Chuyện ở khu vực Bình Đông – Rạch Cát – Phú Định

Chuyện ở khu vực Bình Đông – Rạch Cát – Phú Định

(thuộc thành phố Saigon Chợ Lớn

 trước và sau năm 1975)

Hồi tưởng của Đoàn Thanh Liêm

* * *

12c1 luongvancanQuan 8

Trong thời gian tham gia sinh họat với Chương trình phát triển cộng đồng tại các quận 6,7,8 Saigon từ năm 1965 đến 1971, tôi có cái duyên được quen biết thân thương với nhiều bà con ở địa phương các quận ven biên này.

Vì thế mà dù sau khi chương trình này đã chính thức chấm dứt công tác vào năm 1971, tôi vẫn còn đi lại thăm viếng các thân hào nhân sĩ tại đây – kể cả sau năm 1975.

Trong bài này, tôi xin ghi lại một số kỷ niệm đáng nhớ về Người và Việc tại khu vực các phường Bình Đông, Rạch Cát và Phú Định hồi đó vẫn còn là 3 đơn vị thuộc về quận 7 Saigon.

Nhưng mà sau năm 1975, tất cả các phường này lại được sát nhập chung với quận 8 – để hiện nay cả hai quận 7 và 8 trước đây được gộp lại thành một đơn vị hành chính duy nhất được gọi là Quận 8 mà thôi.

I – Một chút ít về địa lý địa phương.

Khu vực nói ở đây là 3 phường được ghi rõ trên bản đồ thành phố Saigon Chợ Lớn trước đây – với tên gọi nghe lạ tai đối với đa số bà con ở ngòai khu vực địa phương – đó là Bình Đông, Rạch Cát và Phú Định.

Nhìn trên bản đồ, thì khu vực này nằm ở phía đuôi con cá thuộc phía tây nam của thành phố – nó bị phân cách bằng các con kinh nhỏ (gọi là kinh ngang) nối liền sông Kinh Đôi ở hướng Nam với Rạch Tàu Hủ phía Chợ Lớn ở hướng Bắc.

(Xin coi bản đồ đính kèm để minh họa cho bài viết này).

Sở dĩ tại khu vực này có nhiều kinh rạch là vì từ xưa việc chuyên chở hàng hóa – nhất là lúa gao từ miền đồng bằng sông Mekong lên Saigon – thì đều sử dụng ghe thuyền cho tiện lợi mà lại ít tốn phí.

Do vậy mà dọc theo sông Kinh Đôi cũng như Rạch Tàu Hủ thì có nhiều kho chứa lúa gạo và nhà máy xay lúa – mà hầu hết đều do người Hoa làm chủ. Chỉ trừ nhà máy Rượu Bình Tây là một cơ sở khá quy mô đồ sộ thì mới do người Pháp làm chủ.

Và phần đông dân chúng trong khu vực này là các gia đình người lao động nghèo khó – họ sinh sống nhờ vào các dịch vụ khuân vác hay buôn bán với các chủ ghe, các chủ kho, các chủ nhà máy.

Tính ra, tổng số dân cư trong cả ba phường này chỉ có đến vào khỏang 30,000 người mà thôi.

Với địa thế chằng chịt những kinh rạch như vậy, nên việc đi lại bằng đường bộ rất khó khăn – vì phải vượt qua những cây cầu gẫy khúc hình chữ U. Cụ thể như cầu từ Xóm Củi qua Bình Đông, cầu từ Bình Đông qua Rạch Cát v.v…

Vì thế mà khu vực này ít có người từ nơi xa – nếu không phải là thân nhân ruột rà của các gia đình cư ngụ tại địa phương – mà lai vãng đến thăm viếng du ngọan.

Mặc dù nơi đây vẫn còn giữ được sắc thái của phong cảnh đồng quê thật thơ mộng và mát mẻ tĩnh lặng – với nhiều vườn cây xanh tươi và các bến đậu cho ghe thuyền lui tới.

II – Công tác xã hội là nhịp cầu nối kết

giữa con người với nhau.

Chương trình phát triển cộng đồng chúng tôi ở mỗi khu vực địa phương, thì luôn bắt đầu bằng những công tác đơn sơ nhỏ bé nhằm góp phần cải thiện môi trường sinh sống của bà con trong các xóm hẻm.

