KIM LOẠI MÀU VÀNG

Nguyễn Thụy Long

( Truyện ngắn dành cho người đi vượt biên ,cầu cá tra và đặc biệt cho công an chuyên bắt người vượt biên.Ngòi bút của nhà văn Nguyễn Thụy Long đã lột tả hiện thực  xã hội  Việt Nam vào những năm 1980-1990)
……..
Tôi chưa từng sống trong một phòng giam nào chật hẹp, ngột ngạt, đông người và nóng bức như trong phòng giam này. Tôi từng có kinh nghiệm ở tù. Tôi cũng không tưởng tượng được một miền nhiệt đới, một bãi sa mạc nào khủng khiếp hơn. Nhưng chúng tôi vẫn phải sống, hy vọng, và tìm mọi cách thích hợp cho đời sống tù ngục.
Ngót trăm người đồng cảnh ngộ trong chuyến vượt biên, cùng với khoảng sáu bẩy chục tù hình sự bị nhét chung một phòng giam, gồm ba phòng: một phòng nam, một phòng nữ và một nhà bếp. Trên lầu cũng có phòng giam nhưng tôi không biết chia ra mấy phòng, chỉ chừng bốn mét sáu mét cho trên một trăm tù nhân. Nghĩa là khi chúng tôi nằm xuống, phải lựa thế nằm đan háng vào nhau mới tạm đủ chỗ. Tắm rửa tiêu chuẩn chỉ có một ca nước, ngồi chồm hổm, để quần đùi dưới đít vò giặt cho ướt nước qua loa. Cả một bầy người hành động đồng loạt như thế nên người ta gọi là tắm heo.
Khi đó vào khoảng tháng tư âm lịch. Thời tiết miền Nam chưa mưa được mà chỉ ùn lên mây đen, những bọng nước khổng lồ lơ lửng trên trời đe dọa sẽ trút xuống những trận mưa lớn. Không khí hầm nóng khủng khiếp. Khắp cả miền đất rộng mênh mông còn như một lò lửa cây cối đứng im phăng phắc, nữa là đây một phòng hơi ngạt trong một lò lửa.
Người tù được làm tạp dịch ngoài hành lang nói đứng bên ngoài nhìn qua song sắt phòng giam thấy khói hừng hực bốc ra như đun bếp. Buổi tối qua ánh đèn mờ, hơi người bốc lên như sương mù. Tất cả chỉ mặc độc một chiếc quần đùi lúc nào cũng ướt nhem nhép, hôi thối. Cán bộ khi ló mặt vào phòng giam phải bịt mũi. Nóng bức đến độ cả phân nửa phòng giam phải trần truồng. Người ta nói bên phòng giam nữ cũng vậy, rồi có tiếng cười hí hí. Một anh nào đó pha trò vô duyên, bằng một câu tục tĩu. Một người khác nói:
Đừng nói thế, bò heo bị nhốt trong chuồng dơ dáy nó có biết hôi thối đâu. Chúng ta cũng vậy, mình không ngửi thấy mùi hôi thối của mình. Mày đang biến thành súc vật, mày có biết không?
Nước trong cơ thể vắt cạn từng giây, cùng những chất độc xì ra, đâm chồi nẩy lộc thành những mụn nhọt trên đầu, trên mặt, mông đít, háng. Đau đớn phát sốt. Nói tóm lại ở khắp mọi phân vuông trên cơ thể, mụn nhọt, ghẻ lở đều chen nhau tranh sống và phát triển được hết. Cơ thể con người trở nên nhầy nhụa trơn tuồn tuột như lươn trong giỏ.
Vậy mà chúng tôi vẫn sống, dù rằng thỉnh thoảng bất kể ngày đêm vẫn có những tiếng la cấp cứu cho người ngạt thở. Nạn nhân được khiêng ra ngoài hành lang hớp lấy chút đỉnh không khí rồi tống trở lại phòng giam. Đó là phương pháp cấp cứu của y tế trại giam. Ban đêm chúng tôi nằm đan háng vào nhau, xếp lớp như cá đóng hộp nghe kể chuyện, hai tù nhân đứng giữa phòng cầm hai góc mền quạt cho anh em. Đúng ra không phải quạt mát mà lùa bới hơi độc ra ngoài song sắt.Chúng tôi vẫn sống, thả hồn theo câu chuyện kể hấp dẫn hay chán phèo.

