Người chủ bút tập san Tạp chí nghiên cứu đại học

Bạch hóa một vài tài liệu liên quan đến

người chủ bút tập san Tạp chí nghiên cứu đại học

Nguyễn Văn Lục

Tôi có viết một bài giới thiệu tạp chí nghiên cứu Đại Học của đại học Huế mà người chủ bút đầu tiên là Nguyễn Văn Trung..trong đó tôi có nêu lý do, ông phải rời bỏ Đại học Huế, năm 1962 và vào dạy ở đại học văn Khoa Sàigòn vì lý do chính trị. Nói như thế là một cách tế nhị giữ im lặng để bảo vệ uy tín cho một chức sắc tôn giáo nay đã chết, giữ uy tín cho cả đại học Huế.

Mục đích chính và rõ rệt là giới thiệu và vinh danh một công trình văn học của đại học Huế trong những năm đầu tiên.

Chuyện văn hóa nghiêm chỉnh vậy mà chỉ cần hai ba người đọc thiếu nghiêm chỉnh đã bàn luận về những chuyện râu ria, ở bên lề văn bản, đồng thời xúc phạm đến người trong cuộc đã đành, nhất là xúc phạm đến những người ngoài cuộc.

Câu chuyện một phụ nữ có liên quan đến chuyện tình ái lăng nhăng nếu có đi nữa cách đây gần 60 năm, tưởng đã chôn vùi vào dĩ vãng, nay có người mang ra hài tội kẻ khác mà đâm ra hại người. Tuổi ông ngoại bà ngoại, con cháu đầy đàn nay có kẻ lôi quá khứ ra thì thật là bất hạnh.

Thật là đáng trách quá.

Tôi cũng đã làm một công việc tương tự như thế này khi có những người tính mang nhật ký riêng của bà Nhu ra khai thác, tôi đã thẳng tay với họ..

Tôi nghĩ đã đến lúc cần nói thẳng, nói hết về vấn đề này để cho thấy đã có những thời kỳ như thế, cho thấy dư luận là con dao hai lưỡi. Nó thường hại những người công chính.

Nhưng tôi nghĩ xa hơn cái dư luận xấu xa tính bôi nhọ người khác vì kẻ bôi nhọ soi gương chỉ thấy chính mình vì thiếu một tấm lòng nhân ái.

Tôi nghĩ đến bất kể những ai khi nắm được quyền lực trong tay – dù là thần quyển hay thế quyền ¬– giữ được sự công chính mà không lạm quyền không phải là điều dễ. Tôi muổn đề cập đến giám mục Ngô Đình Thục, linh mục Trần Văn Hiến Minh (giáo sư triết các trường trung học Chu Văn An, Trưng Vương) và Nguyễn Quang Lãm tự Thiên Hổ.

Viết lại những sự việc đã dấu kín từ gần 60 năm, tư thâm tâm tôi không muốn phê phán ai cả. Trong dịp thăm Missouri, tôi đã nhờ người lái xe đến kính viếng mộ của Tổng giám mục Ngô Đình Thục và của cha Viện Trưởng Cao Văn Luận. Chỉ rất tiếc vì đi lạ đường nên tôi đành phải đi ra ngay phi trường.

Điều thứ nữa là viết ra những điều này cho thấy mối hiểm nguy cộng sản, lúc nào chúng cũng tìm cách xâm nhập phá rối người quốc gia- trước đây và cả bây giờ. Phá rối Viện đại học Huế, phá rối trường Y Khoa Sài Gòn và trường Văn Khoa Sài Gòn. Kẻ thù của chúng ta không bao giờ biết ngoi nghỉ nếu chúng ta không đề phòng.

Điều không kém quan trọng là qua những biến cố, sự việc xảy ra chung quanh các đại học cho thấy những ứng xử khá dân chủ, tự do trong tình thế dù là rối loạn của các trí thức miền Nam

Miền Nam trong môi trường đại học đã thể hiện được tinh thần dân chủ và tình người.Tôi đã mượn tay nhà báo Sức Mấy qua bài viết của ông để nói lên cái sinh hoạt chính trị, văn hóa miền Nam mà có thể chính ông Sức Mấy nay cũng không còn giữ được bài này.

Mong là ông có dịp được đọc như một sự kính trọng một cây bút sắc sảo của miền Nam Việt Nam.

dai-hoc-hue12347654-10201

Phần Một

Chuyện bất đắc dĩ phải nói : Nguyễn Văn Trung không có tú tài II mà có bằng tiến sĩ triết học ở Bỉ

Đây là một sự vu khống dễ gây hiểu lầm mà một người tự trọng khi đọc cần cân nhắc cho kỹ. Nó ám chỉ vu vơ rằng, có những kẻ không có đến tú tài II mà lại dạy đại học.

Việc tuyển chọn giáo sư đại học ở Việt Nam không nhẽ cẩu thả và bê bối đến như thế. Nó bôi nhọ cả nền giáo dục của Việt Nam.

Chúng ta cần hiểu rằng hệ thống giáo dục và thi cử mỗi nước mỗi khác.

Nước Bỉ, nước Đức, Thụy Sỹ, nước Mỹ có hệ thổng tuyển sinh đại học không giống nước Pháp. Mang tiêu chuẩn tú tài II ra như điều kiện ắt có và đủ để vào đại học là đứng ở quan điểm hệ thống giáo dục của Pháp. Nhưng lại không đúng khi áp dụng vào nước khác.