Cụ thể như đặt đường cống thóat nước, chỉnh trang các con hẻm bằng cách lát xi măng – mở thêm những lớp dậy nghề, mở trạm y tế với dịch vụ khám bệnh phát thuốc v.v…

Mọi công tác này đều được thực hiện theo phương thức

“Phát triển Cộng đồng” – tức là cư dân tại chỗ cùng hội họp bàn thảo với nhau về việc tham gia thực hiện công trình cải tiến xã hội tại hạ tầng cơ sở nơi gia đình họ sinh sống. Qua những cuộc gặp gỡ bàn thảo, rồi cùng bắt tay vào việc thực hiện công tác – người góp công, kẻ góp của – thì bà con trong cùng một lối xóm lại có dịp gần gũi gắn bó với nhau chặt chẽ thêm hơn nữa.

Và dĩ nhiên là cán bộ thiện nguyện chúng tôi – dù từ nơi xa mà đến – thì qua việc vận động khởi sự công tác như thế lại càng dễ dàng tạo được sự tin tưởng và cảm tình thân thiện với bà con ở địa phương.

Và rồi lần hồi, chương trình phát triển chúng tôi tiến lên thực hiện những công tác xây dựng có quy mô lớn lao hơn nữa – đặc biệt là việc chỉnh trang tái thiết tại những nơi bị tàn phá nặng nề do cuộc tấn công vào dịp Tết Mậu Thân năm 1968.

Dưới đây, tôi xin lược thuật về tình hình ở địa phương trong dịp Tết Mậu Thân và công cuộc tái thiết sau đó.

1 – Những thiệt hại trong cuộc tấn công hồi

Tết Mậu Thân 1968.

Vì có nhiều kinh rạch, nên bộ đội cộng sản từ phía Cần Giuộc, Rạch Kiến Long An xâm nhập vào khu vực này thật dễ dàng. Với nhà cửa thưa thớt, nên sự thiệt hại về tài sản ở đây không đến nỗi lớn lao so với bên khu Chợ Lớn.

Nhưng sự thiệt hại về nhân mạng, thì ngòai số thường dân bị lạc đạn lúc di tản, còn có vài trường hợp viên chức chính quyền bị sát hại. Cụ thể như ông Giáo là Phường trưởng phường Rạch Cát thì bị bộ đội đem ra xử bắn ngay tại bãi đất trống trước nhà.

Hay như Trung tá Tước bị tử thương trong bót Cảnh sát Rạch Cát cũng gần nhà.

2 – Khu tái thiết Vạn Nguyên.

Đây là khu tái thiết lớn nhất tại khu vực này với trên 120 căn nhà được sắp xếp gọn gàng ngăn nắp theo từng lô – làm nổi bật khúc kinh rạch giáp ranh giới hai phường Bình Đông và Rạch Cát.

Khu tái thiết này có tên là Vạn Nguyên – vì lý do trước đây bên cạnh đó thì có một nhà máy xay sát lúa của một ông chủ người Hoa gọi là nhà máy Vạn Nguyên.

Khu này nằm ở phía cuối phường Bình Đông với hai cây cầu bác qua phía Rạch Cát và qua phía Lục Hòa, nên lúc nào cũng có gió mát thổi từ hai con kinh giao nhau hình thước thợ.

Vì các gia đình nạn nhân là Phật tử hay tín đồ Công giáo, nên nhờ sự hỗ trợ của cả hai vị lãnh đạo tinh thần là Thượng tỏa Thích Tắc Thành bên phía Phật giáo và Linh mục Nguyễn Huy Chương bên phía Công giáo – thì việc sắp xếp các lô nhà trong khu tái thiết này mới có thể được diễn ra thật êm thắm – với sự thuận thảo của tòan thể các gia chủ trong khu vực.

Còn về kỹ thuật, thì chúng tôi được kiến trúc sư Nguyễn Hữu An tự nguyện cung cấp cho cái bản họa đồ các mẫu nhà để cho các gia chủ bàn luận và chọn lựa kiểu nhà theo ý kiến của đa số.

Kết cục là chỉ trong vòng hai năm, khu tái thiết Vạn Nguyên đã được hòan tất trong niềm hân hoan phấn khởi của mọi gia đình trong khu vực.Vào năm 1974, tôi có dịp hướng dẫn Bác sĩ Văn Văn Của là cựu Đô trưởng và bà quả phụ Giáo sư Nguyễn Văn Bông đến thăm khu tái thiết này. Và trước sự hiện diện của hai vị khách quý này, bà con ở đây ai nấy đều tỏ ra hài lòng vì nhà cửa đã được sắp xếp và xây cất lại thật là ngăn nắp tươm tất.

cholon2

3 – Cơ quan xã hội CARE và những gia đình

có ghe đánh cá dọc theo sông Rạch Cát.

