tiểu thuyết “Con chiên lạc bày của Chúa” của tác giả Trần Tự do nxb Thanh Niên ấn hành ở Hànội năm 1992.
Một buổi tối khi thành phố đã lên đèn, ngồi tư lự bên tách trà ngoài ban công cư xá, dương cặp mắt lồi, đờ đẫn, hoang dại, không kính ngó mông xuống một vùng thành phố ngập tràn ánh sáng hun hút dưới kia, ông âm thầm tâm sự về nỗi nhớ thương song thân trong những tháng năm dài trong ngục tù cộng sản. Ông nói:

– Không nỗi buồn đau nào dằn vặt tôi bằng những buổi chiều mưa giông trong tù nhớ về những bậc sinh thành rồi nhìn xuống thân xác ốm o, tật bệnh của bản thân. Anh không thể hiểu được đâu. Chính những giây phút ấy ý tưởng tự sát đả nảy sinh trong tôi mãnh liệt. Nhưng rồi cũng chính vì tưởng nghĩ tới thày mẹ tôi đang ngày đêm vò võ nhó thương và mong mỏi ngày về của đứa con trai xa vắng mà tôi có thể sống sót, có thể vượt qua được những phút giây tuyệt vọng nhất. Nghe có vẻ mâu thuẫn, nhưng đấy là sự thật. Ngày hay tin bà cụ tôi mất cũng đã gây cho tôi một cơn khủng hoảng lớn…
Những lời tâm sự bất chợt như thế thường kết thúc rất nhanh. Tuồng như mỗi lần lội ngược dòng thời gian lạc vào vũng lầy tình cảm riêng tư ông thường tỏ ra xúc động mặc dù cố nén. Ông rút mẩu thuốc lá cũ châm hút vài hơi, đứng dậy, nhìn đồng hồ rồi hối thúc tôi về, không quên nhắc lại câu nói quen thuộc.

– Khuya rồi, anh nhớ lái xe cẩn thận.

Ra khỏi phòng, tôi tính kéo cửa đóng lại nhưng ông chậm rãi bước doc theo hành lang dài tới bên cầu thang máy. Trên đường một mình lái xe về nhà, nhớ lại lời tâm sự của ông, thoáng nhớ lại tâm trạng xót xa của tôi hồi năm 1991 khi nhận được điện tín từ Sàigòn của người em gái cho hay thân mẫu tôi vừa từ giã cõi đời sau 88 năm tại thế. Tôi nghĩ thầm, dẫu sao nỗi xót xa mất mẹ của một người đang sống yên ổn bên vợ con trên đất nước Hoa Kỳ cũng chỉ là hạt cát so với tâm trạng đớn đau, quặn thắt của bạn tôi trong cảnh tù đày khi chợt hay tin người mẹ thân yêu ở quê nhà đã ra người thiên cổ!
Trong chuyến xe đêm trở lại Quận Cam từ miền bắc California khoảng 6, 7 năm trước, ông đã vui miệng kể lại những mối tình vụn thuở thiếu thời. Điều lạ là hầu hết đều là những mảnh tình câm.
Tôi hiểu sự thành thật của bạn nhưng vẫn hỏi lại với giọng diễu cợt thì được nghẹ ông hồn nhiên thú nhận.
– Thuở ấy tôi to xác nhưng ngu ngơ như một đứa trẻ con. Tất cả chỉ là những tình cảm đơn phương. Thật kỳ quái và cũng thật ngớ ngẩn! Mình thích người ta nhưng có bao giờ dám mở miệng cho nên làm sao biết người ta có yêu mình không?

Dưới bóng đèn mờ ảo trong lòng xe đò, nhìm gương mặt xương xẩu, nhân trung nhô cao vì hàm răng trên hơi vẩu, tôi thoáng bắt gặp nét cười méo mó, họa hiếm của ông.

Vui miệng ông kể tiếp về một cuộc gặp gỡ tình cờ với một thiếu nữ năm xưa đã để lại trong ông nhiều tiếc nuối sau này.
– Cũng trong một chuyến xe đò chở khách như đêm nay. Khác chăng là chiếc xe ọp ẹp, thiếu tiện nghi tại miền Bắc VN thời cộng sản. Đó là chuyến xe từ Hànội đi Lạng Sơn trước thời gian tôi bị CS bắt giam lần thứ nhất. Theo trí nhớ của tôi, đấy là một người con gái ngây thơ, duyên dáng và có một nhan sắc đẹp lạ thường. Ngồi cạnh nhau suốt đoạn đường dài, tôi bị nàng hớp hồn ngay từ giây phút đầu tiên. Sau mấy lần xe ngừng đón khách và để mọi người ăn uống, làm vệ sinh, câu chuyện giữa hai chúng tôi trở nên tự nhiên hơn. Điều đáng tiếc là nó vẫn chỉ quẩn quanh những chuyện vu vơ, vớ vẩn. Trong một lần xe ngừng, quả thật trong thâm tâm tôi muốn mời nàng vào quán dùng bữa nhưng nghĩ tới khoản tiền còm cõi trong túi, tôi đành cắn răng không dám mở lời.

Xe cập bến, nhìn cặp mắt quyến luyến của người con gái khi chia tay, tôi đứng như trời trồng. Dưới ánh đèn vàng vọt của bến xe, nhìn theo bóng dáng yêu kiều của nàng dần khuất đàng xa mà lòng bâng khuâng nuối tiếc.

Ông nói tiếp, giọng đùa vui nhưng không giấu được âm sắc ngậm ngùi.

– Cho đến nay, mấy chục năm sau, đi nhiều nơi, được gặp gỡ, tiếp xúc với nhiều người đàn bà đẹp, nhưng tôi vẫn chưa thấy ai có nét đẹp sang cả, hồn nhiên, nhất là ở cặp mắt, làn môi của cô bé thuở thiếu thời ấy. Khi bất chợt rơi vào trạng thái yêu mê, người ta trở nên ngu ngơ, nhút nhát lạ kỳ. Anh biết không? Hơn nửa ngày đường ngồi cạnh nhau, nói chuyện trời trăng. Ấy vậy mà cho tới lúc con bé giã từ tôi vẫn chưa biết tên cô ta, gốc gác ra sao, nhà cửa ở đâu, nói gì đến chuyện tiến xa hơn nữa? Đến khi nhớn nhác chạy tìm thì hình bóng người đẹp chỉ còn trong mộng!

Vẫn giọng cợt đùa, tôi huỵch toẹt hỏi bạn.