Tù vượt biên
Sáng sớm tinh mơ, cửa phòng giam mở. Chúng tôi xếp hàng, công an trại giam dẫn ra ngoài ao cá làm công việc vệ sinh. Cố gắng hết sức, chúng tôi vẫn không đại tiện được. Lũ cá tra nuôi trong ao đớp chay bong bóng nước, đói meo. Đó là phản ứng sinh lý tất có của người bị giam những ngày đầu tiên. Hơn trăm người tù tội vượt biên chúng tôi đã không đại tiện được bảy ngày hôm nay. Kể từ đêm hôm ấy… Khi chúng tôi bị lùa từ dưới hầm tàu lên bờ. Chiếc tàu dài 25 mét với 4000 lít dầu dự trữ, thuyền trưởng lẫn tài công, thủy thủ đoàn cho biết con tàu có thể chạy thẳng một lèo tới Úc. Nhưng tàu chưa ra đến cửa biển đã bị bắn gẫy bánh lái.
Ba trăm người chúng tôi, đàn ông, đàn bà, trẻ con, được đánh giá cao và phân phối giam cầm ngay những trại giam nhiều nơi ở các huyện xã ven sông. Đánh giá cao chúng tôi, vì chiếc tàu vượt biên đồ sộ, hoa tiêu, thợ máy là những tay lành nghề, từng lái chiến hạm vượt đại dương an toàn. Những khách đi tàu hầu hết là người Việt gốc Hoa chịu chi. Còn khách thuần Việt được đánh giá là có „máu mặt“.
Hãy thành thật khai báo, đồ tế nhuyễn của riêng tây mang theo cứ khai ra, chúng tôi giữ cho, có biên nhận đàng hoàng. Ngày nào các người di lý đi nơi khác chúng tôi trả lại đầy đủ. Nếu giấu giếm bằng bết cứ hình thức nào, chúng tôi bắt được sẽ lập tức bị tịch thu và còn bị kỷ luật. Cách mạng luôn luôn công minh sáng suốt và nhân đạo.
Người cán bộ trưởng trại giam nói với chúng tôi như thế. Hầu hết người bị bắt đều thành thật khai báo. Nhưng riêng tôi biết cũng có người chưa mấy thành thật có trăm phương ngàn cách giấu giếm.
Ngay sau đó, họ thực hiện một loạt khám xét qui mô ti mỉ không chừa một ai. Từ cái lai quần, lai áo, lỗ tai, lỗ mũi, lỗ đít được lục soát kỹ càng, vẫn chẳng kiếm đâu ra một tí vàng.
Riêng tôi không có gì, nhưng vẫn phải làm thủ tục há miệng cho gã tù hình sự khám răng. Chổng mông, tụt quần đến gối khám lỗ đít. Tên tù được tin cẩn kêu lên đít tôi bị trĩ lòi con trê thối hoắc. Thời gian khám xét đó, khi ngước mặt, khi chổng mông, chỉ nhìn qua háng cũng đủ giúp tôi quan sát nơi mình bị giam giữ: một lô cốt lớn hai tầng chia làm phiền phòng giam xây giữa một cánh đồng ven sông, có lẽ là một pháo đài nhỏ thì đúng hơn. Lô cất có thể chứa được một trung đội lính Lê dương ngày xưa, khống chế cả một vùng đồng rộng và làng mạc xung quanh. Nay thuộc xã ấp nào đó, cách mạng dùng làm nơi tạm giam tù hình sự và tù vượt biên.
Tháng ba bà già đi biển. Chúng tôi đã chậm hết hơn một tháng nên mới gặp sự cố xui xẻo này. Thế là tôi không đến được đảo Bidong mà đang „bi đát“. Tôi chặc lưỡi, liều với số phận. Thành thật nhận với chấp pháp mình là kẻ có tội, đã dám bỏ quê hương ra đi. Tôi phải trả nợ tội lỗi đó bằng giá nào chưa biết. Tôi nhìn qua lỗ châu mai phòng giam, cánh đồng xa tít tắp rực nắng lửa. Hàng dừa ven sông đứng im trong nắng. Vẫn không một cơn gió mát nào. Khí độc ùn lên như khói.
Anh trật tự trưởng phòng giam can tội làm huyện đề, người có nhiều kinh nghiệm sống trong phòng giam dõng dạc ra lệnh:
Tôi ra lệnh và cấm anh em không ai được nói lớn, không được nói, vì cả phòng giam này mỗi người một lời, hơi thở của chính chúng ta sẽ làm chúng ta ngộp thở. Để giải trí cho anh em đêm nay, chỉ có một người được nói thôi. Đó là anh bạn „quay phim“.