Chẳng hạn ở nước Pháp, một học sinh muốn vào đại học thì phải có hai chứng chỉ đỗ tú tài một và hai. Một thứ rào cản rất là khắt khe làm cản trở tương lai nhiều thế hệ thanh niên bỏ ngang vì không đủ tiêu chuẩn vào đại học. Hệ thống ấy nay vẫn còn áp dụng ở Pháp.

Cái hay cái dở không cần nói đến ở đây.

Các nước trong hệ thống thuộc địa Pháp như Việt Nam, Algérie cũng tuân thủ chế độ thi cử ấy và một học sinh muốn được chấp nhận vào đại học buộc phải có hai bằng tú tài.

Nhưng điều đó không có nghĩa là một học sinh học ở Bỉ, ở Đức, ở Mỹ không có tú tài thì đều kém cỏi!!

Ở Bỉ, khi học hết trung học, học sinh học đủ điểm thì sẽ được vào thẳng đại học không qua bất cứ kỳ thi nào.. Nhưng điều đó không có nghĩa là sinh viên Bỉ kém sinh viên Pháp..Theo tôi dược biết có những sinh viên sau đây đã học tại đại học Louvain Bỉ trong khoảng thời gian năm 1950..Họ có tú tài I hay tú tài II hay không, không nhất thiết phải quan tâm. Đó là các ông Lý Chánh Trung, Trần Văn Toàn, Lê Tôn Nghiêm, Lâm Ngọc Huỳnh…v…v…

Vậy tại sao xé lẻ trường hợp Nguyễn Văn Trung? Tại sao không hỏi mấy người kia có bằng tú tài hay không?

Ngoài ra việc thi cử dù có luật lệ thế nào đi nữa cũng có thể có ngoại lệ, nhất là trong hoàn cảnh Việt Nam. Trường hợp là những năm 1950, một số học sinh miền Bắc thuộc các tỉnh như Nam Định, Phủ Lý, Bùi Chu, Phát Diệm vì chiến tranh, việc học lở dở mất học. Khi họ dinh tê về Hà Nội, không lẽ bắt họ học lại từ các lớp đệ tứ trung học phổ thông. Chính quyền Quốc Gia thời Bảo Đại muốn cứu vớt các học sinh này nên đã cho mở các kỳ thi tú tài được gọi là tú tài tương đương nhờ đó giúp họ có thể tiếp tục học đại học…

Nay có cần kể tên những người đã thi tú tài tương đương ra đây không? Hẳn là không cần thiết.

Tình trạng đó cũng xảy ra cho một số học sinh con nhà khá giả hoặc do sự tài trợ của công giáo đi Pháp để khỏi đi lính, hay tránh chiến tranh mà chưa có tú tài I hoặc chỉ có tú tài I. Đó là trường hợp quý ông Trần Bích Lan( Nguyên Sa), Hoàng Anh Tuấn, Trịnh Viết Thành và Nguyễn Văn Trung mà tôi biết.

Trường hợp Nguyễn Văn Trung mới đỗ tú tài I ở Việt Nam, vì muốn theo học ở Pháp nên đã phải theo học tú tài II tại thành Phố Toulouse.

Họ được chính phủ, tùy theo nhu cầu mỗi năm mở các kỳ thi ngay tại tòa đại sứ Paris mà không phải về Việt Nam. Sau đó bài vở được gừi về Việt Nam chấm (.. )Kết quả sau đó gửi qua tòa đại sứ Việt Nam trao lại cho các học sinh đã đỗ. Xin gửi đính kèm chứng chỉ thi đỗ tú tài II của Nguyễn Văn Trung.

Sự việc đã rõ. Hy vọng không còn bao giờ phải nhắc đến chuyện thi cử này nữa. Nó không có gì ẩn khuất và lem nhem như suy nghĩ của một số người.

Khai triển rộng thêm, riêng trường Văn Khoa được mở sau này nên không thể có các giáo sư có học vi tương ứng cho các môn Việt Hán, Hán Nôm, triết lý Đông Phương và ngôn ngữ học. Vì thế, các giảng viên đều được tuyển ngang mà nhiều người rất có thể chưa qua hết bậc trung học. Thống kê cho biết 90% số này không có học vị tiến sĩ. Người ta đành căn cứ vào các công trình biên khảo mà nhiều khi chỉ là mấy bản dịch sách cổ Trung Hoa, nhưng trong lúc đầu của một nền đại học còn phôi thai, ta phải biết chấp nhận như thế mà không nên phỉ báng, chê bai về chuyện bằng cấp và coi như không có điều gì cần thắc mắc cả. Đến khi các môn sinh của họ đổ cử nhân phải dọn cao học thì không lẽ giảng viên chấm cao học. Và một lần nữa phải cất nhắc các vị lên hàng giảng sư, học vi có thể tương đương tiến sĩ đệ tam cấp.

Phần II

Nguyễn Văn Trung bị linh mục viện trưởng Cao Văn Luận đuổi ra khỏi Đại học Huế vì lem nhem tình dục..

Câu chuyện này có nguyên nhân xa của nó. Một chế độ như nền Đệ nhất cộng hòa mà tôi cho là tốt dẹp nhất trong hoán cảnh chiến tranh lúc bấy giờ cũng có đôi trường hợp xảy ra không mấy tốt đẹp.