Trong dịp tấn công hồi Tết Mậu Thân, một số gia đình chuyên sống bằng nghề đi đánh cá dọc theo con sông Rạch Cát thì chịu sự thiệt hại do ghe bị bắn chìm, làm mất cả lưới, máy đuôi tôm và cả vỏ ghe. Sau khi chiến trận đã lắng dịu, bà con nạn nhân này kéo đến văn phòng

Chương trình Phát triển chúng tôi để nhờ xin giúp đỡ hầu có được phương tiện để tiếp tục hành nghề đánh cá làm kế sinh nhai.

Anh em chúng tôi phải đi gõ cửa nhiều nơi với các cơ quan từ thiện nhân đạo quốc tế mà có văn phòng ở Saigon. Kết cục là chúng tôi được ông Giám đốc cơ quan CARE – đây là một tổ chức từ thiện của người Canada và Mỹ mà đã họat động ở Việt nam từ năm 1954 với trụ sở ở đường Nguyễn Thông Quận Ba Saigon – chấp thuận cung cấp cho các gia đình nạn nhân này mỗi nhà một máy đuôi tôm lọai nhỏ để họ có thể lắp vào chiếc ghe đánh cá.

Bà con ai nấy đều mừng vui, biểu lộ lòng biết ơn đối với sự giúp đỡ thật quý báu của cơ quan từ thiện này.

Ít lâu sau đó, chúng tôi thật bất ngờ là được bà con ngư dân đem đến cho mấy

con cá tươi khá lớn, có con nặng đến 2 – 3 kilô. Họ nói để biếu chúng tôi vài con và còn lại thì nhờ chuyển đến tặng ông Giám đốc cơ quan từ thiện. Chúng tôi bèn thông báo cho cơ quan CARE và ông Giám đốc rất vui mừng và gửi lời cảm ơn về tấm lòng quý mến của bà con ngư dân.

Và ông nói tiếp là cứ để anh em chúng tôi nhận giùm và tùy nghi sử dụng món quà này do bà con trao tặng. Thành ra, bữa đó anh em trong Chương trình chúng tôi tất cả đều được thưởng thức một bữa cá tươi ngon thật là hậu hĩnh.

Mà xét cho cùng, chúng tôi đâu có làm được công việc quan trọng lớn lao gì cho bà con đâu. Rút cục chỉ vì cái chuyện làm môi giới đi xin xỏ chỗ này chỗ nọ, nên lại được hưởng món lộc thật là ngộ nghĩnh như thế đấy.

Rõ ràng đây là một cái kỷ niệm vui vui – mà sau này mỗi khi nhắc lại với nhau chuyện đó, anh em chúng tôi không khỏi ngạc nhiên mỉm cười thích thú.

Cũng như khi chúng tôi vận động đuợc với cơ quan từ thiện Oxfam của Anh quốc giúp một số gia đình tại Rạch Cát một ít vốn để nuôi gà nhằm tăng thêm lợi tức cho mỗi nhà.

Hay đi xin máy đan, máy may nơi cơ quan Cứu trợ Công giáo Mỹ (CRS = Catholic Relief Service) để trang bị cho các lớp dậy nghề ở Bình Đông, Rạch Cát – thì đó cũng là một thứ dịch vụ nho nhỏ nhằm góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế xã hội ở địa phương này.

Nói theo ngôn ngữ ngày nay, thì lọai công việc đại khái như thế cũng đều nằm trong phạm vi họat động bình thường của khu vực Xã hội Dân sự ở địa phương này mà thôi.

III – Chuyện vật đổi sao rời sau năm 1975.

Như trước đây tôi đã có dịp ghi nhận, thì Chương trình Phát triển Cộng đồng tại ba quận 6,7,8 đã phải ngưng họat động kể từ năm 1971 – theo lệnh của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu là vị lãnh đạo chính quyền thời đó. Và anh chị em thiện nguyện chúng tôi chia tay nhau – để ai nấy trở về lại với công việc làm riêng của mỗi người.

Nhưng cái mối tình cảm gắn bó thân thương giữa anh chị em chúng tôi với bà con thân hào nhân sĩ ở địa phương – thì vẫn tiếp tục được duy trì đến mãi sau này – kể cả sau năm 1975 lúc có sự thay đổi chế độ chính trị ở miền Nam Việt nam.