Nhưng rất tiếc anh bạn quay phim của chúng ta tối nay lại đau vì một cái nhọt mọc trúng quai hàm. Vậy thì… (anh ta hơi ngập ngừng nhìn sang phía chúng tôi). Tôi thấy rằng trong đám anh em vượt biên không thiếu gì người tài, có văn hóa, trí thức lẫn kinh nghiệm đời cũng lắm. Không lẽ hôm nay anh em vượt biên chẳng ai là người cống hiến cho anh em một câu chuyện vui vui nào hay sao? Dẹp bỏ chuyện buồn tù tội sang một bên, vui lên mà sống.
Anh trưởng phòng dứt lời. Tiếng vỗ tay rào rào. Đám tù vượt biên chúng tôi lặng thinh một lát, vì phần đông là người Hoa. Cuối cùng có một thanh niên trẻ, mụn nhọt đầy người ngồi dậy. Anh ta nhìn chúng tôi, nhìn những anh em hình sự, chậm rãi lên tiếng, giọng cố làm ra nhẹ nhàng, gợi cảm, nhưng vẫn không che giấu nổi vẻ láu cá:
Xin lỗi quí bạn, tôi biết nói sao đây, tôi không có khiếu kể chuyện kiếm hiệp. Thực tế, đời sống chúng ta, đời sống ngay chính tôi vô khối chuyện kể, có nghe cũng chẳng hấp dẫn mấy. Nếu quí vị chịu nghe thì vỗ tay, còn không tôi xin nằm trở lại. Úi da, mấy cái nhọt hành tôi đau quá.
Dứt câu nói hắn nằm xuống thật. Chờ một tràng pháo tay nổi lên rào rào, hắn trở dậy, cười, hai tay chắp vào nhau xá xá anh em:
Cám ơn, cám ơn tất cả anh em, tôi không còn lý do gì tự cao nữa, vì chính tôi, thân phận tôi rõ ràng cũng cùn mằn hèn hạ. Nhưng quí vị không thể không tin rằng chính tôi là kẻ đã tìm ra cả mấy chục cây vàng chỉ trong vòng một năm… Vụ vượt biên này mất vài cây vàng chằng nhằm nhỏ mẹ gì với tôi hết.

Tôi muốn văng tục. Lại một thằng phét lác, đời này sao quá dư loại người đó. Thằng bé cứ khẳng định :

Nhiều vị không tin, ngay cả anh em vượt biên chung chuyến với tôi cũng chẳng tin được điều đó.
Hắn cười khẩy, mỉa mai:
Vài ba cây vàng làm một chuyến vượt biên nhằm nhỏ gì, nhưng cũng là vấn đề lớn lao cho những kẻ khoái bỏ quê hương ra đi mà lại… không có xu mẹ nào. Đúng vậy không các vị đồng cảnh ngộ? Hằng triệu lý do khác nhau. Lý do cuối cùng vẫn là trốn ra nước ngoài kiếm ăn. Tất cả những người bạn của tôi. Ở đây vượt biên đều là những người có tiền, có vàng.
– Đúng rồi !
Tôi bực mình la lên. Người trai trẻ khoái trí, hắn nói trong nụ cười:
– Tôi nói thật đấy quí vị ạ, tôi khoái vượt biên vì thích rong chơi cùng trời cuối đất, tôi không khoác lác đâu. Tôi không ngại kiếm thật nhiều vàng cho mục đích của tôi. Khi bị bắt tôi đã ném xuống biển cả kí lô vàng. Không tin thì mò đi, nó vẫn còn nguyên đó, không kể số vàng tôi đã đổ ra trong nhiều vụ vượt biên khác. Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên, biết sao được. Trời không chiều người. Này, các bạn đừng hỏi tại sao tôi lại có nhiều vàng như thế, tuổi tôi lại còn trẻ quá, có nói phét không? Xin thưa rằng không, tôi không ăn cướp, ăn trộm, lường gạt, trấn lột dọc đường. Tôi kiếm ra vàng do chính sức lao động của tôi…
Tôi không cười được mà có cảm tưởng hắn ta chỉ là một hoạt náo viên hạng bét trong một chương trình văn nghệ rẻ tiền nơi thôn ấp. Tôi phe phẩy cái quạt cố xua đuổi cơn nóng bức, xua đi mùi hôi nách trầm trọng của thằng nằm bên cạnh. Tôi cố không nghe, không ngửi mà nghĩ đến chuyện lung tung ngoài đời.