Vì thế tôi rất đắn đo khi bắt buộc phải bạch hóa chuyện này hầu như ngoài ý muốn.

Câu chuyện bắt đầu như thế này. Nguyễn Văn Trung khi về Việt Nam thì bắt đầu đi dạy Chu Văn An cùng với linh mục Trần Văn Hiến Minh.- một người tốt nghiệp ở Bỉ, còn một người tốt nghiệp ở Rôma-. Hẳn là họ quen biết nhau. Ngoài đời là đồng nghiệp, nhưng trong đạo giáo là cha-con. Chính những mối tương quan trên sinh ra những cớ sự chẳng tốt đẹp gì, vì đã có sự lạm dụng thẩm quyền tôn giáo không đúng chỗ.

Nguyên do, ông Nguyễn Văn Trung có cho xuất bản cuốn sách đầu tiên của ông: Cuốn triết học tổng quát năm 1957, một cuốn sách mỏng vỏn vẹn có 140 trang. Cuốn này tóm lược lịch sử triết học Tây Phương. Nó như một thứ nhập môn triết học và được giới trẻ tìm đọc. Có thể có một vài tư tưởng mới của các triết gia Tây đã được giới thiệu trong sách.

Linh mục Trần Văn Hiến Minh vốn học triết và thần học ở Rome có thể vì nặng tính chính thống, giáo điều khắt khe nên ông dị ứng với cuốn sách. Ông nhảy vào cuộc với một bài gọi là Kiểm Thư, đăng trong báo Ra Khơi, số 33, ngày 15-4-1957, dài 6 trang.

Tôi chỉ xin đưa ra phần kết luận như sau của linh mục Trần Văn Hiến Minh:

Theo thiển ý chúng tôi- chúng tôi không dám đi trước ý định của giáo quyền- các sinh viên trẻ không nên đọc sách này, vì hàm hồ mông lung và có vẻ thiên về chủ quan thuyết quá, tổn thương đến tính cách xác thực, khách quan và hợp lý của đạo công giáo.

Chỉ mấy dòng nêu trên cho thấy có sự đe dọa xa xôi. Một ám chỉ đây là một cuốn sách thuộc loại dị giáo mà một lúc nào đó, thẩm quyền giáo hội cần ra lệnh cấm đọc vì có hại cho giới thanh niên. Sự lo ngại quá đáng đó có thể chỉ là cái cớ trong đó có sự ghen ghét tỵ hiềm gì chăng?. Sự lo ngại quá đáng đó phải chăng chỉ là cái cớ trong đó có sự ghen ghét tỵ hiềm gì nhưng vô tình nó đã trở thành bản án không có tuyên án cho Nguyễn Văn Trung để ông bị mang nhãn hiệu là một kẻ rối đạo hay phá đạo trong khi ngoài ý kiến này ra thì chưa hề thấy một ai đặt vấn đề rối đạo một cách nghiêm chỉnh trong các cuốn sách đó

Thậm chí ngay cả những người nói như thế cũng có thể chẳng hề đọc cuốn sách ấy. Chỉ cần một vài lời bày tỏ trong giới quan hệ với linh mục Trần Văn Hiến Minh là đủ gây tác hại đến tác giả rồi. Số lượng tác phẩm của Nguyễn Văn Trung sau này khoảng 30 đầu sách và hàng trăm bài biên khảo trên ba tờ báo Đất Nước, Hành Trình và Trình Bày mà ông là chủ bút.

Sau đó Nguyễn Văn Trung dành quyền trả lời trong tư thế nhũn nhặn cha-con.

Xin trích dẫn thư :

Thưa cha

Con không khỏi buồn khi đọc bài phê bình cuốn sách của con trong Ra Khơi vì không nhìn nhận thấy mình trong những lời phê bình đó. Giá cha đọc con với một tâm hồn cởi mở, thiện cảm hơn, có lẽ Cha đã không gán cho con những điều con không muốn nói. Nhưng dù sao cũng xin cám ơn cha, và nhờ đó con được dịp đính chính lại một vài kiểu nói cho rõ rệt, minh xác.

Đính chính cũng vô ích. Sau đó linh mục Trần Văn Hiến Minh đưa ra một bản cáo trạng bằng bài viết mang tiêu đề Mấy nhận xét của cha Trần Văn Hiến Minh mà tôi thấy không cần trích dẫn ra đây nữa…

Cuộc trao đổi nếu được gọi là trao đổi chấm dứt ở đây!

Chấm dứt cuộc trao đổi coi như xong. Nhưng nó không chấm dứt một bản án kết tội cứ thế mà đeo đuồi cá nhân tác giả mãi.

Khởi đầu là việc Tổng giám mục Ngô Đình Thục ra nhậm chức ở Huế và yêu cầu bộ trưởng giáo dục Trần Hữu Thế trục xuất Nguyễn Văn Trung ra khỏi đại học Huế vì nghe đồn là một kẻ rối đạo. Sau vụ Tổng giám mục đuổi Nguyễn Văn Trung ra khỏi đại học Huế năm 1962 đúng ngày Tổng giám mục Thục ra Huế thì Nguyễn Văn Trung về Sài Gòn. Việc Tổng giám mục Ngô Đình Thục không muốn sự có mặt của Nguyễn Văn Trung ở Đại học Huế, viện lý do đó là một kẻ rối đạo và sau đó áp đặt viện trưởng Cao Văn Luận và Bộ trưởng Trần Hữu Thế phải thuyên chuyển ông Nguyễn Văn Trung về Sài gòn là vi phạm quyền Tự trị đại học.

