HAI MƯƠI NĂM MIỀN NAM(2)

Qua HAI MƯƠI NĂM MIỀN NAM 1955-1975

của Nguyễn Văn Lục

MỘT LẦN NHÌN LẠI

UYÊN THAO

Nguyễn Văn Lục không là sử gia, không là học giả, không là nhà văn và cũng không bao giờ là chính khách nên không thể quy cho tác phẩm của ông bất kỳ tính chất nào liên quan đến các chức danh đó.

Tác phẩm của ông có thể gọi là ký sự, là sưu tập, là nhận định, là tạp luận…, nhưng quan trọng hơn hết không phải tên gọi mà chính là tác động gợi nhắc từ những con người, những sự kiện đã ghi dấu một thời oan nghiệt của nhiều thế hệ con dân Việt Nam, trong đó có Nguyễn Văn Lục đã hiện diện như một chứng nhân và cũng là một nạn nhân.

Những bài viết tập họp thành nội dung tác phẩm HAI MƯƠI NĂM MIỀN NAM 1955-1975, vì thế, không chỉ là tập họp những bức chân dung thời thế của một đoạn đường lịch sử mà còn là tiếng gào bức thiết của những thân phận bị giam hãm giữa trăm ngàn đoạ đày vò xé để khơi lên mọi hướng suy tư cần thiết nơi mỗi người đọc.

*

TQH (2)

Với tôi, gợi nhắc từ những dòng chữ của Nguyễn Văn Lục là tâm cảnh của nhiều cựu binh Mỹ trong cuộc chiến Việt Nam, và cái tên đầu tiên hiện đến là Robert F. Turner với nỗi ước mong tuyệt vọng đã đeo bám không rời suốt hơn 30 năm kể từ 1975 tới nay.

Robert F.Turner có mặt tại Việt Nam từ 1968 tới 1975, là sĩ quan bộ binh, tòng sự tại cơ quan JUSPAO bên cạnh toà đại sứ Mỹ. Do đó, Turner đã có dịp gần gũi đại sứ Graham Martin và một ngày cuối tháng 4/1975, đại sứ Martin đã kéo Turner vào phòng làm việc, đóng cửa lại, trút cơn phẫn nộ bằng những lời la hét kết án các nhân vật lãnh đạo tại Washington về cách hành xử của họ trước thực tế cuộc sống Việt Nam.

Nửa giờ ngắn ngủi chứng kiến sự giận dữ của một người phải bó tay bất lực trước viễn tượng tai ương của đồng loại khiến Turner luôn coi đại sứ Graham Martin là một vị anh hùng hiếm hoi của nước Mỹ. Vì qua các tác phẩm viết về Việt Nam cũng như nhiều buổi thuyết trình, chính Turner đã hơn một lần bày tỏ ước mong có thể quên nổi những hình ảnh từng chứng kiến tại Việt Nam vào tháng 4/1975 –– cảnh những bậc cha mẹ hốt hoảng quỳ lạy bất kỳ ai có thể giúp đưa được con mình rời khỏi Việt Nam trước khi Cộng Sản tràn tới, cảnh những đứa trẻ mồ côi ngơ ngác vì bị vứt lại giữa cơn hỗn loạn mịt mù, cảnh hàng triệu người bỏ hết gia cư tài sản tháo chạy giữa trăm ngàn hung hiểm nhưng cuối cùng vẫn không thoát khỏi vòng vây tai hoạ.

Những hình ảnh đó luôn hiện ra trong ký ức Turner khiến mỗi khi chỉ nhìn thấy một sinh viên Việt Nam, thậm chí một sinh viên Á Châu, ông cũng không kìm nổi nước mắt vì nhớ lại những gương mặt, những ánh mắt tê dại thất thần mà ông từng đối diện.

Turner đã rời xa quân ngũ trở thành một giảng sư tiến sĩ Luật tại Đại Học Virginia, là người đồng sáng lập Trung Tâm Luật An Ninh Quốc Gia, là tác giả nhiều cuốn sách nổi tiếng và qua nhiều vai trò tại Bộ Quốc Phòng, tại Uỷ Ban Ngoại Giao Thượng Viện, tại Toà Bạch Ốc…

Ông cầu mong thời gian sẽ giúp xoá nhoà tất cả, nhưng tới nay, 2010, ông phải thú nhận: “Chuyện ấy không xảy ra và tôi biết là tôi sẽ đem những hình ảnh đó theo xuống đáy mồ”.

Trong nỗi đau tuyệt vọng đó, ông không thể quên lời lẽ và hành vi của những kẻ đã thúc đẩy phong trào mệnh danh là vãn hồi hòa bình cùng nhiều tiếng nói quyết định trong Quốc Hội Mỹ vào thời điểm 1975 để phải thú thực một mong cầu trái ngược hẳn với tâm nguyện của đời ông là: “Nếu còn một chút công lý thì những kẻ như John Kerry, Ted Kennedy, Franck Church, Clifford Case, J. William Fulbright và một lũ khác nữa, phải mục nát dưới Địa Ngục.”