Dưới đây, tôi xin lần lượt ghi lại những cuộc thăm viếng gặp gỡ với một số nhân vật điển hình tiêu biểu tại địa phương – cụ thể là trong thập niên 1980.

1 – Gia đình bác Chín Thinh ở Rạch Cát.

Bác Chín Thinh là một nghiệp chủ, gia đình đã sinh sống lâu năm ở địa phương. Bác Chín ở vào tuổi 60 vào năm 1969 – 70, người thấp nhỏ nhưng có dáng đi thật vững chắc. Bác gái là cô ruột của Giáo sư Châu Tiến Khương dậy tại Trường Luật Saigon.

Tại nhà hai bác ở phía trước thường để cho đậu một xe chuyên chở hành khách lọai nhỏ gọi là xe lô (location) – chắc là của gia đình khai thác trên tuyến đường trong khu vực lân cận thành phố. Phía sau nhà có một vườn cây khá rộng trồng cây ăn trái như chuối, dừa, mận v.v…

Bác Chín là một trong những cư sĩ Phật giáo mà lại họat động rất tích cực sát cánh với các thành viên khác (như bác Đoàn Thanh Tịnh ở bến Phú Định mà tôi cũng mới viết về bác trong một bài gần đây về một số người quen biết lại cùng là họ Đoàn như tôi) trong sinh họat của các Hội Đình ở địa phương – cụ thể như Đình Bình Đông Phú Hội, Đình An Phú Tây.

Và bác Chín cũng luôn luôn hỗ trợ cho những công tác xây dựng và tái thiết do Chương trình Phát triển chúng tôi phát động chủ xướng.

Sau năm 1975, tôi hay tìm cách đến thăm gia đình hai bác và thường được hai bác giữ lại ăn cơm trưa – để có nhiều thời gian hàn huyên tâm sự.

Nói chung, thì cả hai bác không còn giữ được phong độ bình tĩnh phấn khổi như hồi trước. Hai bác chỉ có một người con gái cỡ ngang tuổi với tôi – đó là chị Tư. Chồng của chị Tư là Trung tá Tước đã thiệt mạng hồi Tết Mậu Thân nơi bót cảnh sát Rạch Cát gần nhà. Như vậy trong gia đình chỉ còn một cháu con chị mà được ông bà ngọai hết mực cưng chiều chăm sóc.

Vào giữa thập niên 1980, cháu may mắn thi vào được Trường Huấn luyện Thể dục Thể thao để rồi khi tốt nghiệp thì có nghề làm huấn luyện viên thể thao – nên cả nhà bớt được gánh lo cho tương lai của đứa cháu vốn dễ bị kỳ thị ví lý do có người cha là một “sĩ quan ngụy”.

2 – Gia đình Cô Hai Ơn chuyên dạy nữ công gia chánh

ở gần chợ Rạch Cát.

Là một người chuyện dạy về môn nữ công gia chánh cho nhiều thế hệ thiếu nữ tại địa phương, cô Hai Ơn là một phụ nữ được nhiều phụ huynh học sinh tin tưởng và mến mộ. Cô sống độc thân, nên dành hết thời gian để chăm sóc cho các em cháu trong nhà, cũng như hướng dẫn dìu dắt cho các môn sinh thuộc những gia đình sinh sống ở quanh vùng.

Có lần, tôi hướng dẫn một số bạn hữu người nước ngòai – mà làm việc trong các cơ quan từ thiện nhân đạo quốc tế – đến tham quan ở khu vực tương đối hẻo lành tại đây, thì được Cô Hai tiếp đãi với các lọai bánh đặc biệt do các học viên của Cô chế biến.

Bánh làm thật khéo đến độ các vị khách được thưởng thức thì đều hết sức khen ngợi và họ nói không ngờ là tại một địa phương khuất nẻo này mà lại có được một lớp nữ công gia chánh – hòan tòan do tư nhân điều hành – mà tươm tất đàng hòang như thế.

Sau năm 1975, thì một phần sức khỏe suy yếu vì tuổi tác, một phần do tình hình kinh tế khó khăn bế tắc, cô Hai không còn có cơ hội họat động năng nổ như trước nữa.

Và rồi Cô bị bệnh Alzheimer mất hẳn trí nhớ và chẳng bao lâu sau, thì tôi được tin là Cô đã lặng lẽ từ giã cõi đời trên dương thế này.

3 – Thầy Mười tức Thượng Tọa Thích Tắc Thành

tại chùa Đông Phước.