Sự lạm quyền này đã đi quá xa đến chỗ bắt vị tổng trưởng giáo dục phải chuyển Nguyễn Văn Trung vào Sài Gòn. Như thế thì vị Tổng giám mục có còn coi ai ra gì nữa?

Sau đó, ông Nguyễn Văn Trung phải rời bỏ đại học Huế một cách thầm lặng. Chính vì rời bỏ Huế một cách thầm lặng nên mới xảy ra những dư luận, những tiếng đốn, tại sao đang dạy học lại phải bỏ Huế về Sải Gòn. Từ đó tạo thêm ra những dị nghị, lời đồn thổi về chuyện rời bỏ Huế này và đi đến kêt luận lăng nhăng tình ái.

Trong khi đó quyết định rời bỏ Huế chỉ có 4 người biết.

Tổng giám mục Ngô Đình Thục, Bộ trưởng Trần Hữu Thế, cha viện trưởng Cao Văn Luận và nạn nhân Nguyễn Văn Trung.

Cả bốn người – nhất là Nguyễn Văn Trung không dám hé răng.

Và họa vô đơn chí, năm năm sau một lần nữa, dù Tổng giám mục Thục không còn ở trong nước nữa, nhưng vào năm 1967, tại đại học công giáo Đà Lạt, Nguyễn Văn Trung một lần nữa bị gạt ra khỏi đại học Đà Lạt.

Xin trích dẫn hai lá thư. Một của Nguyễn Văn Trung gửi Viện trưởng viện Đại học Đà Lạt và một của ba giáo sư Lê Tôn Nghiêm, Lê Thành Trị, Lý Chánh Trung xin từ nhiệm.

Lá thư của Nguyễn Văn Trung xin từ nhiệm

Saigon ngày 14-9-1967

Kính gửi linh mục Viện trưởng viện Đại Học Đà Lạt.

Chúng tôi được linh mục Lê Tôn Nghiêm cho biết và lần này là lần thứ ba, linh mục ngỏ ý không muốn cho chúng tôi tiếp tục cộng tác với viện trong trong việc giảng dạy, vì những lý do như giảng dạy ‘rối đạo’.

Linh mục cũng thừa hiểu việc tôi lên Đà Lạt là do lời mời của Viện, chứ không phải do tôi yêu cầu, và việc tôi chấp nhận nhận lời mời cộng tác của Viện là vì muốn phục vụ một công cuộc chung mà chúng tôi cảm thấy có phần trách nhiệm..

Chúng tôi rất lấy làm ngạc nhiên về lề lối cư xử của Linh mục Viện trưởng trong việc mời và không mời giáo sư, nhất là giáo sư và linh mục công giáo.

Chúng tôi ghi nhận quyết định trên và trân trọng kính chào từ biệt linh mục viện trưởng.

Nguyễn Văn Trung

Thư của ba vị giáo sư xin từ nhiệm

Chúng tôi được tin chắc chắn cho hay rằng linh mục Viện Trưởng không còn tín nhiệm vào sự cộng tác của giáo sư Nguyễn văn Trung nữa.

Chúng tôi nhận thấy :

1- Những lý do Viện đưa ra không xác đáng và trái với tinh thần Đại học, đặc biệt Đại học công giáo.

2- Thái độ cư xử của Viện đối với các giáo sư công giáo(linh mục cũng như giáo dân) đã được dư luận cho là thiếu tốt đẹp nhất là trong việc mời hay không mời cộng tác.

Vì những lý do trên, chúng tôi buộc lòng phải quyết định ngưng việc cộng tác với quý Viện cho đến khi có những điều kiện thuận tiện.

Chúng tôi trân trọng kính chào linh mục Viện trưởng

Lê Tôn Nghiêm

Lê Thành Trị

Lý Chánh Trung

Tập san Sử Địa và những lời tố cáo, bôi nhọ.

Tưởng rằng yên, nhưng vào năm 1969, tập san sử địa mở chiến dịch chống phá Nguyễn Văn Trung. .

Tập san sử địa cho đăng các bài trực tiếp đả kích Nguyễn Văn Trung, lúc ấy đang nắm Khoa Trưởng Văn Khoa và có dự án cải tổ trường Văn Khoa. Đó là các bài :Thực chất và huyền thoại của nhóm trí thức Cấp tiến, Tập san sử địa số 4..Một bài khác nhan đề : Sách lược Nguyễn Văn Trung, đăng trong Nội san sử địa Sài gòn..

Trong đó có việc bới móc đời tư của Nguyễn Văn Trung và vì lý do đó bị linh mục viện trưởng đại học Huế sa thải khỏi Đại học Huế.

Nhưng cũng may nhờ có vụ sinh viên Tập San Sử Địa tố cáo này mà lần đầu tiên linh mục Cao Văn Luận đã bắt buộc không giữ im lặng nữa và lên tiếng đính chính trường hợp của Nguyễn Văn Trung.

Trước tình trạng bôi nhọ và đả phá cá nhân này, nhiều người đã lên tiếng. Vấn đề là ông có bị sa thải vì chuyện tình ái lăng nhăng hay không? Chuyện vu khống nó nằm ở chỗ này, ở chỗ lẫn lộn cái thật với cái giả, cái dư luận, cái người ta nói với sự thật.