Dưới mắt Turner, những kẻ đó không bao giờ chối bỏ nổi trách nhiệm tiếp tay tàn sát hàng triệu sinh linh vô tội, góp phần xô cả một dân tộc vào địa ngục và làm tủi hổ vong linh của 58.196 người Mỹ đã hy sinh mạng sống cho một lý tưởng cao đẹp.

*

Cùng hướng suy tư đó, cựu binh James Webb không ngừng thắc mắc:

“Biết giải thích ra sao với các con tôi rằng khi tôi ở tuổi mười tám, đôi mươi, tiếng nói ồn ào nhất của nhiều người cùng thời lại nhằm phá nát nền tảng xã hội Mỹ để tạo dựng một xã hội theo quan điểm đầy tự mãn của họ. Lúc này nhìn lại, chính chúng ta từng trải qua thời kỳ ấy vẫn không hiểu nổi tại sao những kẻ có trình độ học vấn cao, phần đông sinh ra từ giới thượng lưu, lại gieo rắc các tư tưởng phá hoại đầu độc bầu không khí từ thập niên 1960 tới đầu thập niên 1970. Ngay chính Quốc Hội cũng bị nhiễm vi khuẩn.”

Thắc mắc càng lớn hơn khi trước mắt James Webb là một thực tế xác minh bằng những con số hiển nhiên cho biết đa số người dân Mỹ không hề tán đồng lời hô hoán của các đám đông gây ồn ào thuở đó.

“Kết quả thăm dò Gallup từ 1966 đến khi Mỹ chấm dứt tham chiến cho thấy lớp trẻ Mỹ kiên trì ủng hộ cuộc chiến Việt Nam hơn mọi lớp tuổi khác. Tháng 1/1973, khi 68 phần trăm dân chúng trên 50 tuổi tin rằng gửi quân qua Việt Nam là một sai lầm, chỉ có 49 phần trăm thuộc lớp tuổi từ 25 đến 29 đồng ý. Phát hiện này biểu thị rõ lớp trẻ nói chung không theo chủ trương cấp tiến và điều này được củng cố bởi kết quả cuộc bầu phiếu năm 1972, qua đó lớp tuổi 18 đến 29 ưa thích Richard Nixon hơn George McGovern với tỷ lệ 52 so với 46 phần trăm.”

Đồng thời, “theo kết quả thăm dò dư luận của Harris thì 6 phần 10 dân chúng Mỹ cho rằng việc đưa quân vào Cam Bốt là hợp lý. Đa số được thăm dò ý kiến vào tháng 5/1970 đều ủng hộ và còn ủng hộ tái oanh tạc miền Bắc Việt Nam.”

Bên cạnh những con số đó là hàng loạt những con số hàm ẩn nhiều ý nghĩa đáng kể. Qua cuộc thăm dò toàn diện của Harris năm 1980, các chiến binh tham chiến tại Việt Nam dù bị bôi bẩn thường xuyên trên phim ảnh, qua các bản tin, trong các lớp học… bằng hình ảnh chiến binh miễn cưỡng và thất bại vẫn được đa số người dân Mỹ tôn trọng. 73 phần trăm dân chúng tán thành câu phát biểu

“Vấn đề rắc rối ở Việt Nam là quân đội bị đòi hỏi chiến đấu trong cuộc chiến mà giới lãnh đạo chính trị ở Washington không cho phép họ chiến thắng.”

Cuộc thăm dò còn nêu một “nhiệt kế cảm giác” ghi sự đánh giá của dân chúng về các thành phần với thang điểm từ 1 đến 10. Kết quả là các chiến binh phục vụ ở Việt Nam đạt 9.8 điểm, giới y sĩ đạt 7.9 điểm, phóng viên truyền hình đạt 6.1 điểm, trong khi các chính khách chỉ đạt 5.2 điểm, thành phần biểu tình chống chiến tranh đạt 5 điểm, và những kẻ trốn quân dịch chạy sang Canada được vỏn vẹn 3.3 điểm.

Phần ghi nhận ý kiến còn cho thấy 91 phần trăm người từng qua Việt Nam đều tự hào đã phục vụ đất nước, và 74 phần trăm cảm thấy thoải mái với thời gian trong quân đội. Thêm nữa, 71 phần trăm cho biết họ sẵn sàng trở qua Việt Nam chiến đấu một lần nữa, ngay cả khi biết kết quả cuối cùng vẫn như thế và sự mỉa mai sẽ đổ lên đầu họ khi họ trở về.

Trước thực tế này, Jams Webb cho rằng không thể viện lý do nào để bào chữa cho nỗ lực đánh gục nền dân chủ còn phôi thai tại miền Nam Việt Nam, nhất là những hành động diễn ra sau khi quân đội Mỹ đã triệt thoái.