Chùa Đông Phước là một ngôi chùa cổ dễ đã được thiết lập cả trên 150 năm trước dưới thới Vua Tự Đức – vì trong khuôn viên có những ngôi mộ cổ rất xưa. Chùa tọa lạc phía trong một xóm hẻm khuất nẻo, gần khu chợ Bình Đông – lý do là vì chiến tranh nên nhiều bà con từ miền quê chạy về xây cất nhà lấn chiếm đất xung quanh chùa. Mà với tinh thần từ bi hỷ xả cố hữu, các vị tăng sĩ cũng thuận thảo xí xóa bỏ qua cho bà con được tá túc dưới bóng Đức Phật Tổ.

Từ thập niên 1960, vị trụ trì tại ngôi chùa này thì thường được bà con Phật tử thân mật gọi là Thầy Mười – mà đúng ra thì danh xưng chính thức của Thầy phải gọi là Thượng tọa Thích Tắc Thành – vốn xuất thân từ vùng đất Cần Giuộc, Cần Đước gần phía Gò Công. Thầy Mười tác người thấp nhưng có chiều ngang bề thế vững vàng – nhưng đặc biệt Thầy được nhiều bà con mến chuộng vì tính tình xuề xòa bình dị. Trẻ con người lớn trong lối xóm được tự do thỏai mái đi lại trong khuôn viên ngôi chùa như trong khu vườn riêng của nhà mình vậy.

Trước năm 1975, ngòai chuyện Phật sự thường ngày ở địa phương, Thượng tọa Thích Tắc Thành còn giữ nhiệm vụ điều hành Tổng vụ Tăng sự của Giáo Hội Phật giáo Việt nam Thống nhất nơi văn phòng trụ sở chính đặt tại chùa Ấn Quang nữa. Nhưng sau đó, thì Thầy tìm cách rút lui khỏi nhiệm vụ này – để còn chuyên tâm lo củng cố nền nếp sinh họat của giới Phật tử tại địa phương cơ sở mà thôi. Thầy cho biết là chỉ giữ thái độ “kính nhi viễn chi” đối với các chức sắc thuộc Phật giáo Quốc doanh do Mặt trận Tổ quốc điều động – mà Thầy biết rõ là họ chẳng có chút ảnh hưởng uy tín gì đối với khối quần chúng Phật tử ở địa phương.

Thầy Mười cũng cho biết là nhờ được theo học về may cắt từ những khóa huấn nghệ do Chùa đứng ra bảo trợ tổ chức hồi trước năm 1975 – mà bây giờ nhiều thiếu nữ đã có được việc làm trong các xưởng sản xuất áo quần mới mở rộng thêm ở địa phương. Còn về việc chăm sóc y tế, thì tủ thuốc trước đây do Thanh niên Phụng sự Xã hội tổ chức đến nay không còn thể họat động được nữa. Tuy nhiên, vốn quen thuộc với lối chữa chạy theo Đông Y, thì Thầy Mười vẫn còn có thể tự mình giúp đỡ cho bà con nào ghé đến chùa để nhờ xin chữa chạy những bệnh tật thông thường theo phương pháp gọi là Y học Dân tộc.

Vào giữa thập niên 1980, tôi hay có dịp đến thăm Thầy Mười và lần nào Thầy cũng giữ tôi ở lại mời uống trà và có khi còn mời tôi ăn cơm chay với Thầy nữa. Tôi được chứng kiến cảnh các Phật tử từ nhiều nơi đến viếng thăm Chùa và chuyện trò trao đổi thân tình với vị tu sĩ mà họ thật tâm quý mến tin tưởng.

Thầy Mười quả thật là một vị tu sĩ Phật giáo có đời sống đạo hạnh gương mẫu và gắn bó bền chặt với cộng đồng địa phương thông qua công trình phục vụ về y tế xã hội cũng như về tôn giao đối với quần chúng nhân dân mà đa số là thuộc những gia đình lao động nghèo túng trong một khu vực vào lọai kém phát triển nhất tại Saigon vậy.

4 – Linh mục Nguyễn Huy Chương tại giáo xứ Bình Đông.

Trước khi làm Linh mục, ông Chương đã là một Dân biểu hồi cuối thập niên 1950 dưới thời Đệ nhất Cõng hòa. Hồi đó, ông cùng với Dân biểu Kaki Nguyễn Văn Cẩn đứng ở thế đối lập tại Quốc Hội và được giới báo chí loan tin đây là hai Dân biểu mà gây được tiếng vang tại nghị trường.