Và đây là lần đầu tiên linh mục Cao Văn Luận lên tiếng về vấn đề này. Một lên tiếng quá trễ mà đáng nhẽ cần ra thông cáo ngay từ 1962.

Thư của linh mục Cao văn Luận đề ngày 15 tháng 11 năm 1969

Sài Gòn ngày 15 tháng 11 năm 1969

Trong bài :Thực chất và Huyền thoại của trí thức Cấp tiến đăng trong tập san Sử Địa số 4, bới móc cuộc đời của gs Nguyễn văn Trung, tôi đọc đoạn’ Ông Nguyễn Văn Trung bị linh mục Cao văn Luận sa thải khỏi đại học Huế( tr 22). Tôi thấy có bổn phận phải lên tiếng vì danh dự của ông Nguyễn Văn Trung.

Nếu dùng một danh từ nặng nề, quả thực gs Nguyễn văn Trung bị đuổi khỏi Đại học Huế, nhưng câu chuyện như sau :

Hồi tháng 4-1961, tôi nhận được công điện của ông Trần Hữu Thế- Bộ trưởng giáo dục- đổi ông Trung về Sài Gòn tức khắc.. Tôi thấy phi lý nên không trả lời. Ông Thế lại đánh một công điện nữa. Tôi có họp các giáo sư lại và mọi người đã đồng ý ký vào một kiến nghị phản đối quyết định trên.

Sau khi gặp ông Thế, tôi được ông cho biết không phải vì ông thù ghét gì ông Trung, nhưng vì đó là lệnh của Đức Cha Ngô Đình Thục, lúc đó sắp ra nhận chức Tổng giám mục và Ngài có nói với ông: Tôi không muốn thấy mặt Nguyễn Văn Trung khi tôi ra Huế’.

Về sau tôi có gặp Đức Cha Thục và được biết người ta cho Ngài hay, Ông Trung dạy triết ‘ rối đạo’. Tôi có nói để Đức Cha yên lòng trước những tin đồn vu vơ và đề nghị với Đức Cha hỏi thẳng những linh mục học ông Trung, nhất là cha J. Lê Chúng, thuộc dòng Thiên An.

Tôi còn nhớ ngày Đức Cha Thục ra Huế cũng là ngày ra đi của ộng Trung. Ông Trung là một trong những người đầu tiên đáp lời mời của tôi ra cộng tác xây dựng Đại học Huế. Tôi không cần nói gì về con người của ông, vì những việc ông làm cho đại học cũng như cho văn hóa minh chứng cho con người của ông ».

Sau Nguyễn Văn Trung đến lượt chính linh mục Viện trưởng Cao Văn Luận cũng bị áp lực của Tổng giám mục phải rời bỏ chức vụ Viện trưởng, chỉ vì lý do linh mục Cao văn Luận không đứng hẳn về phía chính quyền trong việc sinh viên Phật tử xuống đường chống đối chính phủ. Các sinh viên ở Huế chắc hẳn còn nhớ, sau 1963, Cha Luận lại trở về Huế giữ chức viện trưởng và một lần nữa mời Nguyễn Văn Trung ra Huế dạy học trở lại. Cho đến khi chính sinh viên Huế biểu tình yêu cầu cha Luận từ chức Viện trưởng. Nguyễn Văn Trung cũng chính thức quay trở lại Văn Khoa Sài Gòn và không bao giờ quay trở lại Huế nữa.

Sau đây chỉ xin liệt kê các phản ứng của giới trí thức Sài gòn như thư của :

• Viện trưởng viện đại học Sài gòn, gửi khoa trưởng, trường Đại học văn khoa ngày 11-11-69, bác sĩ Trần Quang Đệ.

• Tuyên cáo của những nhóm sinh hoạt đại học Văn Khoa, ngày 15-11-69. Thay mặt nhóm ký tên.

• Nhóm nghiên cứu Triết học: Hạ Đình Nguyên.( Hạ Đình Nguyên là cán bộ cộng sản nội tuyến, nằm vùng)

• Nhóm nghiên cứu Nhân Văn : Nguyễn Thị Yến.

• Nhóm nghiên cứ Việt Hán : Vương Văn Nam

• Nhóm Ủy Ban sinh viên vận động cải tổ Văn Khoa : Võ Ba

• Nhóm Đối Diện : Trần Việt Hải.

Tổng Hội sinh viên lên Tiếng

Ngày 22-11-1959 là Phản ứng của Tổng Hội sinh viên Sài gòn :

Về thái độ chỉ trích của một nhóm sinh viên chủ trương nội san Sử Địa tại Đại học Văn khoa Saigon.

Tổng Hội nhận định rằng :

– Cải tổ giáo dục là nhu cầu cấp bách

– Cải tổ giáo dục không phải là chiêu bài để các phe nhóm, lợi dụng, bôi nhọ mạ lỵ cá nhân.

– Thái độ của một số sinh viên chủ trương nội san Sử Địa thiếu tính xây dựng và tạo ra những hiểu lấm.

– Ủng hộ mọi cải tổ đại học.

– Bày tỏ sự công phẫn về thái độ bất nhã và vô trách nhiệm của nhóm Sử Địa.

Tuyên ngôn của Phong Trào Thanh Niên Công Giáo Đại Học Việt Nam.