– Thế sau này lớn khôn, rút kinh nghiệm xưa, thời gian còn ở trong nước cũng như khi ra hải ngoại, trong mối quan hệ với người khác phái, anh thấy có tiến bộ hơn không?

Chờ xe ngừng bánh ờ một trạm nghỉ, sau khi nối gót mọi người bước xuống, ông rút điếu thuốc hút vài hơi, như thói quen, giập tắt đốm lửa đỏ cất mẩu thuốc còn lại vào bao rồi lên giọng hóm hỉnh, chậm rãi trả lời.

– Khi còn ở VN cũng như khi ra ngoài này, tuy liên hệ của tôi với đàn bà đã khôn hơn, nhưng rút cuộc vẫn chỉ là chuyện lỡ bến, lầm ga thôi!

Ngập ngừng giây lâu cho đến khi thấy tôi nhìn với cặp mắt dò hỏi, ông tiếp.

– Hai lần trước được thả ra khỏi tù nhưng vẫn bị con mắt cú vọ của đảng và nhà nước dòm ngó nên chẳng dám dây dưa, lôi thôi. Tuổi trẻ hừng hực, thấy gái đẹp, hợp nhãn, thèm rớt rãi nhưng có làm ăn gì được đâu! (cười nhẹ) Mà thực tế có ai dám làm thân với một tên vừa nghèo xác lại vừa ra khỏi tù, còn đang thời kỳ quản chế! Đến lần được phóng thích cuối cùng vào đầu thập niên 90, nhờ những thay đổi bên Đông Âu, đời sống đỡ gò bó, ngột ngạt hơn. Tuy vậy, do những ồn ào, đồn thổi về chuyện tập thơ của tôi bên ngoài vọng về, thêm vào tâm trạng nôn nóng, hy vọng được ra khỏi nước, mong nối tiếp con đường tranh đấu nên tôi cũng chẳng thiết tha gì. Cho đến khi tới được Hoa Kỳ, ở Pháp mấy năm rồi cắm lều tại đây…

Ông bỏ lửng câu chuyện.

Trở lại xe tiếp tục đoạn đường cuối, ông có dáng mệt mỏi. Ngả đầu vào lưng ghế, kéo lệch chiếc mũ dạ để che ánh đèn, ông nói nhỏ.

– Tôi muốn chợp mắt một tí. Di chuyển đường dài lại nói chuyện nhiều nên tôi hơi nhọc![1]. Còn cả tiếng nữa mới tới Bolsa. Anh cũng cố ngủ đi.

Tìm vào nội dung thi phẩm Hoa Địa Ngục do tổ hợp xuất bản miền Đông Hoa Kỳ ấn hành năm 2006, người viết thấy được những gì trong đời sống tình cảm của cố thi sĩ Nguyễn Chí Thiện?

Một cách tổng quát, tình cảm trong thơ ông có thể quy vào ba khía cạnh.

Trước hết là tình gia đình; thứ đến là tình yêu trai gái; và sau chót là tình lân mẫn đối với con người, với đời sống.

Tình gia đình.

Ngay từ đầu thập niên 60 khi phải ngồi tù, Nguyễn Chí Thiện đã có những bài thơ diễn tả tâm tình nhớ thương cha mẹ ông. Bài “Có những chiều mưa…” viết vào năm 1961, thời gian đi tù lần đầu, tác giả đã trạnh lòng nghĩ tới hai thân. Trong những chiều mưa rừng lạnh cóng, ngồi trong nhà tù ngó mông vào rặng núi xa xa, từ đáy lòng ông bật ra những lời thơ nhung nhớ:

Những chiều đó lòng tôi xao động

Nhớ Mẹ Cha vò võ trời xa

Xót thân tù đơn chiếc, tiếc ngày qua!…

(“Có những chiều mưa…” trang 83 HĐN – năm 61)

Giữa những tháng ngày bị đọa đày, khốn khó trong cảnh đời tù ngục, nhớ về các đấng sinh thành đang sống vò võ nơi quê nhà yêu dấu, ông viết bài “Tôi sống mãi…” với những câu mở đầu sau đây:

Tôi sống mãi những ngày nồng nặc

Cuộc đời trong lòng cống sặc mùi hôi

Tháng năm dài sền sệt qua trôi

Thương tiếc mảnh trời xanh, héo hắt…

Từ tâm tình tưởng tiếc mảnh trời xanh ngày cũ giờ chỉ còn là một kỷ niệm hắt hiu, buồn chán, Nguyễn Chí Thiện cảm thán nối tiếp vần thơ:

Bao năm rồi tôi không phải là tôi

Thân bất động vì tình thương gia quyến

Ôi, những buổi hoàng hôn xao xuyến

Bóng Mẹ già cầu nguyện đau thương

Bóng hình Cha thui thủi bên đường

Lê chân ốm trên phố phường u ám…

(“Tôi sống mãi…” trang 89/90 HĐN – năm 61)

Bài thơ “Đêm nay…” được sáng tác một năm sau đó đã nói lên tất cả tâm sự ngậm ngùi của người thơ nghĩ về Cha Mẹ vào một đêm đông lạnh lẽo.

Đêm nay đông đã tràn về

Từng cơn gió lạnh tái tê đất trời

Rừng cây trút lá tơi bời

Non xa quạnh vắng, sao trời mờ sương

Chạnh lòng nhớ tới quê hương

Cách xa kể đã gió sương mấy mùa?

Buồn thay số phận thiệt thua!

Sa chân một bước, xót chua một đời

Mẹ Cha ở chốn chân trời

Thương con chắc hẳn lệ rơi đã nhiều

Tuổi già sống được bao nhiêu

Mà đau khổ tới xế chiều chưa thôi

Đời con, con đã liệu rồi

Sống hay thác, cũng thế thôi, khác gì!

Chỉ thương Cha Mẹ một khi

Con nằm dưới đất lấy chi khuây sầu?

Ốm đau hai bóng bạc đầu

Sớm hôm thui thủi canh thâu nghẹn ngào

Đêm nay cây gió dạt dào

Trăng lu khuất bóng, lòng sao đượm buồn!

(“Đêm nay…” trang 93 HĐN – năm 62)

Tháng ngày trôi qua, trôi qua mãi trong kiếp sống của người tù không án, không hẹn ngày về, Nguyễn Chí Thiện xót xa nghĩ tới những kỷ niệm êm đềm ngày cũ với hình ảnh thân thương của mẫu thân trong những ngày giỗ tết.