Vậy mà

“Liên Minh Hoà Bình Đông Dương do David Dellinger điều động, được Jane Fonda và Tom Hayden cổ võ truyền bá, phối hợp chặt chẽ với Hà Nội suốt thời gian 1973-1974, đã có thể tới mọi khuôn viên đại học Mỹ, tập hợp sinh viên hô hào chống lại điều họ gọi là những con ác quỷ trong chính quyền miền Nam Việt Nam. Các đồng minh của họ tại Quốc Hội thì liên tục thêm các tu chính án cắt viện trợ cho người Việt Nam chống Cộng, cấm cả việc dùng không lực tiếp cứu chiến binh miền Nam đang bị tấn công bởi các đơn vị Bắc Việt do khối Xô Viết viện trợ.”

Tán trợ cho hành động đó là giới truyền thông đã tạo ra các sự việc ngược với thực tế trong khi nhiều đại diện dân cử liên tục có những lời lẽ ngây thơ đến mức ngu xuẩn như kiểu dân biểu Christopher Dodd:

“Gọi chế độ Lon Nol bằng từ đồng minh là sỉ nhục chữ nghĩa … Tặng phẩm lớn nhất mà đất nước chúng ta có thể tặng cho nhân dân Cam Bốt là hòa bình chứ không phải súng đạn. Cách tốt nhất để đạt mục đích này là chấm dứt tức khắc việc viện trợ quân sự.”

Mức ngu xuẩn còn vượt khỏi giới hạn cuối cùng với Tom Downey khi vị đại diện dân cử 26 tuổi này công khai ca ngợi Cộng Sản và chế giễu các cảnh báo về tội ác diệt chủng sẽ xảy ra ở Cam Bốt: “Chính phủ cảnh báo rằng chúng ta rời bỏ các quốc gia ấy thì sẽ có tắm máu. Nhưng cảnh báo cho việc tắm máu trong tương lai không thể biện minh cho việc kéo dài tắm máu hiện nay.”

Giữa cơn mê sảng tìm kiếm lời lẽ diễn tả những chân lý ở trên chín tầng mây, những người này đã quên hẳn cục diện phân tranh quốc tế trong đó nước Mỹ đang bị Cộng Sản coi là kẻ thù không đội trời chung. Nhưng không chỉ bằng lời nói mà bằng cả hành động, những người này đã đặt miền Nam Việt Nam vào tình thế được James Webb ghi lại bằng những dòng nghẹn uất:

“Sau này, tôi hỏi chuyện các người lính miền Nam Việt Nam còn sống sót từ các cuộc giao tranh, trong đó có nhiều người phải qua hàng chục năm trong các trại tù cộng sản. Những điệp khúc sau như không bao giờ dứt: “Tôi hết sạch đạn.” –– “Tôi chỉ có 3 trái pháo cho mỗi khẩu pháo một ngày.” –– “Tôi không còn thứ gì để phát cho lính.” –– “Tôi phải tắt máy truyền tin, vì không chịu đựng nổi những lời kêu xin tiếp viện…”

Kết quả cuộc chiến đã rõ và hình ảnh phơi bày trước mắt là “những thân hình xoay giữa không trung như những bông tuyết, rơi xuống chết thảm khốc sau khi đeo bám tuyệt vọng vào thân trực thăng hay máy bay …”

Tất nhiên không chỉ có hình ảnh này mà đã có vô vàn cảnh kinh hoàng tiếp nối nhiều năm do “hàng trăm ngàn người dân Việt Nam phải chạy trốn “ngọn lửa cách mạng tinh khôi” trên những con tàu ọp ẹp, cuộc chạy trốn được báo trước có thể vùi thây ngoài biển, hoặc là hình ảnh hàng ngàn chiếc sọ người Cam Bốt lăn lóc trên đồng hoang, một phần nhỏ trong số hàng triệu người bị tàn sát bởi các “giải phóng quân” Cộng Sản.”

Nhưng, nỗi sửng sốt thực sự của James Webb không khởi từ các hình ảnh bi thương đó mà khởi từ các hình ảnh khác.

“Tại trung tâm Luật Khoa đại học Georgetown, việc miền Bắc Việt Nam ngang nhiên xé bỏ các điều khoản cam kết trong hiệp định Paris 1973, và tiếng xe tăng Bắc quân lăn trên đường phố Sài Gòn được coi như lý do để thực sự reo mừng.”

Trước đó ba tuần, ngày 8/4/1975 trao giải Oscar 1975 cho bộ phim Hearts and Minds và cho diễn viên Bert Schneider tại Hollywood đã biến thành ngày chào mừng Cộng Sản Việt Nam.

