Một Hành Trình Thơ

TAP_THO_CUA_CUNG_TRAM_TUONG

Thứ bảy ngày 21/07/2012 tác phẩm Một Hành Trình Thơ , 1948-2008 của thi sĩ Cung Trầm Tưởng đã ra mắt độc giả tại Hải ngoại.
Lần theo dấu vết 60 năm làm thơ của Cung Trầm Tưởng cũng giống như lần giở lại quãng thời gian nhiều biến động ,thăng trầm trong lịch sử Việt Nam Trước khi tìm hiểu tác phẩm ,chúng ta hãy cùng lướt qua tiểu sử sơ lược của tác giả.
CCT

Tiểu sử tác giả
Cung Trầm Tưởng là bút hiệu, tên trong khai sinh là Cung Thúc Cần,sinh ngày 28 tháng 2 năm 1932, tại Hà Nội.
-Tốt nghiệp Kỹ sư Trường Võ Bị Không Quân Pháp.
-Tốt nghiệp Cao Học Khí Tượng tại Saint Louis University, MO, Hoa Kỳ,
– Quản Trị An Ninh Quốc Gia Và Tài Nguyên Quốc Phòng Hoa Kỳ (hậu đại học)
–Trung Tá Trưởng Phòng Chương Trình và Kế Hoạch Bộ Tư Lệnh Không Quân Sài Gòn
– Đi tù cộng sản 10 năm (1975-1985), bị quản chế 3 năm (1985-1988).
Định cư tại Minnesota, Hoa Kỳ cùng gia đình kể từ năm 1993.
Trước 1975 ông cũng là thi sĩ có mặt trong Nhóm Sáng Tạo,đã xuất bản tập thơ đầu Tình Ca, do họa sĩ Ngy Cao Uyên vẽ bìa và Phạm Duy phổ nhạc rất nhiều bài như :Tiễn Em, Bên Ni Bên Nớ, Mùa Thu Paris..
Tác phẩm đã xuất bản gồm: Tình Ca (thơ 1959), Lục Bát Cung Trầm Tưởng (Con Đuông 1973)-Thám Hiểm Không Gian (dịch, Dziên Hồng)-Lời Viết Hai Tay (thơ 1993, tái bản 1999)
Bài Ca Níu Quan Tài (thơ 2001)-Những Dấu Chân Ngang Trên Một Triền Phiếm Định (thơ 2002).
Năm 2012 với các tập thơ trên và thêm ba tập thơ mới :Thi Bá – Con Tắc Kè và Bà Góa Phụ- Mỗi Dặm Đường Một Nghìn Bài ThơSáng Ký Về Người Tình Đầu  Cung Trầm Tưởng gom lại thành tuyển tập gồm 7 thi tập,mang tên Cung Trầm Tưởng, Một Hành Trình Thơ (1948-2008).
Tập thơ dày 640 trang có đính kèm 12 phụ bản tranh màu của các họa sĩ nổi tiếng như Thái Tuấn, Ngọc Dũng, Duy Thanh, Vị Ý, Nguyễn Trung, Chóe và Ngô Vương Toại, do nhà xuất bản Tiếng Quê Hương tại Virginia, Hoa Kỳ ấn hành.

CCT (7)

1-Sóng Đầu Dòng – Tình Ca và Quá Độ.
Mỗi năm khi mùa Thu trở lại với những công viên ngập lá vàng, nhiều người Việt Nam dù không ở Âu Châu vẫn như thấy cả trời Thu Âu Châu thật gần qua bài hát „ Mùa Thu Paris“, nhạc Phạm Duy  đã phổ theo thơ Cung Trầm Tưởng :
Mùa thu Paris
Trời buốt ra đi
Hẹn em quán nhỏ
Rưng rưng rượu đỏ tràn ly

Mùa thu nơi đâu ?
Người em mắt nâu
Tóc vàng sợi nhỏ
Mong em chín đỏ trái sầu

(Mùa Thu Paris)
Bài Thơ làm từ thưở 1954 vẫn khiến nhiều người trẻ chào đời sau bài thơ yêu thích. Do với âm điệu tươi mới ,thanh tân như làn gió Thu từ phương trời Tây đến mở rộng tâm hồn kín cửa Á châu, „Mùa Thu Paris“quyến rũ đã gợi “Giấc mơ viễn xứ” .