• Trước hành động phá hoại tinh thần trường Đại học Văn khoa do một thiểu số sinh viên bất mãn chủ trương.

• Chúng tôi phân đoàn Văn Khoa thuộc Phong trào thanh niên Công Giáo Đại học Việt Nam bất bình và mạnh dạn lên tiếng :

• Những luận điệu mạ lỵ xấc sược, chửi bới viết trong một tờ Đặc san là do những sinh viên hỗn láo, làm mất thanh danh cả một tập thể sinh viên Văn Khoa vốn lấy lễ độ làm đầu.

• Chúng tôi lên tiếng kêu mời các nhóm hoạt động tại trường hãy lên tiếng bảo vệ danh dự, truyền thống sinh viên Văn Khoa.

• Yêu cầu Hội Đồng khoa áp dụng biện pháp cương quyết đối với các sinh viên vô kỷ luật.

Sài Gòn ngày 16 tháng 11 năm 1969.

Phân đoàn trưởng

Phạm Minh-Tâm (ấn ký).

Đơn từ chức của giáo sư Trần Bích Lan

Quan trọng hơn cả là đơn xin từ chức giảng dạy của Trần Bích Lan( Nguyên Sa), để ngày 2-12-1969 mà đoạn chót viết như sau :

« Tôi tin tưởng những Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Văn Trung bạn thiết chớ không phải Nguyễn Văn Trung Khoa trưởng, cũng như những Nguyễn Khắc Hoạch, Nghiêm Toản, Thanh Lãng, Lý Chánh Trung, Lê Thành Trị sẽ chẳng bị khuất phục bởi những bạo động hèn kém mà đồng nghiệp tôi là nạn nhân…Tôi sẽ tiếp tục chống trả, tiếp tục cất tiếng…

Nguyên Sa

Nguyên Sa thể hiện đúng nghĩa hai chữ Tình Bạn.

Bênh vực bạn bằng mọi giá, khi cần. ngay cả từ chức. Khi linh mục Nguyễn Quang Lãm dùng Duyên Anh đánh phá Nguyễn Văn Trung thì Nguyên Sa vào cuộc. Ông nói nửa đùa nửa thật: Để tôi trị tên này mới được. Trị đến nơi đến chốn, đụng thẳng Nguyễn Quang Lãm thì Nguyễn Quang Lãm phải rút lui. Cho dến khi Duyên Anh tuyên bố « rút lui », sau này có xin lỗi Nguyễn Văn Trung. Mọi chuyện sau vui vẻ cả. Phần viết về linh mục Nguyễn Quang Lãm, tôi cho là chuyện quấy phá nhỏ, ai muốn đọc thêm, có thể đọc vắn tắt trong phần chú thích..

Sau này, một lần nữa, Nguyên Sa viết bài đả kích Phạm Công Thiện mà ông gọi là bọn Sa Đích trong Văn Nghệ. (Xem phần chót viết về Phạm Công Thiện).

Phải nói Nguyên Sa là ông thần hộ mệnh của Nguyễn Văn Trung.

Ngày nay nhìn lại, chỉ có một điều đáng tiếc là không ai nhận ra đằng sau Nguyễn Nhã là bọn cộng sản xâm nhập quậy phá miền Nam. Chu Tử trong tạp chí Đời, số 11, ngày 27-11-69 cho rằng : Cuộc khủng hoảng ở Đại học Văn Khoa đang chuyển từ giai đoạn trò mạt sát thày sang giai đoạn trò mời thày sơi kẹo đồng. Người hùng Nguyễn Văn Trung, Khoa trưởng văn khoa đang là cái « bia » của mọi khen chê, chỉ trích bênh vực..

Điều này cho thấy có bàn tay cộng sản thò vào như trước đây không lâu đã xảy tại đại học y khoa..

Bạo động dùng lời nói đã đành còn tính cho ăn kẹo đồng thì chỉ có cộng sản mới làm được những điều ấy như chúng đã làm..

Phần sinh viên Sài Gòn- dù ở bất cứ phân khoa nào- đều xử sự trong tôn ty trật tự, lễ giáo..

Để tóm tắt vụ sinh viên Sử Địa chửi bới giáo sư Văn Khoa, tôi xin trích dẫn bài bình luận của Sức Mấy, một nhà giáo- nhà báo lão thành nay thỉnh thoảng vẫn còn có bài trên Da mầu như một sự trân trọng ông.

Sổ Tay. Sức Mấy

Đẹp

Theo nguồn tin Sức Mấy được biết, tại trường Đại Học Văn Khoa Sài Gòn đã vừa có vụ đồng loạt từ chức của 7 vị Khoa trưởng và Trưởng ban :

• Giáo sư Nguyễn Văn Trung từ chức Khoa trưởng.

• Giáo sư Lê Trung Nhiên, Phó khoa trưởng.

• Giáo sư Lâm Thanh Liêm. Không ghi rõ chức vụ.

• Giáo sư Bùi Xuân Bào, Trưởng Ban Pháp Văn.

• Giáo sư Thanh Lãng, Trưởng ban Việt Văn.

• Giáo sư Nguyễn Thế Anh, Trưởng ban Sử Địa.

• Giáo sư Nguyễn Duy Cần, Trưởng ban Triết đông.

Như vậy là gần như toàn thể ( 7 trên 9) vào chức vụ trong Hội Đồng Khoa đã nhất loạt từ chức.