Mẹ tôi trong những ngày giỗ chạp

Thường ngồi chắp tay cầu khấn giờ lâu

Chiếc áo hoa hiên cũ đã bạc màu

Tôi chỉ thấy Mẹ dùng khi lễ bái

Đời của tôi nhiều khổ đau oan trái

Mẹ bao giờ cũng cầu nguyện cho tôi

Đứa con trai tù tội mấy phen rồi

Hàng nước mắt chảy dài trên má Mẹ.

Ngồi bên Mẹ, tôi thấy mình nhỏ bé

Tình thương yêu của Mẹ lớn bao nhiêu!

Mẹ ơi, lòng con chỉ nguyện một điều

Được gần mãi, đừng lìa xa khỏi Mẹ

Giờ hẳn Mẹ mỗi khi ngồi cầu lễ

Cho đứa con tù bệnh giữa rừng sâu

Chiếc áo hoa hiên cũ đã bạc màu

Phải đẫm ướt biết bao hàng nước lệ!

(“Mẹ tôi…” trang 108 HĐN – năm 63)

Từ kỷ niệm thân thương của những ngày tháng cũ thắp thoáng “chiếc áo hoa hiên bạc màu” quen thuộc mà Mẹ ông thường mặc trong những ngày giỗ tết, nhất là trong những giờ phút lắng đọng tâm hồn nghĩ tới người con xa cách trong lời nguyện cầu tha thiết… người thơ cảm thông được tấm lòng bao la như trời biển của song thân ông. Bài thơ “Biết đến bao giờ” sau đây đã được viết ra trong tình huống ấy. Nó khơi gợi trong ông những giấc mơ thật tầm thường. Đó là được trở về với căn gác nhó, với bữa cơm rau miễn sao gần Thày, gần Mẹ để thấy lại trong hốc mắt các ngài một niềm vui. Tầm thường, nhỏ bé như thế nhưng không dễ gì có thể thực hiện khi tác giả nhìn xuống thân phận mình, một tù nhân không án, đang bị “lũ tàn hung nắm cuộc đời!

Dù vậy ông vẫn chưa nguôi niềm hy vọng được trở về mái nhà xưa để cùng Cha Mẹ rau cháo qua ngày. Giấc mơ của tác giả cũng là giấc mơ của hàng ngàn hàng vạn tù nhân lương tâm giữa lòng đất nước ta, hôm qua và hôm nay.

Biết đến bao giờ con trở lại

Gia đình xum họp bữa cơm rau

Được thấy, được nhìn trong hốc mắt

Thày gầy, Mẹ yếu một niềm vui!

Con biết đời Thày, đời Mẹ khổ

Thân già cam vất vả ngày đêm

Nhưng làm sao, biết làm sao được!

Khi chính lòng con cũng dập vùi

Trong những đêm dài thao thức tỉnh

Con nằm cho tất cả buồn đau

Vò xé lòng con chừng đứt đoạn

Con sợ rồi đây nhỡ tuổi già…?!?!

Ôi, trán mồ hôi con vã lạnh!

Sau phút tàn canh chợp mắt nằm

Con trót mơ về căn gác nhỏ

Bên Thày, bên Mẹ sống thương yêu

Nhưng làm sao, biết làm sao được!

Khi lũ tàn hung nắm cuộc đời!

Con vẫn nằm mơ căn gác nhỏ

Bên Thày, bên Mẹ, bữa cơm rau!

(“Biết đến bao giờ” trang 135/136 HĐN – năm 66)

Trong những tháng ngày dài mòn mỏi giữa nỗi oan khiên tức tưởi của cảnh tù đày, từ tâm trạng ngóng trông tin tức gia đình từng phút từng giây của chính mình, nhà thơ Nguyễn Chí Thiện cảm thông được đến tận cùng nỗi lòng nôn nóng, buồn bực đến xót xa, đau đớn của song thân khi vắng bặt tin người con trai thứ đang vướng chân trong vòng lao lý. Phải chăng khi viết bài “Thư nhà” nơi trang 153 HĐN vào năm 67, tác giả đã vận dụng trí tưởng tượng để cho hồn thơ hóa thân tháp nhập vào cảnh ngộ của Thày Mẹ ông viết thư kể lể nỗi lòng với người con trai xa vắng?

Nội dung “Thư Nhà” của nhà thơ họ Nguyễn có thể được coi như bức tâm thư mẫu vẽ nên tâm trạng và cảnh ngộ của những bậc làm cha làm mẹ tuổi già sức yếu có con đi tù biền biệt không có ngày về trên đất nước ta trong thời mông muội cộng sản. Sau khi giãi bày nỗi nhớ mong vì đã lâu vắng bặt tin con, trong thư, người cha già nói qua cho con ông rõ tình trạng suy yếu về thể chất của ông bà và nỗi khao khát được thấy con có ngày thoát vòng tù tội, về lại mái nhà xưa, xum họp với hai thân để sớm hôm định tỉnh.

Đã lâu rồi không nhận được thư con

Mẹ Thày mong tin con quá!

Thày kể qua cho con rõ cảnh nhà

Mẹ bây giờ hai mắt mù lòa

Hôm sớm trong nhà, quanh quẩn!

Thày gần như lẩn thẩn!

Bước đi đờ đẫn run chân!

Viết phong thư phải nghỉ đến dăm lần!

Mong con về đỡ đần chăm sóc

Nghĩ tới con Mẹ Thày lại khóc!

Không biết con còn ở nơi trại cũ

May là đã chuyển đi đâu?

Mẹ vẫn nguyện cầu

Cho conđược bình yên, không ốm yếu

Nhận được thư này con liệu

Viết về, Thày Mẹ đợi tin con

Ôi, xưa cũng vì con còn trẻ dại

Suy nghĩ sai lầm, kêu ca khổ ải

Con phải thực lòng hối cải

Đảng mới khoan hồng tha tội cho con!

Có thế Mẹ Thày mới mong thấy mặt con

Trước lúc không còn sống nữa!

Mẹ Thày chẳng biết nói gì hơn nữa

Chỉ tha thiết xin con giữ gìn sức khoẻ

Tuổi con còn trẻ

Con còn phải sống con ơi!