Theo Du Tử Lê,  “Tình Ca” Cung Trầm Tưởng chỉ tổng cộng 13 bài đã có 6 bài được nhạc sĩ Phạm Duy soạn thành ca khúc.Tác phẩm “Tình Ca” với bìa, phụ bản rực rỡ, mới lạ của họa sĩ Ngy Cao Uyên (cũng về từ Pháp, như Cung Trầm Tưởng,) đã thật “lộng lẫy” như khi lục bát Cung Trầm Tưởng vừa xuất hiện trên tạp chí Sáng Tạo ( Bài tham khảo)

Từ trái qua: Cung Trầm Tưởng, Phạm Duy, Ngy Ca Uyên.                       (
Hình phamduy.com)

Những bài nhạc Phạm Duy với tiếng hát Thái Thanh, thơ Cung Trầm Tưởng vào thưở thập niên 50 đã đưa nhiều thanh niên đến giấc mơ về một phương trời Âu châu với công viên lá đổ, Ga Lyon đèn vàng,người em tóc vàng sợi nhỏ , cùng những ngày mùa đông tuyết rơi “tiễn em” buồn mênh mang như “chưa bao giờ buồn thế”.
T

Đây là một tập hợp ngôn ngữ có tính thống nhất cao chứ không phải là một lắp ráp của những con chữ ô hợp hay lạ giống với nhau. Trong dòng chảy miên viễn của thời gian, một hướng đi và một đích tới đã ‘vô tình’ được vạch sẵn và làm nên một bản sắc.

Một bản sắc độc đáo mang tên “Cung Trầm Tưởng” ..

Ngày đi chiều tới không nghiêm
Khoan thai gió cởi phong niêm rũ buồn
Bờ nghiêng, nắng dốc, đường thuôn
Thiết tha tiếng cũ nghe luồn không trung
(
Về Ðây-1954)
Nhà văn Mai Thảo, chủ nhiệm Tạp Chí Sáng Tạo đã từng gọi Cung Trầm Tưởng là Bà Huyện Thanh Quan thời đại mới’…” 

Bãi nhăn nhàu vết lăn xưa
Một xe thổ mộ giờ trơ gỗ gầy.

..Chiều nhòa vào xứ không tên
Thời gian hóa đá chồng lên tuổi đời”
(Ðất Nghĩa một chiều mưa-1965)

Gọi Bà Huyện Thanh Quan thời đại mới’ do lời thơ không dẫn về  “ lối xưa xe ngựa hồn thu thảo “ mà dẫn đến những ngày Paris mù sương, như cảnh trong tranh của Monet, Renoir , cùng những trầm tư với Hugo, Alexandra Dumas, Marcel Proust, André Gide, Albert Camus, J.P.Sartre, Saint Exupéry. Kể từ thưở ấy đến nay những bài thơ lục bát “Tình ca” vẫn trẻ mãi ,như “Không tuổi“ như „Trái sầu „luôn giữ màu chín đỏ tươi mới

“Cái gì háo hức trẻ non
Tuổi bao năm lại ăn tròn thôi nôi”
(Không tuổi -1960)
Những vần thơ không già cỗi do chúng thường gây ngạc nhiên , niềm ngạc nhiên vui thích khi mở món quà :

Sóng dâng còn ngấn môi kề
Ðêm hôn bãi nhớ, sớm về viễn khơi.

Muối nồng vị mặn tình quê
Sóng ôm nguyên gói biển về tặng tôi.
(“Quà biển,” Vũng Tàu-1962)


..
bất ngờ thú vị như màu mắt đưa người vào khoảng không gian thần thoại:

Thôi em xanh mắt bồ câu
Vàng tơ sợi nhỏ xin hầu kiếp sau.
( Kiếp sau- 1956)
Cung Trầm Tưởng thuộc vào vị trí hàng đầu trong 20 năm Văn học miền Nam trước 75 có lẽ do những vần thơ độc đáo của ông không chỉ thoát đi từ “nghìn xưa đến tận nghìn sau” mà vì ông đã sáng tạo lối mới trong kỷ thuật làm thơ,một”ngôn ngữ đôi” với màu sắc cộng sinh hài hòa:

Điển chế thơ bằng ngôn ngữ đôi
Ý nâu xem lẫn nghĩa hung vàng
Như trong xanh hứa của màu mận,
Nghe vỡ eo xèo trái nẫu đen
(
Một Hành trình thơ-trang 43)

Từ đóTình ca” không chỉ là tập thơ gối đầu giường cho những người yêu thơ .Tình ca” đã và sẽ tiếp tục đưa lối , dẫn dắt những ai muốn tập làm thơ vào khu rừng ngôn ngữ thi ca , học kỷ thuật nắm bắt , tạo dựng ngô n ngữ đậm tính huyền thoại pha màu hiện sinh.