Bộ phim Hearts and Minds có nội dung tấn công các tiêu chuẩn giá trị văn hóa Mỹ cùng cố gắng hỗ trợ cuộc chiến đấu cho nền dân chủ của miền Nam Việt Nam, còn Bert Schneider là người tích cực hỗ trợ Cộng Sản. Đó là những thứ đã được trao tặng giải điện ảnh Oscar 1975. James Webb kể lại cảnh tượng Hollywood hôm đó: “Schneider công khai xác định sự ủng hộ Cộng Sản. Đứng trước máy vi âm, ông ta phát biểu “Thật kỳ quái khi chúng ta ở đây vào thời điểm mà Việt Nam sắp được giải phóng.” Và khoảnh khắc kinh ngạc nhất của Hollywood diễn ra. Vào lúc đất nước Việt Nam mà nhiều người Mỹ đã đổ máu và nước mắt để bảo vệ, đang tan rã dưới vòng xích xe tăng Cộng Sản, Schneider lôi ra một điện tín của đoàn đại biểu Cộng Sản Việt Nam ở Paris, và cao giọng đọc lời kẻ thù của chúng ta chúc mừng cuốn phim. Lập tức, những kẻ quyền uy nhất Hollywood đứng bật dậy hoan nghênh việc Schneider đọc bức điện tín này.”

Đó là hai sự kiện thực sự khiến James Webb sửng sốt vì không thể không tự hỏi về những người kia:

“Họ là ai mà cuồng nhiệt đầu độc cái nhìn của thế giới về chúng ta như thế? Vì sao họ có thể chống lại chính đồng bào của mình dữ dội như thế? Vì sao họ có thể đứng bật dậy hoan nghênh chiến thắng của Cộng Sản, kẻ thù đã cướp mạng 58000 người Mỹ và sắp đè bẹp một đồng minh bảo vệ dân chủ?

Cách nào để nói được rằng chúng ta và họ đang sống trong cùng một đất nước?”

James Webb xác định không bao giờ có thể nguôi ngoai bức xúc về việc đã có những con người như thế trên đất Mỹ, nơi tự do được coi là quyền sống thiêng liêng của con người và đã có truyền thống coi việc bảo vệ quyền sống thiêng liêng đó cho mọi người trên trái đất là một nghĩa vụ.

Tuy nhiên khác với Turner cầu mong những kẻ đó sẽ mục nát dưới địa ngục, James Webb cố nhìn về những động cơ sâu thẳm nào đó thúc đẩy họ hành xử như thế và còn tự hỏi lúc này họ đang mang tâm tưởng ra sao?

James Webb rời Việt Nam trước Robert F. Turner, trở về Mỹ từ 1972, đã tham gia nhiều lãnh vực sinh hoạt từ viết sách, sản xuất phim ảnh, hoạt động truyền thông, làm việc tại Quốc Hội, là Phụ tá Bộ Trưởng Quốc Phòng, rồi Bộ Trưởng Hải Quân thời tổng thống Reagan và hiện nay đang có mặt tại Thượng Viện Mỹ với tư cách đại biểu cho tiểu bang Virginia.

Vùng vẫy trong một không gian rộng lớn với nhiều khung trời khác biệt và đã qua một thời gian khá dài, James Webb vẫn chưa tìm nổi câu trả lời mong đợi.

Chỉ một lần vào năm 1995, ông được nghe một người trả lời và đó là câu trả lời duy nhất cho nỗi bức xúc của ông. Người trả lời là cựu ứng cử viên tổng thống Mỹ năm 1972, George McGovern từng nổi tiếng với hình ảnh kẻ tình nguyện đi bằng đầu gối tới Hà Nội.

Trả lời câu hỏi của James Webb về lý do hành xử như vậy khi vẫn có thể xoay chiều cuộc chiến ngay năm 1975, George McGovern nói: “Anh không hiểu là tôi không muốn chúng ta chiến thắng cuộc chiến đó sao?”

Câu trả lời lại đặt thêm một dấu hỏi là tại sao có thể có ý muốn đó và tại sao chỉ một nhóm nhỏ, thậm chí chỉ một số cá nhân lại có thể đưa đất nước tới điều họ muốn trong khi đại đa số trông chờ điều ngược lại thì đành bó tay?

Nhưng James Webb cũng tìm được câu trả lời tương đối về tâm tưởng của những kẻ đó. Sự câm nín gần như né tránh của Hollywood tới mức hơn 30 năm qua, không có nổi một cuốn phim đủ tầm vóc về các chiến binh Mỹ ở Việt Nam với đầy đủ danh dự và trong khung cảnh chính xác cùng số phận con người Việt Nam trong và sau cuộc chiến, từ các trại tập trung, giữa cuộc sống bị bóp nghẹt dưới chế độ công an trị hiện nay…có thể coi là bằng chứng của một vết thương đang bị giấu kín. James Webb cho rằng

“cảm giác kinh hoàng đã phải đến với những kẻ từng đem cuộc hành trình của tuổi trẻ ra đánh cá cho cái ý nghĩ đất nước mình là một lực lượng ác quỷ, khi họ thức tỉnh về sự ngây thơ vào những năm tháng sau năm 1975.”