Nhưng lời nói mà tôi cho là phét lác của hắn ta vẫn lọt vào tai tôi trong giấc ngủ chập chờn:
-… có một ngày tôi vác cuốc lên rừng cùng với ba thằng bạn. Bọn tôi lập một băng đảng tổ bốn tên, trông thì có vẻ đầu trâu mặt ngựa, nhưng thật ra hiền khô mom mép như quạ kêu, cởi trần mặc quẩn bò, đầu đội mũ cói, lưng đeo mã tấu hoặc phảng, kiếm, dao quắm, búa, uống rượu như điên, hù nhau thôi mà. Bọn chúng tôi khoanh vùng đào bới như dế chũi suốt ngày… Địa danh nơi đó là gì, ở đâu hả? Tôi chẳng dại khai ra ở đây, chỉ nên biết nơi đó là rừng, một vùng trên miền cao gần cuối dẫy Trường Sơn. Vàng nhiều lắm, cứ đào lên là thấy, dù chưa đủ tuổi vẫn là vàng. Những trạm thu mua vàng ngồi ngay dọc đường ở một thị trấn gần đó, họ có cân tiểu ly, đôi khi phải dùng đến cân bàn. Ngày nào từ sáng tới chiều cũng có người đào vàng lai rai mang bán. Tôi chẳng biết nổi số lượng người ta thâu vào là bao nhiêu, riêng chúng tôi bán dăm bảy lượng là chuyện thường. Bỗng nhiên chúng tôi trở thành những con người được kính trọng, nể vì ăn to nói lớn, miệng có gang có thép…
Chúng tôi thay phiên nhau về thành phố ăn chơi, mua sắm, riêng tôi hùng hục mới tìm mấy thằng chó chủ tàu. Tôi phải ra đi bằng bất cứ giá nào, chẳng phải tôi chán ghét đất nước hay chế độ, mà tôi chỉ thích rong chơi, phiêu lưu mạo hiểm, đi cùng trời cuối đất. Tôi khẳng định không có chuyện chính trị ở đó… Nhưng tất cả dự tính của tôi đều thất bại, bị gạt có, bị thua có, từng tù tội và bây giờ thì nằm đây cùng quí bạn. Tôi lại mơ đến xứ vàng, mơ một chuyến hải hành gian nan gặp cướp biển…
Câu chuyện nhạt phèo, khoác lác, rẻ tiền. Tôi kết luận như vậy. Có người đồng ý với tôi về nhận xét đó. Gã Ba Tàu đan háng với tôi luôn tay quạt phành phạch. Gã chửi thề một câu nửa Tàu nửa Ta:
– Tíu hà ma… Đ.M. cả tuần „dồi“ ngộ không ể lược.
Đêm trôi trong oi bức khủng khiếp. Mồ hôi ròng ròng tươm ra khắp người, tôi có cảm giác nghe thấy các mụn nhọt đang đâm chồi nẩy lộc, xúm xuê hoa lá trên từng vùng thịt mỡ tôi. Thân thể tôi đang hạn hán, vậy mà vẫn trơn tuồn tuột như lươn, ếch, nhái.
Giữa lúc không chờ không đợi thì phân tôi vãi ra khi mới bước chân tới cầu cá. Tôi thoải mái vì được hưởng cái khoái thứ tư trong tứ khoái mà loài người từng ca tụng. Bọn cá tra dưới ao tranh mồi làm nước bắn vung vít. Suốt một dấy cầu dài cung cấp được khá nhiều lương thực cho bầy cá đói. Tiếng chửi thề vang rân bằng tiếng Việt chen tiếng Hoa, Quảng Đông, Quảng Tây, Hẹ, Phúc Kiến.
Theo phản ứng sinh lý tự nhiên, chúng tôi không tài nào đi đại tiện được ở những ngày đầu tiên khi bị giam. Lúc này phân lại ra không hẹn trước. Thường là những cơn té re vô kỷ luật. Phản ứng này cũng vậy thôi, chẳng có chi lạ. Một vài chú Ba Tàu tay cầm bao ni lông mặt nghệt ra nhìn xuống ao tiếc rẻ. Người thì ngẩn ngơ.
Thằng Ba Tàu nằm đan háng với tôi trong phòng giam vò cái bao ni lông không, càu nhàu:
– Vậy là thua… ngộ phải thành thật khai „páo“.