Bù em một thoáng trời gần,
đơm hoa kết mộng cũng ngần ấy thôi!
Bù em góp núi chung đồi
thiêu nương đốt lá cũng rồi hoang sơ
( Kiếp sau- 1956)

2- Lời Viết Hai Tay.

Như lời tác giả diễn giải:
“Khi hai tay bị còng khóa số 8, khi hai chân bị cùm gông thiết diệp, khi thân xác bị trói gù lưng tôm, cái tâm người thơ cũng trực tiếp bị xúc phạm, nhức nhối và khốn khổ. Tâm chập vào thể, ra một nhất nguyên. Người thơ tù biệt giam – tù của tù – lấy cái đầu viết hộ cho hai tay bị còng, làm thơ như chơi cờ tưởng”.
(MHTT, trang 130).
Ý nghĩ Làm thơ cả hai tay” ngay khi hai tay bị khóa còng số 8 đã gây chấn tận tâm can người đọc,những vần thơ đã biến thành vũ khí chống trả lại chế độ cùng hung cực ác.
Người ta phải rùng mình khi nghĩ đến thân phận chàng lãng tử hào hoa phong nhã đang ở nơi đầy ánh sánh văn minh kinh kỳ như Paris bỗng chốc phải rơi vào thời vượn cổ hoang sơ, man rợ đến mức lý trí và sức sống con người có thể bị bóp chết nghẹn.
Nhưng kỳ diệu thay ở nơi đó tâm hồn thi sĩ lại bừng sáng hơn bao giờ như ngọn lửa tâm linh bừng sáng qua lửa luyện ngục.

Tác giả đã bảo :
Làm thơ là để giải phóng ẩn ức, tìm một quân bình phiếm định trong một bất trắc triền miên. Ức chế càng tích lũy, càng o ép, anh ách như chửa trâu, sự lâm bồn càng khó khăn, đau đớn toạc xé, và thơ ra đời như một chiến thắng hân hoan”( MHTT-trang 131)

Những vần thơ Cung Trầm Tưởng không tầm thường trần trụi theo cảnh sống .Nơi ngục giam tăm tối ngôn ngữ thơ vẫn huyễn hoặc đưa người đến chốn siêu thực,thoát cảnh thực tại:

“Nắng nhói như kim thêu thương tích
Thuyền mây từng mảng vỡ lênh đênh
Trên trăm ngàn mảnh trời kia vỡ
Có một đời ta trôi bấp bênh”.
( Xuân trên đồi bão cát-Trại tù Suối Máu-1976)

Bài “Nguyệt thực “ gây xúc động tột cùng :dưới ánh trăng sáng vằng vặc không như Lý Bạch ngắm trăng “vọng cố hương” ,thi sĩ phải đối mặt thực tế nảo nề với hai chân bị phù do cùm giam cùng với những người bạn tù đang bị cơn đói hành quặng ruột.Ánh trăng từ nước chiếc gàu sòng đang tát ra không thơ mộng như câu ca daoHởi cô tát nước bên đàng- Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi” .

Trăng biến thành dòng cháo loãng có thể ăn ngay được như tựa đề
Nguyệt thực”.

Thơ xoa dịu cơn đói , xoa dịu chứng phù nề, khiến chân thoăt thoắt chạy vào khoảng không gian bé thơ xanh thơm hương lúa:
..ngày xưa xanh cốm đòng đòng,
em theo mấy chị chạy rong trên đồng
ngày nay lòng nhẹ như không
Say trăng đói đói nằm chồng lên trăng

Ánh trăng quện nước gầu sòng
Trời loang loãng cháo dưới dòng sao Tâm
(
Nguyệt Thực-Trại tù Hòa Bình –Thu 1978)
..
Bắc Đẩu Võ Ý ,người bạn tù cùng qua bao trại tù với thi sĩ Cung Trầm Tưởng đã bảo: 
Liều thuốc cần thiết giúp cho tôi và bạn tù vượt qua tuyệt vọng chính là những vần thơ phản kháng của Cung trầm Tưởng mà Giáo sư N
guyễn Ngọc Diễm gọi là Nộ thi :

Mồ hôi tuột cán cuốc trơn
Nắm cho chặt cán căm hờn nầy nghe …
( Đuốc hờn-Đồi 300-1978)