Nguyên nhân của sự từ chức tập thể xảy ra lần đầu tiên trong lịch sử Đại học Văn Khoa Sài Gòn, là những lời đả kích của một tờ báo do chính các sinh viên đại học Văn Khoa Sài Gòn chủ trương.

Phản ứng đầu tiên của Sức Mấy đối với tin trên là hoan nghênh sự từ chức tập thể như vậy.

Nó đẹp lắm.

Cái đẹp đầu tiên, là cái đẹp hiếm có. Ở đất nước này, kiếm được một người biết từ chức, hiếm lắm, nhất là trong lãnh vực chính trị. Chỉ có những người không tham quyền cố vị, mới xứng đáng cầm quyền. Muốn tỏ ra là người không tham quyền cố vị, trước hết phải biết từ chức cái đã.

Cài đẹp thứ nhì là cái đẹp liêm sỉ. Những người biết từ chức là người có liêm sỉ.

Cái đẹp thứ ba là cái đẹp đoàn kết. Giới trí thức thường khó đoàn kết với nhau lắm. Đoàn kết để chia phần là chuyện thường, đoàn kết khi từ chức, hiếm lắm.

Cài đẹp thứ tư, là cái đẹp tự do. Các giáo sư văn Khoa có thể dùng biện pháp kỷ luật với những sinh viên viết báo chửi mình. Nhưng thay vì làm như vậy, đã cứ để cho sinh viên chửi, và người chửi chọn việc từ chức.

Đối Diện

Sức Mấy đã mất cả một buổi tối, để đọc tất cả những từ chửi bới của các sinh viên Sử Địa Văn Khoa dành cho các giáo sư của họ, và đọc tất cả những cái sinh viên căn cứ vào đó mà chửi.

Người bị chửi nặng hơn cả là giáo sư Khoa trưởng Nguyễn Văn Trung.

Gần đây, báo chí nhắc nhở tới nhiều hoạt động của ông Trung trong chuyến đi Pháp vừa qua. . Sức Mấy không đồng ý với ông Trung, vị giáo sư “tiến bộ” tiếng tăm nỗi như cồn, nên những gì báo chí nói là đúng sự thật. Sức Mấy cũng điồng ý với những lời chỉ trích ông Nguyễn Văn Trung trên mặt báo, nếu quả thật ông Trung có làm những điều đáng chỉ trích.

Nhưng trong phạm vi một trường học, giữa giáo sư và sinh viên, có phải rằng tất cả mọi việc đều nên viết trên báo để chửi bới lẫn nhau?

Sinh viên văn khoa đã chửi giáo sư văn khoa rằng: “ Châm ngôn của họ là sống chết mặc bay tiền thày bỏ túi. Họ rút đầu vào mu rùa, mù mắt vì cái lá đa, và có những ê- kíp đàn anh quý hóa biết bày trò tằng tịu với nữ sinh viên.

Thời buổi này, không có một ông Khoa Trưởng, một Trưởng ban hay một ông giáo sư nào theo quy chế lương bổng Việt Nam được lãnh tới hai chục ngàn đồng một tháng. Cái ‘tiền thầy bỏ túi’ hàng tháng, chỉ bằng nửa tháng lương một người thợ nề, đâu có đáng để cho sinh viên phải đả kích giáo sư nặng nề như thế?

Trong khi các sinh viên đang đi học để đi thi, và đã đi thi ai chẳng mong đậu thì các sinh viên văn khoa đã viết về các giáo sư văn khoa: “Quý vị thông minh lắm chứ, vì nếu không tiền tài thì làm sao đỗ tiến sĩ Quốc Giaq, thạc sĩ của cái lò Sorbonne, Louvain! Đó là giai tầng trí thức có cái thông minh của loài két, nhớ dai và nhớ lâu”.

Nếu sự thi đậu những bằng cấp cao đáng nhục mạ như vậy, hà tất sinh viên còn theo học Đại Học làm chi?

Người Nhật có một nguyên tắc viết báo đáng chú ý: Trong khi viết về người khác, không cần luật lệ gì cả. Hãy viết tất cả những gì mình nghĩ rằng khi mình gặp mặt người ấy, mình vẫn có thể nói thẳng những điều mình viết. Còn những điều gì mình nghĩ rằng không thể nói trực tiếp với người ta thì đừng viết.

Sức Mấy nghĩ rằng khi diện đối diện với các giáo sư Văn Khoa, có lẽ sinh viên Văn Khoa sẽ không nói những câu đã chửi bới đã trích dẫn ở trên. Và nếu các sinh viên đã viết nghĩ rằng mình có thể chửi thằng vào mặt giáo sư những câu như đã viết, thì rại sao không gặp thẳng mà chửi, vì sự gặp gỡ giữa sinh viên với giáo sư là điều quá dễ.

Sức Mấy chuyên viết nham nhở chửi bới. Đọc những câu chửi bới của sinh viên Văn Khoa thì thích lắm. Nhưng trong phạm vi một trường học, giữa sinh viên và giáo sư. Việc ấy có nên không?

Đây là vấn để đặt ra với các bạn sinh viên, còn với quý vị giáo sư Văn Khoa, thì người xưa đã có nói “giáo bất nghiêm, sư chi đọa”. Quý vị từ chức là phải. Và Sức Mấy đã chỉ viết những dòng này khi biết quý vị đã thực sự từ chức.