Sự câm nín đó có vẻ được kể như dấu hiệu sám hối hoặc ít nhất cũng là một cách tự thú lỗi lầm của những kẻ thiếu can đảm công khai nhìn nhận các sai trái đã phạm. Họ cố ẩn mình thật kín để được chìm trong lãng quên. Tuy đây không phải là cách phù hợp với các tiêu chuẩn đạo đức tối thiểu nhưng có thể thông cảm cho tâm tưởng kinh hoàng của loại người hèn yếu và trong chọn lựa này chắc chắn họ sẽ không còn tác hại cho đời.

Cho nên, dù chưa nắm rõ nguồn cỗi dẫn đến những ý nghĩ như ý nghĩ của McGovern, James Webb vẫn quay về tỏ bày tâm sự với đám đông mang tâm nguyện tốt lành nhưng đã bó tay mặc cho các mưu đồ ma quái vẫy vùng:

“Chúng ta hãy thực tình ngay thẳng. Thật vô cùng tủi nhục khi nhìn gương mặt một thương binh, hay nghe diễn từ tốt nghiệp của một học sinh thủ khoa người Mỹ gốc Việt Nam, mà người cha quá cố của em từng chiến đấu bên cạnh người Mỹ cho một lý tưởng từng bị mỉa mai, chế giễu, khinh rẻ. Và thật vô cùng xấu hổ khi hệ thống chính quyền của chúng ta đã cho phép học sinh đó sớm thành đạt như thế ở đây chứ không phải ở quê hương của em.”

Dù không thể dằn cơn uất hận trước những kẻ u tối nhẫn tâm, những cựu binh từng là nạn nhân của các hành vi ngược đãi vẫn nghĩ trước hết tới nghĩa vụ công dân đối với đất nước và bổn phận con người đối với đồng loại ở các phương trời xa. Họ đã gánh nhận mọi hậu quả tệ hại do hành vi của những kẻ u tối nhưng lại coi đó là điều tủi nhục xấu hổ của chính bản thân với lời tự nhủ cố vươn lên để ngăn tái diễn những nỗi đau tương tự ở bất kỳ nơi đâu. 35 đã qua nhưng nỗi đau của những nạn nhân trên mảnh đất Việt Nam xa thẳm vẫn nặng trĩu trong tim họ, dù họ không hề gây ra những nỗi đau đó mà chỉ là những người như đại sứ Graham Martin từng phẫn uất vì bị buộc phải bó tay không cho ngăn chặn những nỗi đau đó.

Quả tình khó tránh thắc mắc là vào giờ này có bao nhiêu người Việt Nam, nhất là những người đang tự hào vì nước vì dân, còn nghĩ đến “cảnh những bậc cha mẹ hốt hoảng quỳ lạy bất kỳ ai có thể giúp đưa được con mình rời khỏi Việt Nam, cảnh những đứa trẻ mồ côi ngơ ngác trong vòng hỗn loạn mịt mù giữa tai hoạ trùng điệp” hay “những thân hình xoay giữa không trung như những bông tuyết, rơi xuống chết thảm khốc sau khi đeo bám tuyệt vọng vào thân trực thăng, những lớp lớp nạn nhân bị vùi lấp tức tưởi giữa biển sâu”… như Robert F. Turner, như James Webb không thể rời xa suốt nhiều năm qua? Vào giờ này, những kẻ đã và đang trực tiếp gánh vác trách nhiệm về cuộc sống Việt Nam có ai còn nhỏ những dòng nước mắt như Turner, như James Webb trước những cảnh đã kể?

*

Tâm tưởng của những cựu binh Mỹ lại dẫn tôi tới với câu chuyện “làm rơi nước mắt” do người bạn trẻ –– Đào Vũ Anh Hùng –– ghi lại và gửi cho tôi.

Tôi gặp người bạn này 47 năm trước, khi đang bó gối trong nhà tù còn anh là một sinh viên trẻ cũng vừa trở thành tù nhân. Từ đó chúng tôi trở thành bạn và anh đã là người bạn trẻ của tôi gần trọn nửa thế kỷ qua. Nhân vật chính trong câu chuyện do Đào Vũ Anh Hùng ghi lại và gửi cho tôi cũng là một cựu chiến binh Mỹ tham chiến tại Việt Nam có tên Rich Luttrell.

30079426_tamanh2409_1

Năm 1967, Rich tròn 17 tuổi, sống trong một gia đình nghèo tại tiểu bang Illinois. Rich tình nguyện gia nhập quân đội và qua Việt Nam năm 1968, trong Chiến Đoàn 101 Nhảy Dù. Câu chuyện mở đầu vào một ngày nóng bức khi Rich có mặt trong một cuộc hành quân. Rich không hề biết mình và quân địch đang ở tình thế cách nhau chỉ vài thước giữa một khu rừng già.

Rich kể lại “từ khóe mắt, bỗng thấy một động đậy và nhận ra một binh sĩ Cộng Sản ngồi tựa vào khẩu AK 47.” Rich đã lọt vào tầm đạn của địch và cái chết chỉ còn cách một nhịp tim. Rich thấy toàn thân như đóng băng khi nhìn thẳng vào mắt người lính Cộng Sản và cho biết “Dường như chúng tôi đã chăm chú nhìn nhau.” Đó là lúc ngón tay Rich tự nhiên kéo cò súng, và kẻ địch gục xuống.