..
Một quắm. Hai tông. Ba phạt núi
Bốn tông. Năm quắm. Sáu băng rừng
Từng ấy rừng băng chân cứng đá
Mai về đạp vỡ cửa lao lung…
….
.Hãy chặt chặt sâu tông phắt phắt
Hãy phang phang gắt quắm ào ào
Mai về đạn nhảy ngay nòng súng
Trực chỉ đầu thù nổ thật mau”…

(Cấp số nhân-Hoàng Liên Sơn -1978)

Căm giận một chế độ đã lấy một chủ nghĩa cuồng điên làm kim chỉ nam:    

 Nó cõng vua Lê và chúa Mác.
Về quê cha giết mẹ hiền lành                                                                Tang sô bạc xóa đầu con trẻ
Cỏ ngút sân trường, chợ vắng tanh .

Tết 1976, khi nghe chuông nhà thờ Tam Hiệp gióng lên lúc giao thừa, nhỏ lệ vì thân phận tù đày thi sĩ viết bài Lệ Chuông tặng cho người bạn tù Võ Ý,xung quanh là những bộ mặt cai ngục tàn ác và thân phận người tù bị lừa phỉnh  

 “đi học tập cải tạo “ như chim gẫy cánh:
..
Một bầy người hám hôi tâm thú
Tru tréo căm thù sủa sủa om

Trời nuôi dông bão chim không biết
Ngơ ngác bay vào lưới bủa vây

Nay muốn bay lên không có trời
Trong lồng gẫy cánh nằm im hơi

(Lệ Chuông-Tam Hiệp -Tết 1976)

Đau thương khi nhớ đến người thân

Đêm nằm ruột rỗng, vai run
Đầu kê tiếng suối, chân đùn bóng đêm
Mỗi ngày hận tủi chồng thêm
Thương con, nhớ vợ đến mềm ruột gan!
( Nguyện cầu mùa thu-Hoàng Liên Sơn 1977)

Thương nhất vẫn là hình ảnh người mẹ già lặn lội qua bao quãng núi đồi để đi

“ thăm nuôi”
..
Mẹ gầy guộc đến thăm con hấp tấp
Quảy gánh về chiều sập ở non Tây
Mưa gió quất lưng tre cong phần phật
Bóng mẹ mờ lần khuất giữa mù mây
(Bóng mẹ chiều thu-Trại tù Hòa bình 1978)
Và những nàng “Tô phụ thời đại”

Có chồng mà tưởng như chồng mất
Hương nhang đã cháy ở trong lòng

Dẫu hờm căm nhưng tấm lòng vị tha của thi sĩ vẫn không đeo nặng oán thù ,vẫn chất chứa hy vọng về tương lai tươi sáng của đất nước:

Trái mai sau trái thơm nồng,
Lời thơ nhân ái về đong đầy hồn
(Xuân Hứng-1979)

Nơi tù giam tăm tối thơ đã là sức mạnh nâng đở vô biên cho tâm hồn thi nhân:
..Có em giàn phóng thần tiên
Sức nghìn cân đẩy phi thuyền anh lên”
(Trại tù số 4-Hoàng Liên Sơn Mùa Đông 1977)

Tình yêu,lòng chung thủy đã giúp người ta vượt lên tất cả:

Hai người hóa một thịt xương
Dắt nhau đi tới cùng đường thương đau”
(Mùa Chay-Trại tù Hàm Tân 1984)

Dẫu đau thương tàn khốc một cõi thơ dịu dàng,mơ mộng vẫn luôn có trong tâm hồn thi nhân:

Em gồm chín cõi xanh dương
Lồng đôi mắt thẫm khôn lường vị tha

Đón em nguyên nghĩa vuông tròn
Dù cho thân xác vẫn còn chia đôi
Mai sau ngủ gốc cây sồi
Làm thiên thu chiếc miếu ngồi thờ em”.
(
Đường Vào Thiên Thu, 1984).

Tác giả đã nói Lời Viết Hai Tay là một mùa màng gây dựng mười năm miền luyện ngục chờ người đọc đến gặt hái cho mình”

( Một hành trình thơ-trang135)

Khi đọc  “Lời Viết Hai Tay” tưởng chừng như ta đang bước trên

Cánh đồng bất tận” không thể gặt hái hết được.

