LỊCH SỬ CÒN ĐÓ

LSCĐ

Lời tựa

Tuyển tập các bài biên khảo của tôi viết lại về những biến động lịch sử kéo dài trên dưới hơn nửa thế kỷ. Có phần viết do tài liệu, phần khác do vốn sống, vốn kinh nghiệm mà viết ra.

Vì thế ít nhiều tuyển tập này nó chính là thành phần bản thân tôi, gia đình tôi, anh em tôi, bạn bè tôi. Tôi viết những điều đã sống, đã thấy.

Cho nên hơn nửa thế kỷ với những biến cố chính trị lớn ấy cũng là những mảnh phần đời của tôi đã sống đã trải nghiệm.

Tôi đã lớn lên từ những biến động lịch sử đất nước ấy.

Tôi cũng đã cách này, cách khác sống và nhìn thấy những gì đã xảy ra cho đất nước của mình: Từ trận đói mùa đông năm Ất Dậu, 1945 ngoài Bắc với những thây người chết đói xếp lỏng chỏng trên chiếc xe bò chở đi chôn không một chiếc quan tài. Người ta nói đến hai triệu người chết đói. Gần một phần tư dân số Bắc Việt…

Tôi nhớ lại những cảnh Việt Minh bắt người bí mật giam tại trại tù Lý Bá Sơ.

Ba chữ ấy đã in vào đầu óc non nớt của tôi từ bé, vì chính bố tôi cũng bị đi tù hơn một năm tại trại tù này. Và rồi hình ảnh những người bị ám sát rồi để trôi sông.

Cũng từ đó, tôi biết sợ những dòng sông, sợ những người Cộng Sản.

Nỗi sợ đó khó mà phai nhòa được. Nhất là sau này anh cả tôi bị giam tù 27 năm, cộng chung cả những năm bị quản chế. Và lúc được thả anh tôi đã không còn là con người nữa. Anh tôi chỉ còn là một phế vật.

Và rồi hình ảnh những người bị ám sát trước khi thả trôi sông.

Tôi sợ hãi những bóng ma cộng sản mỗi khi nhớ tới những điều ấy.

Đêm mở đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, lúc ấy chỉ có mình tôi lẻ loi ở lại Hà Nội. Tôi đã nhìn tận mắt sáng hôm sau, những súng gỗ vứt trên con đường đôi, nay là phố Hoàng Diệu, gần sở Hành Chánh Tài Chánh của Tây. Tôi ngỡ ngàng.

Cuộc chiến tranh Việt Pháp đã bắt đầu như thế đấy. Tôi cũng đã chứng kiến tận mắt cảnh tản cư, cảnh tiêu thồ kháng chiến như thế nào trên bờ đê sông Hồng Hà sáng tinh mơ ngày hôm sau ngày bùng nổ chiến tranh Việt Pháp. Hà Nội tản cư, vắng hoe, chỉ còn để lại những căn nhà trống. Tường bị đục thông thuông với nhau ở những khu phố cổ Hà Nội.

Tôi đã từng len lỏi, trốn nhủi qua những lỗ tường ấy. Như những thân phận loài chuột.

Lúc ấy, Hà Nội chỉ còn một dúm người sống chung quanh các khu phố Tây và khu nhà thờ Cửa Bắc.

Đối với tôi chiến tranh lúc bấy giờ, tôi chỉ là đứa trẻ mồ côi.

Tôi đã sống vất vưởng trong mấy năm trời cho đến khi nhiều gia đình bắt đầu dinh tê về Hà Nội. Cuộc sống hồi sinh và tôi bắt đầu đi học trở lại.

Rồi không ai ngờ rằng gần mười năm sau kết thúc chiến tranh Việt Pháp với trận Điện Biên Phủ.

Một triệu người bỏ nhà cửa di cư vào miền Nam. Bỏ Cộng Sản mà đi.

Có thể là một bất hạnh cho một số gia đình. Nhưng chung cục, tôi vẫn nhìn lại và thấy đó là điều may cho gia đình tôi và chính tôi. Bởi vì không có miền Nam, không có cuộc di cư ấy, chắc gì tôi đã được ăn học tử tế ra người.

Tuổi thơ ở ngoài Bắc có thể không có gì để nói nữa.

Nhưng cả quãng đời tuổi trẻ của tôi ở miền Nam thân yêu là những ngày vui nhiều hơn ngày buồn. Cứ nghĩ đến điều này thôi, tôi vẫn nghĩ mình may mắv và biết ơn cơm gạo miền Nam và nhất là nền Đệ Nhất Cộng Hòa.

Nên cả tuổi trẻ của tôi ở miền Nam nói cho cùng phải nhìn nhận đó là một ân huệ.

Kể từ sau nền Đệ Nhất Cộng Hòa, chúng ta đã để mất nhiều cơ may trong thế đối đầu với Cộng Sản. Giấc mơ của tuổi trẻ dần đã có những ưu tư, những băn khoăn với niềm hy vọng không còn nữa.