Tôi chẳng hiểu gì hết. Tù nhân về phòng giam. Khi đi qua cổng trại, gã người Hoa giơ tay với cán bộ hướng dẫn:
– Cho ngộ thành thật khai „páo“.
– Cái gì?
Người cán bộ hét. Mặt gã Ba Tàu coi tội nghiệp làm sao. Gã giơ cái bao ni lông không lên:
– Ngộ thành thật khai „páo“, ngộ mất hết „dồi“.
Mất gì?
– Vàng!
Một tiếng trả lời cộc lốc trong đám từ đứng dồn cục ở sân trại giam. Thằng láu cá đêm qua quay phim tìm vàng đang đứng cạnh tôi trả lời thay. Cái mặt gã hếch hếch coi đáng ghét, cái mỏ cười méo một bên mép coi đểu cáng làm sao.
Người cán bộ hết đầu ra hiệu cho gã:
Mày nói gì?
– Vàng. Mất vàng, kim loại màu vàng.
– Bước ra khỏi hàng, báo cáo rõ ràng, ai ăn cắp vàng?
Thằng láu cá bước ra, báo cáo vắn tắt:
Chả có ai ăn cắp vàng hết, mấy con cá tra đớp hết rồi. Chúng tôi nuốt vàng, ai dè đến hẹn nó không ra, trật lấc hết trơn…
Ngót một trăm người chúng tôi bị lùa vào phòng giam, trừ thằng nhỏ người Hoa và thằng láu cá bị đưa lên văn phòng „làm việc“. Tôi còn nghe thấy tiếng thằng Ba Tàu van vỉ:
– Ngộ thành thật khai páo, không dám giấu giếm.
Mày chết, dám mang tài sản quốc gia ra nước ngoài, gây bệnh „chảy máu vàng „. Không thành thật khai báo, mày bị chồng án.
Tiếng thằng láu cá:
Còn đó cán bộ à, tất cả ở dưới ao cá tra.

Cầu cá tra

Trong phòng giam tranh cãi loạn cào cào, tiếng Việt chen tiếng Hoa.
Tôi chẳng hiểu gì hết và chẳng cần hiểu làm gì. Tôi khoan khoái vì được tháo dạ sau mười ngày ẩn ức. Tôi mơn man thăm dò cái nhọt mới u lên trên trán tôi hồi đêm qua như con bê nhú sừng non. Tôi hy vọng những cái nhọt sẽ lặn đi sau khi chất độc tháo khỏi cơ thể. Nhưng tôi không được nằm yên, tôi cùng tất cả các bạn tù vượt biên được lệnh ra tập trung ngoài sân.
Ở đó tôi nhìn thấy bà cán bộ trưởng trại mang quân hàm đại úy công an ngồi uy nghi ở chiếc „ngai“ sau cái bàn rộng. Bên cạnh có hai cán bộ chấp pháp. Tôi nhớ mặt một người đã hỏi cung tôi và tịch thu gói thuốc cán ngoại cùng cái bật lửa gaz hôm bị bắt. Chúng tôi ngồi chồm hổm dưới sân. Bà đại úy trưởng trại mặt đen hầm hầm, đôi mắt sắc như lưỡi dao mã tấu liếc nhìn khắp mặt chúng tôi thu hồn phách, giọng bà đanh đá, nhưng cũng tình nghĩa đáo để:
Tất cả các người đều đầu đen máu đỏ, tại sao lại cố tình không hiểu lượng khoan hồng của cách mạng. Dù các người một lần lầm lỡ hay nhiều lần- lầm lỡ cách mạng vẫn tha thứ và khoan hồng. Các người có hiểu thế không?
Bà ta im lặng một lát. Gã láu cá, kẻ đưa tay đầu tiên hô:
– Hiểu!
Thằng nọ đẩy tay thằng kia hô theo, trong đồ có cả tôi. Khí thế hào hùng như hô khẩu hiệu trong mít tinh.
Bà trưởng trại hài lòng, giọng dịu lại, hòa nhã hơn:
Vậy thì các người phải thành thật khai báo và nghe theo phương án của ban giám hiệu. Nhà nước cách mạng hôm nay quyết định thu hồi tất cả những tài sản bị thất thoát, các người trộm cắp tài sản của nhân dân, toan mang ra nước ngoài, may mà phát hiện kịp. Nhà nước đã khoan hồng, vậy các người phải thành thật. Cách mạng lấy cái tình đối với các người, các người phải xứng đáng.