Vì cội rễ đau thương một dân tộc đã chôn sâu trong những lời thơ được viết nên bằng đôi tay cùm xích đầy dấu vết nhọc nhằn, thương đau. Những trang lịch sử phác họa bằng thơ sẽ tồn lưu vĩnh cửu, dẫu đó là những trang sử đen tối nhất nó vẫn ngời sáng tinh thần anh dũng bất khuất của người chiến sĩ VNCH.
Đừng than vãn cũng đừng rên rĩ
Đau đớn vùi câm đáy mắt nhìn.
( Lời viết hai tay- Trại tù Hàm Tân 1984)

3- Bài Ca Níu Quan Tài.
Nhan đề Bài Ca Níu Quan Tài được chuyển sát nghĩa từ từ Hán Việt “vãn ca”, tức hát níu quan tài. Vãn còn có nghĩa là một điệu hát buồn dùng để khóc than. Sự kết hợp nhuần nhuyễn của ba động tác khóc, hát và níu đã cung cấp cho người khóc Việt Nam một khả năng lột tả tối ưu nỗi đau ê chề, bề bộn của cảnh sinh ly tử biệt…Vì được viết bằng cái tâm nên sử thi nầy không thể không là một bản cáo trạng về tội ác của cộng sản” (CTT, MHTT, trang 293)
Với ý nghĩ theo hai câu:

Tim nào xót xáy tìm ra chữ
Ngang tầm thảm họa thế kỷ hung ?

Bài ca níu quan tài “đã trở thành “Đoạn trường Tân thanh “của dân tộc Việt sau 1975 với những số phận nghiệt ngã, cảnh đời đen tối nhiều nước mắt,đau thương.

Đây là bản cáo trạng của “Tội này,tội đến nghìn đời không quên” gây ra bởi”Một bầy thú kỳ dị”đặc biệt cho những gia đình bị khoát lên người chữ “Ngụy”

Ngón đòn lý lịch lạ kỳ,
Cha là “Ngụy” phạm trường quy con rồi…

Đưa cả nước tiến lên “ XHCN” theo kiểu:..

Tiến là tại chổ giậm chân
Dìm miền Nam xuống cùng bần nấc thang

CCT                                                              

 Cung Trầm Tưởng, cầm lá sớ thơ, và Viên Linh tại trụ sở Trung Tâm Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại trên đường Bolsa, quận Cam, 1992.     (Hình: Phan Diên)

Nhà thơ Viên Linh đã gọi những vần thơ lục bát của Cung Trầm Tưởng là “Lục Kinh Bát Quái” ở “Bài ca níu quan tài “ trở nên hoành tráng hào hùng của tập sử thi đẩm lệ đau thương, tố cáo tội ác của “loài dả thú” đã đẩy con người vào cảnh man rợ,  nhân cách bị chà đạp tận bùn đen nhưng vẫn bật lên chống trả ngạo nghễ..

Hạnh phúc vò đau tay thú ác
Ân tình chà nát gót đười ươi
Em vẫn hiên ngang từng lóng trúc
Vút roi quật ngã kẻ thù người.

Tóc vấn phong ba em đứng mũi.
Một thuyền léo lái cõi càn khôn
Đau thương nhuốm mắt em kỳ diệu
Ngời tỏ lưu ly tuyệt bích hồn
(Kỳ Cùng)
Theo Bắc Đẩu Võ Ý, cựu Trung tá Phi đoàn trưởng Phi đoàn Bắc Đẩu 118 thuộc Không Lực Việt Nam Cộng Hòa ,ông đã có 6 năm tù chung với Thi sĩ Cung Trầm Tưởng trong các trại tù Suối Máu (1975), Liên Trại 6 Hoàng Liên Sơn (1976-1979) và trại Hà Tây (1979-1981). Năm 1981, trại Hà Tây giải tán, thi sĩ Cung Trầm Tưởng bị chuyển về trại Hàm Tân. Năm 1985, ông được ra tù. Vừa ra khỏi tù, ông đã âm thầm viết “Bài Ca Níu Quan Tài” (BCNQT).

BCNQT được viết tay vào một tập vở học trò như một quả bom nghìn tấn được cất dấu tại từng 3 một chung cư ngay trung tâm Sai Gòn .

( Bắc Đẩu Võ Ý).

Thiếu Tá Lâm Tùng Nguyên, Trưởng Phòng Quân Báo Sư Đoàn 4 KQ đã nhận lời học thuộc lòng khúc cả ngàn câu thơ BCNQT trong vòng một tháng, trước khi gia đình anh qua Mỹ theo diện ODP vào năm 1989. BCNQT xuất bản tại Mỹ năm 2001. Thơ tù của CTT, di sản văn hóa của dân tộc, đã được đồng đội cưu mang trong tình nghĩa như thế.   ( Bắc đẩu Võ Ý).