Thày Mẹ vẫn tin ở Đất, ở Trời

Không nỡ hại người lương thiện

Hôm vừa qua Thày đã ra bưu điện

Gửi cho con đôi tất của Thày

Thuốc Rimifon con hỏi xin thày

Phải đợi tiền hưu trí quý sau

Thày sẽ mua gửi con dùng, cho con đỡ ốm đau

Thôi cuối cùng, Thày mong con phấn đấu

Lao động đi đầu, thi đua xây dựng trại

(“Thư nhà…” trang 152/153 HĐN – năm 67)

Tình thương nỗi nhớ ngày đêm chất chồng, nung nấu tâm can, đã biến thành những cơn huyễn mộng chắp cánh cho trí tưởng tượng tạo thành những vần thơ đưa thi nhân tìm vế quê cũ để thấy lại bóng hình yếu đau tật bệnh của Mẹ Cha đang kéo dài kiếp sống quạnh quẽ dưới mái tranh nghèo.

Nhắm mắt là con nhìn thấy ngay

Mẹ mắt mờ run bước cạnh Thày

Căn gác âm thầm ngao ngàn quá!

Hai bóng già nua tối lại ngày

Mơ về căn gác yêu thương ấy

Tan nát lòng con lắm, Mẹ Thày

Đau ốm, hao mòn, đôi mắt lóa

Đêm ngày trông đợi đứa con xa

Giam hãm trong rừng cây vách đá

Con vẫn hình dung thấy cảnh nhà

Lệ ức hai hàng hoen ướt má

Mẹ khóc vì con mãi, Mẹ già

Thày hỡi, con hình dung rõ quá

Thờ thẫn vào ra, nét mặt gầy!

Hình bóng muôn vàn đau xót ấy

Quặn buốt lòng con tới đọa đày!

(Nhắm mắt…” trang 160 HĐN – năm 68)

Mùa Xuân năm 1968, sau cánh cửa đen ngòm của nhà tù cộng sản, người thơ ngó xuống thân phận tù nhân không có ngày về của mình và không khỏi đau đớn nghĩ tới cảnh ngộ cô đơn không người săn sóc của song thân giữa cảnh Đông tàn Xuân tới.

Có người Mẹ gầy nhom, mắt lóa gần lòa!

Có người Cha quá già, quá yếu

Có người con bất hiếu là tôi!

Hết tù lại tội!

Bệnh ốm không nuôi nổi thân mình!

Trong cảnh ngộ trái ngang, bi phẫn ấy, ông chì con cách cầu mong tấm lòng thương bao la của Cha Mẹ thấu hiểu cho ông mà thôi.

Ôi, người Mẹ nặng tình yêu dấu!

Ôi, người Cha hiểu thấu lòng con!

Ngày con đầy bụi đất trở về

Căn gác

Lá rừng xao xác canh khuya

Bóng cha gầy guộc đứng kia

Phất trần nhẹ đưa lặng lẽ!

Trên bìa sách bựi bàn con

Bóng Mẹ già sấu muộn héo hon

Quờ tay rờ mó

Nạm tóc củ hành đánh gió lưng con

Chiều âm thầm lạnh tắt trên non

Không còn được nữa…

Những tình xưa thương mến vô vàn!

Gió núi mưa ngàn lạnh buốt

Rau rừng ngoạm nuốt thân trâu

Kiếp sống về đâu?

Bốn phía sậy lau một màu hoang xám

Đi về những đám tang câm

Trong ly tan thương tâm

Chết choc âm thầm

Con vẫn nuôi mầm mơ ước

Xoay vần thuở trước xa xăm

Mịt mù trời đất tối tăm

Mẹ Thày sống được bao năm trên đời!

Con sợ nỗi đổi rời đau đớn!

Ngày về

Rợn buốt tim gan

(„Có người Mẹ…” trang 169/170 HĐN – năm 68)

Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện

Ngày Nguyễn Chí Thiện hay tin Mẹ ông qua đời đã dìm ngập tâm tư đau xót tuyệt vọng của ông vào tận cùng nỗi nhớ. Ông thảng thốt kêu lên hai tiếng “Mẹ ơi!” để trở thành tiêu đề cho những vần thơ khóc Mẹ. Niềm mơ ước ngày đêm thoát cảnh tù đày chỉ vì mong được nhìn thấy mặt hai thân. Nay Mẹ ông đã trở về cát bụi, trong một thoáng, nghỉ tới ngày thân phụ cũng vĩnh viễn ra đi, ông muốn buông xuôi tất cả mọi ước mơ, không còn thiết tha gì nữa.

Mẹ ơi!

Mẹ đã mất rồi!

Trái đất không còn có Mẹ

Mẹ chẳng bao giờ còn thấy mặt con!

Còn khóc nữa!

Con không cần ra tù nữa!

Nếu Thày không còn sống, Mẹ ơi!

Mẹ đã mất rồi!

Mãi mãi không còn thấy Mẹ!

Mai hậu đời con cũng hết

Mà vẫn không thấy Mẹ, Mẹ ơi!

(“Mẹ Ơi” trang 201 HĐN – 1970)

Mấy năm sau, thân phụ cố thi sĩ cũng theo mẹ ông đi về bên kia cõi sống.

Năm 76, ông viết bài “Lòng vẫn nhớ…” gợi lại tình thương, nỗi nhớ mỗi lần bị bắt phải chia biệt Cha già, Mẹ yếu.

Lòng vẫn nhớ làm sao cái ngày lạnh đói

Hành trang một gói lên đường

Giữa khoảng đêm trường rời bỏ quê hương

Rời bỏ gia đình

Tình thương đứt ruột!

Tuy vậy, tác giả có thể tự an ủi mình vì vẫn còn có hy vọng một ngày nào đó được tái ngộ người thân. Nhưng, bây giờ thì hết, hết thật rồi. Giản dị vì sau người mẹ dấu yêu, thân phụ ông cũng đã ra người thiên cổ!

Thôi rồi!

Đời đi suốt từ đây

Vĩnh biệt từ đây

Vĩnh biệt!

Ngày về nào biết khi nao?

Cửa sắt tù lao

Khép chặt!

Cha Mẹ già sống trong héo hắt!

Thương đau!

Lần lượt cùng nhau khuất bóng

Chẳng còn trông ngóng

Đưa con tù vô tội

Trong các trại tù tăm tối nhất dương gian!