Giáo xứ Bình Đông vào cuối thập niên 1960 do ông phụ trách coi sóc, thì chỉ có chừng vài trăm gia đình. Nhưng Linh mục Chương, ngòai việc sinh họat về tâm linh tôn giáo, thì rất chú ý đến việc tổ chức những lớp huấn nghệ cho các thanh thiếu niên ở địa phương. Những lớp này dậy về thêu đan may cắt dành cho các thiếu nữ và dậy về sửa máy móc như radio, xe hơi cho nam giới.

Linh mục Chương người ốm yếu, bị bệnh đau bao tử thường xuyên hành hạ, nhưng lúc nào ông cũng kiên trì tìm cách giúp đỡ tận tình cho lớp con chiên bổn đạo của mình – mà phần đông đều thuộc giới lao động cùng khổ ở địa phương.

Sau năm 1975, tôi có dịp ghé thăm, thì thấy Linh mục có vẻ không được thỏai mái với chuyện bị hạn chế trong các sinh họat về văn hóa xã hội – không còn được tự do họat động như trước kia nữa. Và chẳng bao lâu sau, tôi được tin ông bị công an bắt giữ và vào khỏang năm 1984 – 85, thì lại có tin ông bị chết ở trại A20 tức là nhà tù ngòai phía Nha Trang Tuy Hòa.

Nhân tiện cũng xin ghi thêm về trường hợp của một số tu sĩ Phật giáo cũng như Công giáo mà bị chết trong khi bị giam giữ trong nhà tù cộng sản ở miền Nam sau năm 1975. Về Phật giáo, thì có Hòa Thượng Thích Thiện Minh bị chết tại trại tù Hàm Tân vào năm 1978 – trong hòan cảnh không được minh bạch – mà cơ quan nhà nước không có được lời giải thích cho rõ ràng khả dĩ làm cho giới Phật tử yên tâm tin tưởng được.

Còn về phía Công giáo, thì có rất nhiều Linh mục, Tu sĩ bị chết trong tù – điển hình như Linh mục Hòang Quỳnh chết tại trại giam Chí Hòa.

Và các Linh mục Nguyễn Văn Vàng, Nguyễn Quang Minh, Nguyễn Văn Luân v.v…, thì đều chết tại nhà tù A20 như Linh mục Nguyễn Huy Chương vậy.

* * *

DSC00387_JPG

Bài viết đến đây kể đã khá dài rồi, tôi chỉ xin ghi thêm ít dòng ngắn ngủi nữa. Nói chung, thì qua công tác xã hội phục vụ đồng bào, anh chị em thiện nguyện viên chúng tôi có dịp tiếp cận và gắn bó thân thiết với quý vị thân hào nhân sĩ, cũng như giới lãnh đạo tôn giáo ở địa phương vốn xưa nay là một vùng hẻo lánh nhất tại khu ven biên thành phố Saigon Chợ Lớn.

 Vào năm 2013 này, hầu hết quý vị thân hào nhân sĩ vào thời đó thì đã ra người thiên cổ.

Tôi xin được bày tỏ lòng thương tiếc đến tất cả quý vị đã quá vãng.Hoặc giả nếu có một số ít vị mà còn tại thế, thì họ cũng đã ở vào tuổi sấp xỉ 90, già yếu quá rồi. Nhân đây, tôi cũng xin được gửi lời thăm hỏi chân tình đến từng gia đình của mỗi quý vị nữa.

 Tuy nhiên cái kỷ niệm tốt đẹp mà chúng tôi có duyên sát cánh với các quý vị trong công việc phát triển cộng đồng ở địa phương miền Bình Đông, Rạch Cát, Phú Định – để nhờ đó mà tạo ra được mối thiện cảm thân thiết gắn bó lâu bền với bà con.

Thì quả thật đó là những kỷ niệm thật tươi đẹp và nồng ấm – mà chúng tôi coi đó là cái phần thưởng tinh thần thật cao quý dành riêng cho những anh chị em thiện nguyện viên chúng tôi vậy.

 Nhằm đóng góp bài cho Đặc san Xuân Giáp Ngọ 2014, tôi xin lược ghi lại một ít kỷ niệm vui có, buồn có từ cái thời anh chị em trẻ tuổi chúng tôi còn say mê miệt mài với công tác xã hội nơi miền ven biên đô thị – mà cách nay đã đến gần 50 năm qua vậy./

Westminster, California cuối năm 2013

Đoàn Thanh Liêm

.

Advertisements