Có tiếng ai đó nói nhỏ bên tai tôi:
– Nói thế mà nghe được..
Tôi hết hồn suỵt khẽ. Bên trên đầu tôi tiếng bà đại úy trưởng trại vẫn oang oác, đanh thép khi mềm mỏng khuyên lơn, khi đe dọa nhằm mục đích tất cả người tù đều phải thành thật khai báo đã nuốt bao nhiêu vàng, cuối cùng bà hỏi:
Sáng nay những ai không đi cầu cá?
Tất cả im lặng, bà đại úy hài lòng:
Hà… vậy là tất cả đều có đi, có ai bón không đi được không?
Đám đông im lặng. Nụ cười bà trưởng trại cởi mở:
Nếu có ai còn táo bón chưa đi cầu được, tôi lệnh cho y tế trại cấp thuốc để „hanh thông đường đại tiện“.
Gã lắm điều ngồi cạnh tôi bình phẩm lãng nhách:
Chẳng tốt lành gì đâu.
Tôi cau mặt khó chịu.
Tiếng bà đại úy dõng dạc:
Bây giờ lần lượt từng người lên đây thành thật khai báo với cán bộ.
Người thứ nhất lên, gã đàn ông cao lớn được hỏi họ tên xong, vào phần chính:
– Sáng nay anh có đi cầu được không?
– Dạ có.
– Anh nuốt mấy chỉ vàng?
– Dạ, một chỉ.
„Náo“, anh đã thành thật khai báo chưa, cái bụng to như cái chum kia mà chỉ „luốt“ có chỉ vàng thôi sao, ít „nắm“ cũng phải ba chỉ.
Mặt gã đàn ông to con cắt không còn giọt máu, gã xuống giọng:
Dạ, có hai chỉ thôi, cán bộ.
Người cán bộ chấp pháp xẵng giọng:
Đã thành thật khai báo chưa?
– Em xin thề.
– Thôi được, người kế tiếp, Lâm Tô Hà..
Hàng chục người đã được thành thật khai báo.
Nhưng nhìn mặt họ tôi vẫn thấy gian gian. Kẻ được lấy ra làm gương là gã „láu cá tìm vàng“. Gã khai đã nuốt năm chỉ vàng, nuốt không nổi nữa phải nhờ người khác nuốt giùm. Sáng hôm nay đã cho ra hết rồi…
Người cán bộ chấp pháp đập bàn, la:.
Mày nhờ ai „luốt“, chỉ mặt coi..
Chúng tôi vờ vịt để thằng xỏ lá kia đừng chỉ bậy vào mặt mình. May mắn thay, chẳng đến đỗi nào, gã vẫn còn chút xíu lương tâm. Gã lắc đầu:
Bị bắt ban đêm, tôi nhờ đại nên không nhớ rõ.
Gã đưa mắt nhìn tôi, tôi cúi xuống, run bỏ xừ.
Nghĩa nà mày có mang theo nhiều vàng nắm?
– Còn phải hỏi, tôi là thằng giầu mà.
– Cái ngữ mày mà giầu à?
Gã cười khẩy:
– Tùy ý, tôi chỉ biết tôi là một thằng trùm, đầu nậu đào vàng, có nhằm nhỏ gì ba cái lẻ tẻ vài ba ký vàng, cái đồ bỏ sông bỏ biển…
Thằng láu cá đối đáp đâu ra đó nghe có lý quá, cán bộ không hỏi đến nữa. Riêng tôi lo ngay ngáy. Nếu tôi thành thật khai báo thì tôi: sẽ nói chẳng nuốt chỉ nào hết vì có đâu mà nuốt.
Tôi mang tiếng là kẻ vượt biên nhưng không mất tiền, nhờ quen biết tôi đi ké thôi. Nhưng nhìn mặt tôi, ai mà tin được. Tôi đeo kính trắng gọng vàng, trán hói, mặt mũi phương phi coi ra vẻ lắm. Trông tưởng là kẻ có tiền. Khi xuống tàu thấy tôi đi một mình, một em „nhí“ cô đơn đã để mắt đến tôi, muốn tìm bạn đồng hành cho có đôi. Tôi chưa kịp thả lời ong bướm, mới sơ khởi đá lông nheo là đã bị „tó“ rồi.Khách đi tàu xì xào về tôi: „May quá chuyến này mình đi lại có bác sĩ, chủ tàu tổ chức chu đáo thật. Thế có bỏ mẹ tôi không, cái mặt mày mà nói không tiền, chó cũng không tin được.