(“Lòng vẫn nhớ…” trang 247/249 HĐN – năm 1976)

Trên đây là những tình cảm thiết tha, gắn bó của tác giả Hoa Địa Ngục đối với hai đấng sinh thành của ông. Ngoài ra, ông cũng không ngừng nghỉ nhớ tới hai người chị và người anh xa cách sau ngày đất nước chia đôi. Trong phần Ghi Chép Vụn Vặt ở trang 469 HĐN, cố thi sĩ đã để lại mấy vần thơ ngắn ngủi nhưng gói ghém tất cả những ý tưởng chân thành, biết ơn của một người em đối với chị ông:

Trong những năm dài tù tội

Chị hiền thay mặt nuôi em

Đời chị nghèo nuôi thân còn chẳng đủ

Mỗi miếng chị cho là mỗi miếng thương tâm!

(Ghi Chép Vụn Vặt, đoạn 198)

Cũng nơi trang 469, người ta còn được đọc hai đoạn thơ 196/197 có lẽ đã được cố thi sĩ viết sau ngày cha mẹ ông mất. Nhớ về người anh đang biền biệt phương Nam và hai người chị từ lâu không gặp mặt trong khi thân mình vẫn lê lết trong cảnh tù đày, ông trạnh lòng mơ ước một ngày nào đó bốn anh chị em có cơ hội đoàn tụ bên nhau.

Ba chục năm trời không thấy mặt nhau

Non nước chia đôi, rồi tù lao thăm thẳm

Em vẫn mơ ngày tay anh, em nắm

Nước mắt sẽ trào ra, sung sướng, thương đau!

Ruột thịt chia lìa, đớn đau

Gặp nhau, anh chị em mình sẽ khóc

Em vẫn cầu trời cho anh chị em mình có ngày

được ăn bữa cơm đoàn tụ bên nhau

(Ghi chép vụn vặt trang 469 các đoạn 196-197)

Tình trai gái

Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện sống độc thân trọn đời. Trong lúc chuyện trò thân mật chỉ có hai chúng tôi, có lần tôi hỏi phải chăng ngay từ buổi đầu ông đã quyết định không lập gia đình. Trầm ngâm giây lâu, ông chậm rãi trả lời.

– Trừ những nhà tu, có lẽ chẳng mấy ai không muốn có vợ có chồng, có con cái. Cá nhân tôi cũng không có gì khác thường. Trong thời trai trẻ, tôi cũng đã từng yêu vụng nhớ thầm, ươm mơ dệt mộng. Nhưng một phần vì bản tình nhút nhát, không có tài tán gái (thoáng nét cười vui) nên tôi bỏ lỡ nhiều cơ hội để có bồ. Vì trước hết phải có người yêu mới mong lập gia đình phải không nào?

Mồi lại điếu thuốc còn một mẩu ngắn, hút vài hơi trước khi vứt bỏ, ông nói tiếp.

– Cũng vì phải đi tù quá sớm, tuy vài ba lần được tự do nhưng vì ngắn quá lại luôn bị nhòm ngó nên gần như không có thì giờ để tính toán chuyện gia đình. Cũng vì thế phải nói cho thật đúng: tôi là kẻ độc thân bất đắc dĩ. Điều này ít ai hiểu nên thường có thái độ đề cao tôi quá đáng. Ho cho là tôi cố ý chọn đời độc thân để có thể hiến trọn đời mình cho lý tưởng đấu tranh! Láo! Những ai nghĩ như vậy là không đúng!

Với giọng nghịch ngợm tôi hỏi móc.

– Khi còn ở trong vòng kiềm tỏa của các đồ đệ “Bác” thì không nói. Nhưng bây giờ đã tháo cũi xổ lồng rồi, tại sao không kiếm một mợ để cho người ta lo sửa túi nâng khăn cho… nhất là những khi tắt lửa tối đèn, trở trời trái gió?

Biết tôi lại sắp lôi ra một lô danh tính các mợ sẵn sàng nhận lời cầu hôn với ông, Nguyễn Chí Thiện thoái thác bằng cách hối tôi ra xe.

Bây giờ thử tìm vào thi phẩm Hoa Địa Ngục để xem tình cảm của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đối với người khác phái ra sao.

Thơ văn là người. Câu nói quen thuộc có giá trị đối với các nhà thơ nhà văn khác tới đâu không biết. Riêng với cố thi sĩ Nguyễn Chí Thiện thì quả đúng không sai. Ít nữa là với những gì ông thố lộ về những mảnh tình vụn trong thời trai trẻ, bao gồm những câu chuyện kể cũng như qua những vần thơ của ông.

Vài trích đoạn trong hai bài Tình Câm và Tình Mơ chứng minh cho thấy một Nguyễn Chí Thiện đa tình, đa cảm và cũng đã trải qua những phút giây đắm say, bi lụy vì bóng sắc những người con gái thoáng qua đời ông.

Yêu người mà không được yêu.

Rồi sầu khổ, đớn đau. Đấy là bi kịch của những mối tình một chiều mà Nguyễn Chí Thiện gọi tên là Tình Câm..

Anh sợ lắm lòng anh xiêu đổ mất

Anh ngăn anh đừng qua lại nơi đây

Nhưng than ôi, em vắng bóng một ngày

Anh đã sống như người điên loạn nhất

Anh lạnh lẽo, em ơi, đừng tưởng thật

Anh cũng giống như mặt ngoài quả đất

Chứa trong lòng bao khỏi lửa đam mê

Anh nhìn em rồi lặng lẽ ra về

Để đau khổ, để âm thầm cay đắng

Không thể nữa, không làm sao cố gắng

Giữ cho tình câm nín ở trong tim

Nhưng còn chi, ngoài khao khát im lìm

Khi thương tích tình anh thầm rỏ máu

Lòng của em hờ hững thấy chi đâu!

Em có nghe trong tiếng thở u sầu?

Bao yêu dấu đè sâu đang thổn thức

Em có nghe trong quãng đời cơ cực?

Nếu có em, trời đất lại rờn xanh

Hãy thứ cho mơ ước của lòng anh

Mơ ước để đời đau, thêm lạnh tối!

Đường vào tim em, anh không có lối

Mỏi mắt chờ, em chẳng hé một giây

Tâm linh anh, ôi đã bị đọa đầy!

Trong dáng dấp, trong nụ cười tiếng nói

Trong ánh mắt em, nàng tiên chói lọi!

Trong hững hờ, tan nát, mộng cùng mơ

Tình của anh như một sớm sương mờ

Không được bóng vầng dương -Em- tỏa chiếu

Điều đau khổ em làm sao thấu hiểu

Lòng của em chưa một vết thương ghi

Thế nên anh cam chịu ôm ghì

Bao gai sắc của tình đau buốt ấy

Niềm an ủi, anh chỉ còn trông cậy

Ở thời gian, em hỡi, em có hay?