Quyết tâm đem thơ từ chốn tù ngục ra miền tự do đã cho thấy ý chí bất khuất của người chiến sĩ VNCH. Tinh thần anh dũng bất khuất cũng đã được nhà thơ Cung Trầm Tưởng biểu tượng qua hình ảnh cây Vầu , loại cây cùng họ tre trúc,đứng thẳng trên triền dốc núi cao ,bất kể mưa nắng đầy khí phách can trường như người chiến sĩ QLVNCH trước kẻ thù gian ác.

Lòng ta đứng vững như vầu
Thân cao lóng thẳng dưới bầu trời xanh
Xum suê cây hút nhựa lành
Nguồn sâu đất dưới hóa thành lá trên
Cực hình thú ác gây nên
May bằng nứa tép đứng bên vầu già
Mỗi ngày vầu mỗi lớn ra
Đổi thay lá mới, đậm đà lóng tươi
Vầu đanh như thép sáng ngời
Nắng mưa thì cũng trọn đời đứng ngay”.
(Biểu tượng-Trại tù Cẩm Nhân-1978)

4- Những Dấu Chân Ngang Trên Một Triền Phiếm Định.

Sau những giờ  chân bám ngang vất vã leo triền núi dốc trơn như mở lời thơ bật lên tiếng hú dài như đang đến mức “tuyệt đỉnh công phu” của miền thơ ca đầy tính phiếm định ,tư lự :

Gửi lại bờ dấu chân ngang,
Mắt chong âm bản ngỡ ngàng hoàng hôn.
Gửi heo may phấn màu hồn
Rắc trong u tịch thoáng bồn chồn đen.
Gửi sông hồ không thân quen
Lăn tăn luyến nhớ đan xen hãi hùng.
Gửi sương giăng tang mông lung
Một sao hôm khóc thẹn thùng mù khơi.
(Những Dấu Chân Ngang Trên Một Triền Tĩnh Lự)

Những câu thơ đã dẫn dắt linh hồn hay linh hồn đưa thơ leo từng nấc thang từ triền Tư lự qua triền Dấu ái đến tận triền Ngữ Sự để rồi lại chìm đắm vào triền Mộng Thức.
Ngôn ngữ thơ tại đây đã được nghiền ngẫm như “sôi kinh nấu sử”:
Phủi sạch nguyên âm chùi mẫu tự,
Nhặt từng tử ngữ ba dan đen.
(Tận cùng Mán)

CCT

Đi về hướng hoang sơ để tâm hòa cùng chốn thành tiên của nguồn ngôn từ bất tận êm,khi êm dịu ,lúc trúc trắc,khi hòa hợp lúc tương phản đối nghịch như lên cơn cuồng chữ:
Mỗi từ nộ dọa cô đơn điên
(Tận cùng tận)
..Hay như lên cơn sốt:
Đầu ở trong phong du Thổ chu
Ngôn từ nhựa sốt vỡ da du
Rễ sau ngầm nghĩ phong tư tưởng
Đảo ngữ từ trong cổ thụ gù
(Tận cùng phong du Thổ chu)

Những Phiếm định mơ hồ khi đứng trước Bản thể chứa đối lập giữa Nhất nguyên Nhị Trùng,người hay bóng,bóng trong người hay người đã bỏ bóng để rồi soi bóng tìm người..
..
Ta,người hình chập nhất nguyên,
Nhìn người chẳng thể đứng bên mà nhìn.
( Nhị Trùng)
..
Thân xác tôi da liền thịt gắn,
Hình bóng người tôi kiếm triền miên
..
..Phải thế chăng tuy hai mà một
Cái rành rành một lại là hai
..
..Tôi hằng muốn vời xa thân thể
Soi bóng dòng sông kiếm một người..
(Một người- bầu trời- chiếc lá và dòng sông)
Tình yêu lại đưa thi nhân về miền Dấu ái ,ngập tràn khúc hoan ca đầy tiếng đàn sáo.
Có thể gọi đây là “Tấu thi” đưa Tình Yêu lên ngôi:

Vào tình ái như bước vào cung điện
Tuổi bốn mươi đội vương miện ở hồn
Con thiên nga trong tím ngát hoàng hôn
Vẫn điệu nghệ hình thơ và dáng nhạc
(Ad Libitum)

Tình nồng nghĩa mặn hoan trào,
Yêu nhau thẩm thấu hồn vào với nhau
(Giao khúc)

Từ đó hồn say ngủ trên một triền Mộng thức ngay cả khi đứng giữa thế nhân.Từ đó thi nhân như „ngủ đứng,ngủ ngồi „đầy mộng mị giữa chợ đời:
..
Ngủ ngồi mớ với cô liêu,
Sếu trong đầu lượn với diều thụy du
(Minnesota-Mùa băng tan)               

05- Thi Bá – Con Tắc Kè và Bà Góa Phụ.