Liền ngay đó là cả khu rừng rung chuyển giữa cơn mưa đạn và Rich đã được một đồng đội nhiều kinh nghiệm xô nằm xấp xuống. Một ý nghĩ hiện đến với Rich là kẻ địch có thể nổ súng trước và chắc chắn Rich đã chết trước khi nhìn thấy anh ta. Ý nghĩ này khiến Rich không ngừng thắc mắc “Tại sao hắn không bắn?” Nhưng thắc mắc này không dày vò Rich mà là một thứ khác –– một tấm hình.

Khi trận đánh chấm dứt, những người lính toả ra đi tìm kỷ vật trên xác địch quân. Một người rút ví của tên địch vừa bị Rich bắn hạ và một mẩu giấy rơi ra. Rich cúi xuống lượm, nhận ra một tấm hình chỉ lớn bằng con tem chụp người lính và một cô gái nhỏ.

“Họ là ai”?

Rich không thể biết. Rich đã ngồi xuống nhìn mặt kẻ chết để coi có phải hình anh ta không nhưng vẫn không biết chắc. Tuy nhiên hai người trong hình chắc chắn là hai cha con. Hai người trong hình quá trang nghiêm, quá buồn. Phải chăng họ chụp tấm hình này ngay trước khi từ giã nhau?

Rich cảm thấy đau đớn và quyết định giữ tấm hình. Đã hơn một lần Rich được hỏi về lý do quyết định như thế và chỉ có thể trả lời:

“Tôi không biết. Tôi đã suy nghĩ cả triệu lần rồi. Cái phần đầu tiên tôi trông thấy trong tấm hình là cô gái, và cô ta có một cái gì buồn bã lắm.”

Sau trận đánh đầu tiên ấy, Rich mau chóng thành chiến binh thiện chiến.Tuy nhiên, Rich vẫn không tránh khỏi tai hoạ chiến trường khi chỉ còn 20 ngày nữa sẽ hết hạn phục vụ để hồi hương.

Ngày đó, đơn vị của Rich bị phục kích và trong lúc lao lên cứu một đồng đội, Rich bị trúng đạn vào lưng. Lúc được trực thăng tải thương bốc đi, Rich cảm thấy như có lỗi vì đã bỏ rơi đồng đội.

Nhưng rồi Rich cũng quen với nhịp sống êm ả tại quê nhà, nhất là sau khi lập gia đình và có hai đứa con gái. Những người thân của Rich không hề nghe Rich kể về cuộc chiến nhưng đều biết Rich có một tấm hình trong ví và có một ràng buộc đặc biệt với tấm hình.

Tấm hình không nặng tới một gam nhưng luôn đè nặng trái tim Rich cho tới khi Rich đã qua tuổi tứ tuần và ý nghĩ luôn nổi lên trong đầu Rich là “tội nghiệp con bé không còn cha nữa.”

Năm 1989, khi đi thăm đài kỷ niệm tử sĩ trận vong Việt Nam tại Washington D.C, Rich quyết định tự giải thoát bằng cách bỏ tấm hình dưới chân Bức Tường. Rich ngồi đối diện với tấm hình, ngắm kẻ đã bị mình bắn hạ hơn 20 năm trước, viết một lá thư ngắn:

„Thưa ông,

Suốt 22 năm nay, tôi giữ hình ông trong ví. Hôm ấy tôi mới 18 tuổi, khi chúng ta trông thấy nhau trên con đường mòn gần Chu Lai, Việt Nam. Xin tha thứ cho tôi đã giết ông. Ðã nhiều lần trong những năm qua, tôi nhìn hình ông và người con gái tôi đoán là con ông. Mỗi lần tim tôi bừng cháy với nỗi đau tội lỗi.

Xin ông tha thứ cho tôi.“

Rich đặt tấm hình và lá thư tại chân Bức Tường ghi tên 58 ngàn binh sĩ Mỹ tử trận tại Việt Nam và cho biết „hành động ấy tương tự sự đứng nghiêm chào lần cuối cùng. Người lính ấy chết vì chiến đấu cho niềm tin của anh ta. Và đây là một cách vinh danh và bày tỏ lòng tôn kính anh ta.“

Rich cho biết cảm giác lúc ấy:

„Anh ta không còn là kẻ thù nữa, mà là một người bạn. Giống như chào vĩnh biệt một người bạn. Lúc đó, tôi như vừa chấm dứt một trận đánh, buông ba lô xuống để nghỉ ngơi. Cái gánh nặng tôi mang nay không còn nữa.“

Nhưng thực tế không hoàn toàn như thế.