Nhiều điều nói ra ở đây chỉ thêm buồn.

Rồi biến cố 30 tháng Tư, 1975 xảy ra. Lần này nó đụng chạm đến tận sâu, sự mất còn của cả một miền đất nước. Nỗi đau đó lớn gấp bội lần nỗi đau 1954.

Và những gì sau đó Cộng Sản đã làm là một bất hạnh cho toàn miền Nam. Không. Cho toàn thể đất nước Việt Nam.

Sự bất hạnh đó xảy ra được là do sự tàn độc và ngu xuẩn của kẻ chiến thắng.

Nhưng chính trong bất hạnh đó, trong nỗi khốn cùng, người Việt hải ngoại vươn lên và một tương lai đã mở ra cho chính họ cũng như con cháu họ.

Bài học lớn nhất mà tôi học được sau 20 năm miền Nam tuổi trẻ là: dần dần, tôi nhận thức được những giá trị đủ loại như ý thức dân chủ, ý thức tự do và nhân bản trong giáo dục, trong sáng tác văn học, trong phạm vi tôn giáo… khi so sánh với miền Bắc.

Cảm thức được điều đó, tôi cảm thấy hảnh diện mình là người Quốc Gia miền Nam…

Chúng tôi thua cuộc chiến này. Nhưng chúng tôi vẫn còn những điều để hãnh diện. Điều mà sau gần 40 năm, chính quyền CS chưa bao giờ có cơ hội làm được như thế.

Tôi cũng viết ra đây những ngày tháng tiếp sau 1975 mà tôi có dịp ở lại và cũng nhờ đó tôi nhận diện ra xã hội cộng sản sau năm 1975 nó như thế nào?

Tôi là nhân chứng cho những điều tồi tệ.

Không khỏi có chỗ chua xót và cay đắng. Làm thế nào được và không ai có thể ngờ rằng xã hội miền Nam sau 1975 và cả hai miền nói chung đã tụt dốc và băng hoại mọi mặt.

Ảo tưởng về một xã hội cộng sản tốt đẹp là điều không bao giờ có. Xã hội ấy mỗi ngày mỗi phơi bày ra bộ mặt mất nhân tính, thiếu tình người và xa lìa tất cả mọi giá trị đạo đức cổ truyền.

Thanh niên, thiếu nữ tự đánh mất bản thân mình cho thấy một xã hội mất gốc, chạy theo tiền bạc và lợi nhuận.

Đó là điều đáng buồn, nhưng cũng đáng lo ngại nhất cho tương lai xứ sở này…

Nhìn lại quê hương miền Nam, tôi có cảm tưởng như tôi đang ở một nơi nào khác (La vie ailleurs) không phải quê hương mình, không phải đất nước mình.

Mọi truyện đã không còn như trước nữa.

Một nơi mà truyện gì cũng có thể xảy ra, truyện gì cũng là truyện bình thường và đến mực độ vô cảm.

Đó là một xã hội thiếu tình người. Mất nhân tính. Tôi chỉ có thể nói được như thế.

Khi viết tập biên khảo lịch sử này, tôi không làm công việc của người viết sử. Nhưng đưa ra những ý kiếng riên của tôi về những gì xảy ra ở miền Nam và sau này.

Tôi chấp nhận mọi phê bình, mọi phản bác vì có thể người đọc hiểu lầm hoặc không đồng ý với tôi hay ngay cả chống đối, khó chịu với tôi. Tôi cũng không mưu cầu được mọi người đồng ý. Ngược lại độc giả đọc có thể cũng không vui vì không được đọc những điều theo ý của mình. Biết làm thế nào? Nhưng nếu giả dụ tôi viết đúng những suy tưởng của người đọc thì vị tất điều đó đã là điều hay. Bởi vì như thế độc giả đang đọc chính mình, soi gương chính mình để thấy chính mình trong gương?

Bài viết của tôi trong tập sách này có thể đụng chạm đến những điều xác tín, đến niềm tin, đến những giá trị mà quý vị thường tin, thường ấp ủ?

Như Kafka đã nói:

Sách vở phải giống như những con tàu phá băng”.

Nó phá vỡ băng giá bên trong. Đúng như vậy.

Phá vỡ những lối mòn suy tưởng, những kiến thức đã tro nguội.

Như thế, đối với tôi, viết là một hành trình tâm thức đi tìm như thể còn đi trên đường, chưa có lối về. Còn viết và còn phải viết mãi không ngơi nghỉ.

Và viết là kẻ thù của thói quen trong nếp sống, nếp nghỉ?

Xin hãy cứ cầm lấy mà đọc để cùng lên đường.

Trong lần tái bản này, người viết đã thay đổi một vài bài viết cũ trong sách in lần thứ nhất như các bài… và thay thế bằng một vài bài viết mới như… xét ra thấy thiết thực hơn…
Mong bạn đọc chia xẻ.

NGUYỄN VĂN LỤC

Advertisements