(“Tình câm” trang 106/107 HĐN – năm 63)

Tiếp đến, trong bài “Tình mơ” Nguyễn Chí Thiện vẽ ra đủ thứ.

Anh yêu em, anh chỉ nói thế thôi

Nói thế thôi, cũng đã thừa rồi

Vì tình ái đâu cần nhiều ngôn ngữ

Tình từ tim, mà ngôn ngữ từ môi

Anh yêu em, em đã hiểu lâu rồi

Em đã hiểu từ ban đầu gặp gỡ

Anh hỏi thăm đường, em trỏ lối, thế thôi

Em hiểu anh, trong dáng dấp bồi hồi

Trong ánh mắt ngập ngừng, xao xuyến

Em hiểu anh trong nắng chiều lưu luyến

Em hiếu anh từ tình mới đâm chồi

Từ hạnh phúc còn như bỡ ngỡ

Trong hồn anh quen nếp đau thương

Có những đêm trăng óng ánh trên đường

Trăng tắm sáng trên đầu em tóc rối

Trăng lấp ló trong hàng cây gió thổi

Em là vầng trăng ngọc của đời anh

Anh không em, anh sẽ sống âm thầm

Như những tối trăng vàng lẩn bóng

Đi bên em nghe ái tình đập sóng

Trong lòng anh hạnh phúc chan hòa

Ôi, những phút giây không thể xóa nhòa

Giây phút ấy, tình em chói tỏa

Ở trong anh và tất cả xung quanh

Anh ôm em, em ngạt thở vì anh

Nhưng em biết lòng anh say đắm quá

Gì ngất ngây bằng hôn lên đôi má

Mịn như hoa và đượm hương da

Nắm tay em bao đau khổ phai nhòa

Khắp vũ trụ chỉ còn thương mến

Tình của em nhiệm màu vô bờ bến

Hồn anh hàu tàn úa lại rờn xanh

Đời anh như chim hót trên cành

Tươi mát tựa màu xuân thơm ngát

Nhưng rốt cuộc, tất cả chỉ là một cuộc tình thoáng chốc trong mơ.

Giữa lúc đang buông thả cho hồn đắm chìm trong những phút giây thần tiên, hạnh phúc bên cạnh người yêu dấu, thì:

Giọng ai buồn ngâm nga câu hát

Bừng cơn mơ trăng lạnh đã lên cao

Gió ngoài song vi vút thổi vào

Rơi mấy cánh hoa đào trên chậu sứ.

(“Tình mơ” trang 105/106 HĐN – năm 63)

Rốt cuộc, như ông từng thú nhận:

“Chẳng ra làm sao cả! Chỉ là những mộng cùng mơ thôi!”

Và đây nữa là mối tình một chiều của nhà thơ và cô hàng bán sách.

“Có thể cô ta là người trong sách

Và hình như đã hiểu tôi nhiều

Biết đâu rồi, tôi chẳng được yêu

Yêu tha thiết, chân thành, trong sạch

Từ buổi đó tháng ngày tôi cọc cạch

Đạp chiếc xe tàng tới hiệu cô ta

Mua con tem, thếp giấy, gọi là

Tiền chẳng có, gia đình tôi thanh bạch

Song mấy năm rồi, tôi chỉ là người khách

Chung thủy, hơi buồn, chẳng nói bao nhiêu

Hình ảnh cô ta như áng mây chiều

Gợi nhung nhớ mơ hồ, xa cách!”

(“Có thể cô ta…” trang 113 HĐN – năm 64)

Cuối bài “Vết mây hồng” tác giả ghi năm 1996, thời gian ông đã ra nước ngoài.

Hơn một lần ngồi nói chuyện tâm tình với Nguyễn Chí Thiện, tôi gạn hỏi ông về xuất xứ bài thơ. Trong thâm tâm tôi muốn biết về hoàn cảnh, thời gian, nơi chốn và đối tượng khiến ông viết những vần thơ này. Lúc đầu ông lảng tránh, nhưng trong một dịp khác, ông đã âm thầm cho tôi biết khá chi tiết và những chi tiết này đã được tóm tắt trong bài viết “Bóng dáng những người đẹp đã đi qua đời nhà thơ Nguyễn Chí Thiện”.

Dưới đây là nội dung bài thơ 13 câu ngắn ngủi cho thấy một khía cạnh nhỏ trong đời sống tình cảm của tác giả Hoa Địa Ngục trong 17 năm cuối đời ở hải ngoại.

Bao lâu rồi, có thấy gì đâu

Anh thôi đợi, nhưng cà phê nguội đáng

Anh ngồi lặng, nhìn ra phố vắng

Làm bận lòng em, anh biết lỗi từ lâu

Buổi gặp em, như một phép nhiệm màu

Lòng anh, cảnh trời đông bảng lảng

Em hiện ra, thành mượt mà hè sáng

Tưng bừng huyết phương nở ngàn bông

Nhưng thời gian… không hơi ấm tình nồng

Hoa phượng đỏ thâm bầm tiết đọng

Trời đông về ảm đạm mênh mông

Lãng đãng bay xa, xa mãi…

Vết mây hồng…”

(“Vết mây hồng” trang 397 HĐN – năm 96)

Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện

Đến bài “Bóng hồng dương thế”, người đọc thấy trong Hoa Địa Ngục, tác giả ghi năm 1996. Nhưng, trong bài viết nhan đề “Bố tôi và người tù Nguyễn Chí Thiện” của tác giả Vũ Triều Nghi xuất hiện trên NET và cũng được đăng trên một số báo chí ở hải ngoại từ cuối năm 2008 (trong đó có nguyệt san Diễn Đàn Giáo Dân ở nam California) được cho biết là nhà thơ họ Nguyễn sáng tác trong thời gian bị giam cầm ở Phong Quang.