Bảy năm sau, năm 1996, khi Rich gần như quên tấm hình thì một người quen là dân biểu Ron Stephens đột ngột tìm gặp. Stephens đặt lên bàn của Rich một cuốn sách và nhắc: “Mở trang số 53.” Trên trang sách đó là tấm hình kèm theo nguyên văn lá thư ngắn mà Rich đã viết.

am anh

Tấm hình do Rich bỏ dưới chân tường đã lọt vào mắt một cựu chiến binh khác là Duery Felton.

Duery là người quản lý phòng sưu tập tại đài kỷ niệm lập tức bị thu hút bởi tấm hình cùng bức thư và đã quyết định giữ lại. Duery không thể nói rõ tại sao lại có quyết định đó mà chỉ diễn tả như một hành động vừa tự nhiên vừa kỳ bí không thể hiểu nổi.

Cô gái bé bỏng rời khỏi Rich lại ám ảnh Duery cho tới khi một nhà xuất bản yêu cầu Duery giúp hoàn thành một cuốn sách về Bức Tường Tưởng Niệm.

Duery đưa tấm hình và lá thư vào cuốn sách với lời ghi: „Tấm ảnh này ám ảnh tôi nhiều năm, dù tôi không biết cô bé là ai.“

Cuốn sách tình cờ tới tay người bạn của Rich.

Do đó, 7 năm sau, tấm hình lại trở về với Rich khi ông theo lời nhắc của bạn mở trang sách số 53.

Nỗi ám ảnh cũ thành mạnh mẽ hơn khiến Rich liên lạc với Duery xin lại tấm hình. Duery bay từ Hoa Thịnh Ðốn tới Illinois gặp Rich. Hai người đàn ông không hề quen, chưa từng gặp nhau đã ôm nhau khóc vì tấm hình một cô bé mà cả hai cũng đều không biết là ai.

Sau đó, Rich thấy cần công khai cho mọi người biết rằng ông đang tìm cô gái kia. Vì thế Rich trả lời một cuộc phỏng vấn của tờ báo St. Louis Post Dispatch, và câu chuyện được đăng lên trang nhất tờ báo.

Rich cắt bài báo, nhét vào một bao thư cùng với một lá thư gửi cho đại sứ Hà Nội tại Hoa Thịnh Ðốn, cho biết cần được giúp đỡ để tìm người con gái và gia đình người lính trong tấm hình. Đương nhiên người nhận thư phải chuyển về Hà Nội, nhưng chuyện vẫn như mò kim đáy biển khi sự giúp đỡ chỉ là một tờ báo tại Hà Nội in lại tấm hình và câu chuyện như một bài báo bình thường. Bài báo không thu hút người đọc và câu chuyện cũng không được một cơ quan công quyền nào của Hà Nội lưu tâm.

Nhưng tờ báo may mắn được dùng làm vật gói đồ và bay về một làng quê do một người con ở Hà Nội gửi đồ về quê biếu mẹ.

Khi mở gói đồ của con, bà mẹ lưu ý tới tờ báo nhàu nát in hình một người bộ đội. Thật kỳ lạ là bà nhận ra ngay người trong hình và lập tức cầm tờ báo đi tới một xóm nhỏ, báo cho chị em một gia đình ở đó biết tấm hình là cha của họ.

Thế là từ Mỹ quốc cách xa ba ngàn dặm, ba tuần sau Rich nhận được một lá thư từ toà đại sứ cho biết:

“Có một người tên là Nguyễn Văn Huệ viết thư cho biết ông ta tin rằng tấm hình chính là hình của cha ông ta, và người con gái nhỏ ấy là chị ông ta.”

Rồi Rich nhận được lá thư thứ hai mà ông phải đi kiếm người thông dịch để biết đó là thư của cô bé trong hình, viết như sau:

“Kính gửi ông Richard,

Đứa nhỏ mà ông đã chăm sóc qua tấm hình hơn 30 năm bây giờ đã trưởng thành rồi. Đứa nhỏ ấy đã trải qua nhiều đau khổ trong tuổi thơ ấu vì mất bố và nhớ thương bố. Tôi hy vọng ông sẽ đem lại niềm vui và hạnh phúc cho gia đình tôi.”

Thế là ba mươi năm sau khi thấy tấm hình lần đầu, Rich biết đứa bé trong hình còn sống tên là Lan, đã 40 tuổi và đã có con cái.

Nhưng tin vui vừa nhận được lại như rơi vào tuyệt vọng, khi cơ quan điều tra nội bộ của chính quyền Hà Nội cho rằng cha của Nguyễn Thị Lan không thể là người trong hình, vì hồ sơ quân đội chứng minh ông ta tử trận tại nơi khác so với địa điểm Rich nói. Tình hình rối ren hơn khi có 3 gia đình khác lên tiếng nhận tấm hình là hình cha của họ.

Rich không còn biết tin ai, nhưng rồi một đồng đội của người chết là bạn cùng đơn vị xác nhận đây là bạn đồng đội của ông ta và là cha của Nguyễn Thị Lan.

Kết quả cuối cùng đã có và Rich quyết định bay qua Việt Nam, đích thân đặt tấm hình vào tay cô bé.