Như Bắc Đẩu Võ Ý đã phân tích:
Tiếng kêu của Con Tắc Kè trong đêm vắng, biểu thị cho nỗi cô đơn. Bà Góa Phụ là nạn nhân của chế độ. Khi tuyệt vọng và cô đơn, Bà Góa Phụ mới phát hiện tiếng kêu của Con Tắc Kè, bà hàn huyên tâm sự với nó. Con Tắc Kè như thông cảm nỗi đau khổ của bà. Con Tắc Kè chính là hóa thân của Thi Bá. Tóm lại, người thi sĩ sinh ra là để ca ngợi và tô điểm cuộc sống, người thi sĩ cũng luôn tìm cách làm vơi đi nỗi khổ của thế nhân. CTT thể hiện Tâm Sử Thi nầy như một vở kịch thơ mà “lời thoại” được đẽo gọt qua từng “con chữ” thể hiện tính riêng biệt trong “cõi thơ” của mình..”
Cõi thơ ở đây không êm ả vì đầy tiếng gào than khóc giữa địa ngục nơi hạ giới:
Địa ngục trần gian đất nước này
Một phường ngạ quỷ máu đầy tay
Bàn thờ Phật nó ngồi chồm hổm
Phóng uế ngay trên định nghĩa người.

Thi sĩ Cung Trầm Tưởng đã nói :
Tội ác lớn nhất của Đảng CS là biến dân tộc VN thành dân tộc nói dối..”.

Dối trá khiến thời thế đảo điên theo kiểu
..“Sáu đảo ,Mười đâm ,cát lộn vừng”
Thơ là ngôn ngữ nguyên sơ nhất để đưa Sự thật ra ánh sáng thật nhẹ nhàng.

Thi sĩ không có tâm hồn trả thù..ông chỉ buồn , gửi tâm vào tiếng tắc kè kêu đêm:
Hỏi tắc kè sao đằng tặc lưỡi?
-Buồn thì tâm sự Bắc Kỳ ơi !

6- Mỗi Dặm Đường Một Nghìn Vần Thơ.

Bản trường ca thơ diễn tả cảnh đẹp thiên nhiên hòa hợp giữa núi rừng cây cỏ ,chim hoa muông thú  cùng vũ điệu muôn ngàn cấu thể

Nõn trắng và nguyên trinh
Một vũ điệu tượng hình
Của giao thoa phân tử”

7- Sáng Ký Về Người Tình Đầu.

Cuộc Hành trình của người thơ từ chốn thiên đàng về nơi hạ giới để cứu rỗi loài người.Hành trình qua suốt bao nhiêu hành tinh để đến địa cầu:
….
Thủy thổ mộc hỏa kim tiền khoáng thạch,
Cuộc hành trình góp nhặt thán nguyên sơ…


Hành trình đi từ Sát na dương gian đến cạn cõi Thiên Hà bỏ lại trần thế

những vần thơ tuyệt mỹ:

.”Một sát na đủ tát cạn thiên hà,
Triều lũ rút màu phì nhiêu gửi lại


Thơ ca đưa hồn lạc vào chốn Thiên thai đầy hoan lạc của thiên thần khúc như một khúc Khải huyền trầm tư cùng Mộ khúc và Dạ khúc.

CCT (16)
Có thể bảo Cung Trầm Tưởng có vóc dáng “ một Phạm Duy trong Thi ca“với ý tưởng táo bạo , ngôn ngữ khổ luyện ông đã dựng nên tài sản Thơ đồ sộ muôn màu, muôn vẽ.
Ông Văn Nguyên Dưỡng đã có ý bảo Thi sĩ Cung Trầm Tưởng có thể là Nhà thơ lớn thứ tư của nhân loại sau Lý Bạch (701-762) ,Rabindranath Tagore (1861-1941) và Abu’l-Ala al-Ma’arri (973-1058) .  

Và ông  “ thành thực mong mỏi giới thi nhân trẻ nên nghiên cứu nhiều thi ca Cung Trầm Tưởng để từ đó canh tân thi ca Việt Nam trong tương lai.”.
Ở đây thật  đau lòng khi phải nhắc đến hai chữ “ Lưu vong”.