Có lần tôi nêu chi tiết này để hỏi Nguyễn Chí Thiện thì ông cho hay: rất nhiều bài, ghi năm này năm khác ở dưới nhưng không hẳn phản ảnh thời gian sáng tác vì trong những chặng ở tù thơ ông chỉ ghi trong trí nhớ, về sau mới cố gắng hồi tưởng để viết lại. Do đó mới có chuyện bài thơ viết ở trại Phong Quang mà khi in trong Hoa Địa Ngục lại ghi năm 1996. Ông nhấn mạnh với tôi:

“Nếu anh đọc kỹ hai bài sẽ nhận ra cả ngôn từ và cách ngắt câu cũng có khác. Vì dụ câu ‘Đất Mỹ, trời Âu, xa lắm’ lúc đầu gộp chung một vế, nhưng sau này khi sửa lại tôi đã ngắt thành 3, mỗi câu hai chữ. Câu ‘Mấy chàng trai mắt trũng, chân phù’ cũng tương tự như thế. Rồi đến hai từ ‘Thơ thẩn” lúc trước, đã được sửa lại thành ‘Thờ thẫn’. Dĩ nhiên đây chỉ là do chủ quan thôi. Trong Lời Tựa viết trong Hoa Địa Ngục”toàn tập do Cành Nam ấn hành năm 2006 tôi có nói tới chuyện này”.

Sau đây xin ghi lại nguyên văn cả hai bài để độc giả dễ đối chiếu.

“Có người thiếu nữ mắt bồ câu

Lưu lạc, ly hương từ thuở xuân thì

Đất Mỹ

Trời Âu

Xa lắm!

Nơi rừng sâu

Người cha rầu rầu

Thường mang ảnh con mình ra ngắm

Đêm tù

Âm khí âm u

Mấy chàng trai

Mắt trũng

Chân phù

Thờ thẫn cầm nàng trong tay

– Cầm cả mùa xuân hạnh phúc

Bóng hồng dương thế xa bay!..”

(“Bóng hồng dương thế” trang 397/398 HĐN – năm 96)

Và sau đây là bài thơ Nguyễn Chí Thiện tặng bà Vũ Triều Nghi năm 1992. Bài này được VTN ghi là NCT viết tại trại tù Phong Quang:

Bóng Hồng Dương Thế

(Tặng Triều Nghi)

“Có người thiếu nữ mắt bồ câu

Lưu lạc, ly hương từ độ xuân thì

Ðất Mỹ, trời Âu xa lắm

Nơi rừng sâu

Người cha rầu rầu

Thường đem ảnh con mình ra ngắm

Ðêm tù

Âm khí âm u

Mấy chàng trai mắt trũng chân phù

Thơ thẩn cầm nàng trong tay

Cầm cả mùa xuân hạnh phúc

Bóng hồng dương thế xa bay.

Nguyễn Chí Thiện

Tôi không có dịp gạn hỏi tác giả về thời gian ông sáng tác 4 câu sau đây. Nhưng dựa vào nội dung, nhất là câu Nhưng hai vầng nhật, nguyệt mãi xoay quanh, tôi nghĩ ông đã viết sau ngày rời Việt Nam ra nước ngoài, tức là thời gian sau năm 1995. Chi tiết này cũng đã được lý giải trong bài “Bóng dáng những người đẹp…”

“Tôi cần có một nàng tiên ở cạnh

Cho mặt trời bớt đen và vầng trăng bớt lạnh

Nhưng hai vầng nhật, nguyệt mãi xoay quanh

Bên giòng suối thời gian, không nàng tiên nào bị thu đôi cánh

( Ghi chép vụn vặt trang 419, đoạn 6 HĐN)

Tình người

Những ai đã từng sống gần nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, nhất là khi có dịp tâm sự, chuyện trò, sẽ nhận ra trong con người ông chứa đựng một tấm lòng nhân ái tròn đầy. Phải chăng vì thế mà ông được bạn bè xếp vào số những người tử tế. Thái độ tử tế và lòng yêu thương con người của thi sĩ bộc lộ rõ ràng trong thơ cũng như trong cách giao tế, cư xử hàng ngày của ông. Với số tiền già còm cõi cùng với tiền nhuận bút hai tác phẩm Hoa Địa Ngục và Hỏa Lò, hàng tháng, trừ những khoản chi tiêu cho những nhu cầu tối cần thiết, tuồng như ông dành trọn cho việc gửi về quốc nội giúp đỡ người thân, bạn bè và những nhà tranh đấu bị cầm tù cùng thân nhân họ. Đây không phải là điều suy đoán mà là những gì tôi biết và chứng kiến tận mắt.

Tấm lòng nhân ái ấy của ông được gói ghém trong mấy câu thơ sau đây .

“Trái tim tôi quán nghèo, gió lọt

Nơi dừng chân kẻ lỡ độ đường

Giữa đêm dầy lạnh lẽo mù sương

Kẻ lỡ độ sẽ tìm ở đó

Chút lửa ấm ngọn đèn dầu vặn nhỏ

Trái tim tôi, lòng thung và nệm cỏ

Sẵn sàng đỡ kẻ rủi ro”

(“Trái tim tôi…” trang 128 HĐN – năm 65)

Bài thơ “Anh gặp em…” Nguyễn Chí Thiện viết năm 1965 là một trong những tuyệt tác của ông xét về nhiều phương diện, từ lời, ý tới âm hưởng, tiết tấu, và nhịp điệu trong thơ. Ở đây người viết chỉ giới hạn những suy nghĩ và nhận định về tấm lòng nhân ái tròn đầy của ông gói ghém trong những vần thơ trĩu nặng tình người.

Không gian nơi tác giả Hoa Địa Ngục gặp cô bé là một bệnh viện dành cho những tù nhân đau ốm đang bị chế độ cộng sản giam giữ tại một vùng núi rừng heo hút miền Bắc. Thời gian là những năm đầu thập niên 60 khi toàn thể bắc vĩ tuyến 17 đang lâm cảnh khốn cùng về nhiều mặt. Dân tình đói khổ, lam lũ, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, bộ đội ngày đêm sợ hãi trước cảnh bom đạn tơi bời do những đoàn phi cơ Mỹ Việt từ miền Nam bay ra trút xuống, từ thanh thị đến thôn quê..

Vì lý do thiếu an ninh, sợ bệnh nhân tù bỏ trốn, hoặc vì thói quen của một chế độ khép kín, khuôn viên bệnh viện dành cho tù nhân được rào kín. Ở đấy có một người con gái trẻ gầy gò, đau yếu mang đủ thư bệnh, đang được điều trị bởi những y sĩ công an. Ở đấy cũng hiện diện một nhà thơ với cặp mắt đờ đẫn, ngơ ngác và một buồng phổi lép đầy vết sẹo. Và nhà thơ đã gặp cô bé trong tình huống đau thương, khốn khó ấy.