Lúc này đã là mùa Xuân năm 2000 và là năm thứ 33 kể từ khi Rich nhìn thấy tấm hình. Ðó là một ngày Thứ Tư u ám tại Hà Nội.

Trời có vẻ sắp mưa trong lúc Rich bước lên chiếc xe Van để làm một chuyến đi hai giờ rưỡi tới làng của Lan. Chiếc xe chạy qua một vùng xa lạ, qua những khu chợ đầy các khuôn mặt ngạc nhiên khi thấy một đám du khách và một người Mỹ tóc bạc.

Rồi Rich hoang mang, bước qua một bức tường đá và trông thấy người phụ nữ. Hai người đối diện và Rich lập lại câu tiếng Việt mà ông đã học thuộc lòng: “Hôm nay tôi trả lại tấm hình của cô và cha cô mà tôi đã giữ 33 năm.”
Cuối cùng tất cả tuôn ra như một sự giải thoát đau đớn kinh hoàng, Lan ôm lấy Rich và khóc.

Lan ôm Rich như thể Rich chính là người cha đã trở về từ cuộc chiến. Người em trai cho biết cả hai chị em dị đoan tin rằng linh hồn cha sống qua Rich. Ðối với họ, ngày hôm nay linh hồn cha của họ đã trở về.

Cả làng dồn tới xem tấm hình trả lại và tấm hình đã gây xúc động cho mọi người. Rich đã nghĩ tới một nghi thức trang trọng, nhưng cuối cùng chỉ là một câu nói đơn giản với người thông dịch: “Nói cho cô ấy biết đây là tấm hình tôi lấy từ ví của cha cô ấy cái ngày tôi bắn chết ông ta, và hôm nay tôi mang trả lại.”
Cô bé đã 40 tuổi, lần đầu cầm được hình mình và hình cha trong tay. Cô vùi mặt vào hình cha. Ðây là lúc cô có thể nhìn cha gần nhất kể từ khi cô lên 6 tuổi và cha ra đi. Ðây cũng là tấm hình duy nhất và đầu tiên của người lính Nguyễn Trọng Ngoạn.

Lan và người em trai tên Huệ đặt tấm hình lên bàn thờ cha mẹ. Rich cùng tham dự nghi lễ cầu nguyện trước bàn thờ. Rich nói, “Cha của họ là một người can đảm, và ông chết như một chiến sĩ can trường. Ông ta không bị đau đớn. Tôi rất tiếc.”

Những giờ sau đó, Rich gần như trở thành một người trong gia đình, có dịp gặp lại bạn đồng đội của người đã chết, và những kẻ thù xưa trao đổi các kỷ niệm chiến tranh như thể họ chính là đồng đội cùng chiến đấu bên nhau.
Đã quá khó cho Rich tìm được tới nơi đây, và cũng quá khó cho Rich từ giã nơi đây. Rich và Lan ôm nhau từ biệt và Rich đã bật khóc khi bước lên xe.

35n4shj

Ba mươi ba năm trước, Rich tới quốc gia này để tham chiến. Hôm nay ông trở lại để đem niềm vui tới cho một cô bé tội nghiệp, một niềm vui luôn gợi nhắc nỗi buồn. Ông đã không thể rũ bỏ nỗi tội nghiệp của cô bé suốt hơn ba mươi năm và có thể không bao giờ rũ bỏ nổi –– như Turner, như James Webb… Rich biết ông sẽ còn tiếp tục liên hệ với Lan và những người thân của cô.

Khi về tới Mỹ, ông nhận được thư của người em trai, Huệ, nhắc lại ngày gặp gỡ vừa qua: “Trong thời gian ông viếng thăm gia đình tôi, mọi người trong làng nhận thấy ông là người rất tốt và tử tế. Khi ông rời Việt Nam, tôi cảm thấy như cha tôi đã trở về.”

Rich đã trở thành niềm an ủi cho một nỗi đau giữa hằng hà sa số nỗi đau đang bị vùi lấp giữa lãng quên trên khắp đất nước Việt Nam. Cùng với thời gian chắc chắn sẽ còn không ít câu hỏi trỗi lên từ những nỗi đau như thế để hiểu rõ về nguyên do thực sự đã dẫn đến những nỗi đau cũng như những tấm lòng chia xẻ.

*

Nhớ tới những người Mỹ với những cái tên xa lạ Turner, Webb, Luttrell, Felton… khi rời những trang sách của Nguyễn Văn Lục, tôi lại thấy mình đối diện với tấm bia tưởng niệm các nạn nhân bỏ mình trên biển cả bị đục phá tan nát tại Galang. Sách đã gấp lại, nhưng những dòng chữ của Nguyễn Văn Lục gợi nhắc nhiều cảnh sống miền Nam hai mươi năm cũ bỗng biến thành những tiếng gào…

Virginia, May 15, 2010

UYÊN THAO

Mở xem thêm Video về câu chuyện của Rich Luttrell

Advertisements