Thôi thì cũng liều, tùy cơ ứng biến.
Điều chờ đợi tất nhiên phải đến. Tôi đứng trước người cán bộ chấp pháp:
– Anh „luốt“ bao nhiêu „cây“?
Dạ đâu có nuốt.
– Tầm bậy, hãy thành thật khai báo.
Không thể thành thật khai báo được, máu bố láo dậy lên trong đầu tôi, vẫn phải nói đỡ đòn:
Dạ đâu có nhiều thế để nuốt.
– Vậy thì cũng có „luốt“ chớ gì, mấy chỉ?
Tôi liếc nhìn danh sách những người khai báo trước tôi người nào cũng nuốt chỉ không hà, không ai nuốt phân hết. Tôi phải tìm cho mình một con số tương đối:
Thưa, hai chỉ.
Người cán bộ chấp pháp đập bàn cái rầm:
– „Náo“, nhà anh mà nuốt hai chỉ thôi sao, cách mạng không tin.
Anh ta sắp sửa nổi giận. Tôi sợ, miệng lắp bắp.
Người cán bộ nổi cơn thịnh nộ, có thể tôi ăn ngay cái bạt tai. Khi đó thằng láu cá đầu nậu đào vàng đứng bật dậy, chỉ mặt tôi:
Thưa cán bộ, em có ý kiến, em tố cáo cái anh này không thành thật khai báo. Sơ bộ em biết anh này nuốt tới năm chỉ chớ không phải hai.
Thằng khốn nạn ra mặt chơi đểu tôi rồi.
Tôi toan cãi thì nó mồm năm miệng mười:
Thưa cán bộ, em nhớ ra rồi, em có gởi anh ta ba chỉ nhờ nuốt giùm, em chọn mặt gởi vàng chớ bộ, của ảnh hai chỉ, của em ba chỉ có phải là năm chỉ không, em thành thật khai báo cách mạng khoan hồng cho em. Nếu cách mạng tìm lại được cho em xin vài chỉ để em bồi dưỡng sức khoẻ tốt còn lao động sản xuất đền tội ác với nhân dân.
Người cán bộ cấm gã láu cá không cho đôi co với tôi nữa. Ông ta gằn giọng:
Vậy thì tôi ghi năm chỉ nhé.
Tàn dư máu bố láo tăng cao độ trong đầu tôi. Ném lao phải theo lao, tôi tố vượt chỉ tiêu:
Dạ, thưa cán bộ, anh bạn trẻ nói đúng, tôi có nuốt giùm ảnh ba chỉ. Phần tôi không phải hai chỉ mà bốn chỉ lận, vị chi là bảy chỉ mới đúng.
Người cán bộ ghi ngay bảy chỉ vào cạnh tên tôi:
ờ được, thành thật khai báo như vậy nà tốt, đáng được tuyên dương.
Tôi trở về chỗ mặt vênh lên như kẻ có tiền thật.
Thằng láu cá nhếch nụ cười đểu với tôi:
Em bái phục, cho em được tôn đàn anh là sư phụ. Đồng chí sư phụ.
Xong công tác chúng tôi được đưa về phòng giam. Thằng đểu lăn ngay ra sàn gãi háng xành xạch vê ghét búng vung vít.
Phía ngoài phòng giam, cán bộ xôn xao. Bà trưởng trại họp ngay phiên khẩn cấp đột xuất cắt cử công tác:
Đồng chí kế toán lấy máy tính ra cộng đàng hoàng coi.
– Dạ, có tính rồi, trên ba trăm chỉ.
Tiếng bàn tán xôn xao, cuối cùng bà trưởng trại ra lệnh, rõ là cấp chỉ huy lãnh đạo có nghiệp vụ cao:
– Thôi hơn bù kém, kể cả những kẻ không có sợ quá khai bậy. Tôi lấy chỉ tiêu trung bình là hai trăm chỉ, vậy là mình đã thâu về được hai mươi lượng, cũng chẳng thiệt thòi gì, có phải hy sinh cái ao cá này cũng được thôi. Đồng chí tài vụ kế toán sửa soạn thu hoạch, các đồng chí khác làm tốt công tác đạt chỉ tiêu lãnh đạo đề ra. Bây giờ mình bắt đẩu phương án hai. Đồng chí trực ban khẩn trương tập trung tất cả tù hình sự ra ao cá. Lưới hết cá tra mang vô nhà bếp làm thịt, mổ bụng, kiểm tra kỹ lưỡng.