“Anh gặp em trong bốn bức rào dày,

Má gầy, mắt trũng

Phổi em lao

Chân em phù thũng

Gió lạnh từng cơn rú qua thung lũng

Em ngồi run

Ôm ngực còm nhom

Y sĩ công an

Nhìn em

Thôi nạt nộ om sòm

Em ngồi lọt thỏm

Giữa bọn người vàng bủng, co ro

Những tiếng ho

Những cục đờm màu

Mớ tóc rối đầu em rũ xuống

Mình em

Teo nhỏ, lõa lồ!

Em có gì đâu mà em xấu hổ?

Em là đau khổ hiện thân

Ngấn lệ đêm qua còn dấu hoen nhòa

Trên gò má tái

Trong lòng anh bấy nay xám lại

Nhìn em

Lệ muốn chảy dài

Anh nắm chàn tay, em hơi rụt lại

Em nhìn anh

Mắt đen tròn, trẻ dại

Nước da xanh xám thoáng ửng màu”

Cô gái bệnh nhân trong nhà tù cộng sản vốn sinh trưởng ở miền Nam vĩ tuyến. Nhưng sau khi đất nước bị chia đôi vào năm 1954, nghe theo lời dụ dỗ của cán bộ CS cô bé hồn nhiên xuống con tàu Ba Lan tập kết ra Bắc. Có thể cô bé ra đi cùng với cha hoặc mẹ, vì từ 1954 đến 1965 đã 11 năm trôi qua thì khi rời miền Nam cô còn là một đứa con nít, nhiều lắm là 10 hoặc 12 tuổi. Điều này tác giả không nói. Chỉ biết:

“Trong quãng đời tù phiêu dạt bấy lâu

Đau ốm một mình tội thân em quá!

Chắc đã nhiều đêm em khóc như đêm qua

Khóc mẹ

Khóc nhà

Khóc buổi rời miền Nam thơ ấu

Chân trời hun hút nay đậu?

Rồi đây

Khi nằm dưới đất sâu

Em sẽ hiểu một điều

Là đời em ở trên mặt đất

Đất nước đè em

Nặng chĩu hơn nhiều!

Những lúc nghĩ thân mình bó trong manh chiếu

Anh biết lòng em kinh hãi hơn ai!

Khi gió bấc ào ào qua vách ải

Những manh áo vải

Tả tơi

Vật vã

Vào thịt da

Em có lạnh lắm không?

Mưa gió mênh mông

Thung lũng

Sũng nước bùn

Bệnh xá, mối đùn, ẩm mốc!

Những khuôn mặt xanh vàng gầy dộc!

Nhìn nhau

Đờ đẫn không lời

Nhát nhát em ho

Từng miếng phổi tung rời

Bọt sùi, đỏ thắm!

Em chắc oán đời em nhiều lắm

Oán con tàu tập kết Ba Lan

Trên sóng năm nào

Đảo chao

Đưa em rời miền Nam chói nắng!

Sớm qua ngồi, tay em anh nắm

Muốn truyền co nhau chút tình lửa ấm

Mặc bao ngăn cấm đê hèn

Sáng nay em

Không trống

Không kèn

Giã từ cuộc sống

Xác em dấp trên đồi cao gió lộng

Hồn anh trống rỗng!

Tả tơi!”

Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện

Và đây là hình ảnh tang thương, rách nát, lõa lồ, bệnh hoạn của người con gái trong một bệnh xá thuộc hệ thống nhà tù của chế độ Hànội qua những vần thơ thoát ra từ trái tim rỉ máu của người thơ Nguyễn Chí Thiện.

“Em ngồi lọt thỏm

Giữa bọn người vàng bủng, co ro

Những tiếng ho

Những cục đờm màu

Mái tóc rối, đầu em rũ xuống

Mình em

Teo nhỏ, lõa lồ!

Em có gì đâu mà em xấu hổ!

Em là đau khổ hiện thân

Ngấn lệ đêm qua còn dấu hoen nhòa

Trên gò má tái

Trong lòng anh bấy nay xám lại

Nhìn em

Lệ muốn chảy dài

Anh nắm chặt bàn tay, em hơi rụt lại

Em nhìn anh,

Mắt đen tròn, trẻ dại

Nước da xanh tái thoáng ửng màu

…”

Cũng từ trái tim lân mẫn ấy, ông cảm được không khí buốt lạnh của một ngày mưa giông giữa lòng thung lũng đang quặn thắt thịt da của cô gái giữa những thân tù bệnh hoạn. Từ đáy hồn nhà thơ cùng cảnh ngộ thảng thốt vẳng lên câu hỏi.

“- Em có lạnh lắm không?”

Trong khi ấy, đất trời vẫn làm thinh, để cho:

“Mưa gió mênh mông

Thung lũng

Sũng nước bùn

Bệnh xá mối đùn, ẩm mốc

Những khuôn mặt xanh vàng gầy dộc”

Vượt qua những luật lệ nghiêm khắc của nhà giam, bất chấp những đòn thù của quản giáo, một buổi sớm ông mạnh dạn nắm tay cô bé đồng tù cô đơn, bệnh hoạn như muốn truyền cho em hơi ấm của tình người

“Sớm qua ngồi, tay em anh nắm

Muốn truyền cho nhau chút tình lửa ấm

Mặc bao ngăn cấm đê hèn…”

Nhưng chút lửa ấm phù du ấy, sớm hôm sau đã vội tan loãng vào khoảng không gian u ám giữa trại tù, bệnh xá, với gió núi, mưa rừng. Bởi vì cô gái bất hạnh, sinh bất phùng thới ấy đã lặng lẽ ra đi. Cái chết đã giải thoát em khỏi những cơn đau đớn vì căn bệnh trầm kha, giúp em thoát cảnh tù đầy u tối để hồn em tự do bay bổng tìm về miền nam nắng ấm.

“Sáng nay em

Không trống!

Không kèn!

Giã từ cuộc sống

Xác em dấp trên đồi cao gió lộng

Hồn anh trống rỗng!

Tả tơi!

(“Anh gặp em…” trang 129/30/31/32 HĐN – năm 65)

Nguyễn Chí Thiện trong cuộc đời hay trong thơ văn chỉ là một. Đấy là một nhân cách lớn, một tâm hồn nhạy cảm, sâu lắng, sẵn sàng phẫn nộ trước kẻ thù hung ác, nhưng hết lòng với quê hương, sông chan hòa với nhân quần xã hội.

Những ngày cuối đông 2012


[1] Nhọc tiếng của người bình dân miền Bắc đồng nghĩa với mệt của người miền Nam mà NCT quen dùng trong khi chuyện trò, trao đổi.

Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện

Advertisements