Biết đến bao giờ những vần thơ của thi sĩ Cung Trầm Tưởng sẽ quay về ngự trị chính thức trên vùng trời thi ca đất Việt.Ngày đó chắc chắn sẽ đến cùng với những đổi mới như ông mong ước:
Mai sau thịt thắm da liền,
Cái yêu khác trước, cái nhìn khác xưa,
Cái tin vô cớ xin chừa,
Sống sao cho xứng lũy thừa thương đau.
(Điểm Tâm Xuân Hoàng Liên Sơn năm 1978)

Một nhà thơ lớn đã đi  cùng lịch sử dân tộc chặng đường dài 60 năm và vẫn còn đi mãi đến chốn khôn cùng của Thơ :

Và đi cho tới cùng đường
Của heo hút xứ khôn lường khổ đau.
Thoắt đi tóc đã phai màu
Như nghìn tang trắng quấn đầu vi lô.
Chiều tê sương sập nấm mồ
Vùi chôn chú bé mơ hồ năm xưa.
(Hoàng Liên Sơn, miền Bắc, năm 1978,Như Cây Lau cúi bạc đầu) ..

..
Cái đẹp sẽ cứu rỗi nhân loại” (Dostoevski), những vần thơ tuyệt đẹp của Cung Trầm Tưởng không chỉ cứu giúp bạn tù vượt qua cảnh khốn khó, nó còn cho chúng ta niềm tin quý giá rằng Thiện sẽ thắng Ác,Nhân nghĩa sẽ thắng Hung tàn.
Những vần thơ vượt thoát chốn tù đày như hòn ngọc bị dập vùi trong sóng gió  qua bao ghềnh đá lởm chởm nhọn vẫn không vết xây sướt ,vẫn giữ nguyên vẹn dáng viên ngọc đẹp tỏa sáng lóng lánh . Cho thấy cái đẹp trở thành bất tử khi được cất giữ trong tim óc: trái tim yêu thơ ca của người chiến sĩ VNCH, khối óc can trường đã đem những vần thơ đẹp như ngọc từ ngục tối thoát ra chốn tự do.

Hãy trân trọng “Một Hành Trình Thơ “ như viên ngọc quý biểu tượng cho Tự do của chúng ta ,những người Việt Hải ngoại.

Dương Hoàng Mai
Munich 20.10.2013


Bài tham khảo

Bắc Đẩu Võ Ý – Cung Trầm Tưởng-Một Hành Trình Thơ (1948-2008)
http://url9.de/Nrj


.Những kỷ niệm trong tù với Cung Trầm Tưởng
http://url9.de/NrC


Lục bát Cung Trầm Tưởng ( Viên Linh)
http://url9.de/NrA


Nói chuyện với nhà thơ Cung Trầm Tưởng( Thụy Khuê)
http://thuykhue.free.fr/stt/c/nc-ctt.html


Cổ dao Cung Trầm Tưởng
http://chimviet.free.fr/tacpham1/stt2/CTT01.html


Cung Trầm Tưởng-Một Hành Trình Thơ (Nguyễn Mạnh Trinh)
http://url9.de/Nrx


Văn Nguyên Dưỡng
Tản Mạn Về Cung Trầm Tưởng Nhà Thơ Lớn Của Nhân Loại
http://url9.de/Nrw


Phát biểu Ngày Ra Mắt Thơ Cung Trầm Tưởng(Trần Văn Nam)
http://url9.de/Nrz


Lục bát Cung Trầm Tưởng, một đóng góp lớn cho văn học( Du Tử Lê)
http://url9.de/Nrk


Cảm xúc về chiều thơ nhạc Cung Trầm Tưởng( Nguyên Trần)
http://url9.de/Nrh


Nguyễn Cao Quyền
http://url9.de/Nsu

Advertisements

Hãy ghi ý kiến, thắc mắc của bạn vào đây:

Trage deine Daten unten ein oder klicke ein Icon um dich einzuloggen:

WordPress.com-Logo

Du kommentierst mit Deinem WordPress.com-Konto. Abmelden / Ändern )

Twitter-Bild

Du kommentierst mit Deinem Twitter-Konto. Abmelden / Ändern )

Facebook-Foto

Du kommentierst mit Deinem Facebook-Konto. Abmelden / Ändern )

Google+ Foto

Du kommentierst mit Deinem Google+-Konto. Abmelden / Ändern )

Verbinde mit %s