Gã láu cá giẫy lên, cái miệng gã oang oác:
Xin báo cáo với anh em, thực đơn của chúng ta hôm nay có thêm món cá tra kho gừng. Một chỉ vàng một miếng cá, rẻ chán. Tôi có năm miếng.
Gã quay sang tôi chọc quê:
„Bác sĩ“ có bảy miếng cá!
Tôi vặc ra một câu chửi tục tằn.
Cái mặt thằng láu cá vẫn cười cợt nhơn nhơn. Gã lại gãi xành xạch vê ghét búng lung tung, nặn mụn nhọt, bóc vẩy ghẻ bôi lên tường.
Tôi kết luận gã là thằng nghịch ngợm pha thêm liều lượng mất dậy. Loại „trôi sông lạc chợ“. Tôi bực hắn, nhưng làm quái gì được, chỉ hậm hực xuông.
Tù hình sự bị lùa hết ra khỏi phòng giam, căn phòng trở nên rộng rãi. Tôi lăn ra ngủ một giấc thoải thái. Tôi mơ thấy màu vàng, không biết có phải kim loại màu vàng không?
Thức dậy buổi trưa, được ăn bữa cơm cá tra kho, ai cũng khen ngon, sau mười ngày vắng bóng thịt cá. Bọn tù hình sự ăn cơm ngay tại hiện trường. Qua lỗ châu mai, tôi nhìn cái ao cá bị tát sạch, đám tù đầu mình lấm lem như lươn ngụp lặn mò tìm.
Tiếng cãi nhau, tố cáo nhau chí choé.
Báo cáo cán bộ, em thấy thằng Hải cùi nuốt nguyên sợi dây chuyền. –
Nói láo, nước ọc vào miệng, tao vuốt ngực chớ có nuốt gì đâu. Đứa nào nói láo xe cán. Tao thấy thằng Minh thẹo nuốt nè.
Cứ như thế, lời tố cáo vang rân dây chuyền cả một khoảng ao. Cuối cùng, tôi nghe tiếng bà trại trưởng dịu dàng:
Thôi được cứ năng nổ lao động rồi về phòng, đưa cả mấy thằng làm bếp hôm nay vào phòng giam hết. Không một đứa nào được phép ở ngoài phòng.
Ngay buổi chiều hôm ấy, tù vượt biên chúng tôi được lệnh Bộ Nội Vụ di lý đi nơi khác. Tôi không biết chuyện gì xảy ra sau đó ở trại tạm giam khủng khiếp này, ngoài điều trông thấy bọn từ hình sự, kể cả tù phụ trách nhà bếp được uống thuốc xổ do y tế trại cấp phát.
Tất cả bị nhốt kín trong phòng giam, bị buộc phải uống thuốc xổ, liều lượng mạnh. Phía ngoài phòng có cán bộ võ trang túc trực nghiêm túc kiểm tra qua song sắt.
Mùi thối hoăng từ phòng giam bốc ra.
Lúc bị giải ra xe, thằng láu cá bị cùm dính với tôi chung một còng, nói một câu bâng quơ:
Hay, hay thật, một cách tìm vàng không giống ai. Sư phụ, đáng mặt sư phụ.
Tôi chẳng biết thằng ba trợn đó đang nói với tôi hay với ai.
Khi chúng tôi được giải qua sân ra ngoài xe ở cổng, tôi nghe tiếng chửi nhoi của đám tù hình sự bị nhốt.
Một gã tù già, trần truồng dái cu lòng thòng đeo song sắt chửi đặc giọng Bắc Kỳ 1975:
Địt mẹ những thằng vượt biên, chúng mày làm khổ ông, chúng nó không tìm thấy kim loại màu vàng, chúng nó mổ bụng ông như mổ cá „cha “ thì chúng mày chết mẹ với ông. Ông oán ông thù chúng bay. Tiên nhân cha quân vượt biên khốn nạn.
Tiếng chửi ray rứt theo mãi chúng tôi lên xe.
Thằng láu cá cười bò lăn, giùng giằng cái còng số 8 làm cổ tay tôi đau nhói.
Xe dập dình leo qua cầu cao đổ dốc vào thành phố về Chí Hòa.
Thằng láu cá vẫn cười nghiêng ngả.
Tôi nhăn mặt.

NGUYỄN THỤY LONG
1989

Advertisements