( Chủ Nhựt 16-11-1969)

Phần ba

Phạm Công Thiện phê bình luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Trung

Chúng ta cần ghi nhận rằng sự phê phán của Phạm Công Thiện chỉ xảy ra sau 1963. Trước 1963, Phạm Công Thiện vẫn có mối giao hảo tốt với gs Nguyễn Văn Trung. Thời kỳ mà tôi gọi là thời kỳ Hội Chứng sau 1963 với ba năm xáo trộn, với bao nhiêu trò bôi bác hạ lẫn nhau mà không có một Nguyễn Cao Ky-Nguyễn Ngọc Loan, đất nước miền Nam có thể rơi vào tình trạng vô chính phủ.

Nó đã có một thời kỳ như thế đấy- rối loạn chính trị và nhố nhăng trong sinh hoạt văn hóa-. Chẳng phải một minh Phạm Công Thiện mà còn có Kha Trấn Ác tức Chu Tử và Cung Tích Biền cũng vào hùa chửi bới Nguyễn Văn Trung rất nặng lời.

Cho nên sự phê bình của Phạm Công Thiện chỉ nên coi là cái cớ để đập phá, chửi bới cho thỏa mãn bản năng thú tính nơi con người.

Điều trước tiên và trên hết không phải là vấn đề đúng sai mà vấn đề cá tính con người. Đến đại triết gia trong lịch sử triết ông Thiện còn chà dạp dưới chân thì xá gì một luận án của Nguyễn Văn Trung?

Sau đây tôi xin được trích dẫn một tài liệu hiếm- photocopie- của Phạm Công Thiện để mọi người đọc suy nghĩ.

Đó là: Pham Công Thiện, Lettre à un poète Vietnamien avant son suicide, trích trong tập Tribu của Phạm Công Thiện.

Nó cho thấy một Phạm Công Thiện cao ngạo quá độ, hoang tưởng mang dấu hiệu của một tâm thấn không bình thường.

«Tao không muốn phê phán quyển Ý thức mới, vì có bao giờ mày phê phán con tinh trùng của mày, hỡi Nh. Tay Ngàn? Nếu bây giờ, tao muốn viết lại quyển Ý thức mới, nhất định là tao sẽ viết mạnh hơn, tàn bạo hơn nữa, phũ phàng hơn nữa. Tao đã thấy rõ ràng hơn bao giờ hết rằng tao không bao giờ nên hoà nhượng, không bao giờ nên làm hoà với cuộc sống này. Tao chỉ muốn nổ tung như mười triệu trái bom nguyên tử, rồi nằm ì lăn ra chết bấy thịt như một con rắn lửa, còn hơn là nhẹ nhàng thỏ thẻ tình thương, nhỏ nhẹ lý tưởng cao đẹp, vân vân: tao muốn chửi thề với tất cả lý tưởng: tao chỉ muốn phá hoại và chỉ muốn phá hoại: tao cảm thấy gần gũi với những người tội lỗi hơn là với những thầy tu thánh thiện. Tao thấy rằng tất cả tội lỗi đều vô cùng cần thiết, vì tội lỗi chỉ là một ý niệm lường gạt và không có thực…

Qua Pháp tao đã sống nghèo đói thế nào thì mầy cũng đã biết rõ rồi; những lúc tao nằm ngủ ở những vỉa hè Paris vào những đêm đông đói lạnh, những lúc đói khổ như vậy, tao vẫn còn cảm thấy sung sướng hơn là ngồi nghe mấy thằng giáo sư đại học Yale hay Columbia giảng cho tao nghe về Aristote hay Hegel, về Heidegger hay Héraclite. Tao đọc Heidegger và Héraclite bằng máu với nước mắt; còn mấy thằng giáo sư ấy chỉ đọc bằng đôi mắt cận thị! Những thằng ấy hiểu gì về tư tưởng mà dạy tao. Bây giờ nếu có Phật Thích ca hay Giê su hiện ra đứng giảng trước mặt tao, tao cũng chẳng nghe theo nữa.

Tao chỉ dạy tao, tao là học trò của tao và cũng chỉ có tao là làm thầy cho tao.

Cuộc đời của Phạm Công Thiện là thế.

Chẳng hạn ông viết, “Shakespeare hay Goethe, Dant hay Heidegger, tao coi như những thằng hề ngu xuẩn (…) Ngay đến Héraclite, Parménide và Empedocle, bây giờ tao cũng xem thường, xem nhẹ. Tao coi ba tên ấy như ba tên thủ phạm của nền văn minh hiện nay!”

Ba triết gia nêu trên xuất hiện thời tiền Socrate, Platon, 500 trước Tây lịch. Chẳng hiểu Héraclite tại sao lại là thủ phạm của nền Văn Minh hiện nay là lý cớ gì?

Trong thư gửi người bạn, Phạm Công Thiện biết rõ cá tính, con người của ông như thế nào:

Tất cả những người quen biết tao đều nói rằng tao là thằng rừng rú, ích kỷ, kiêu ngạo, hoang đàng, vô kỷ luật, vô lễ phép, ham ăn, ham uống, ham ngủ, ham làm ái tình: tóm lại tất cả những tật xấu của con người đều xuất hiện trong tao. Tao thấy họ nói đúng, nhưng họ nói ngược lại thì cũng đúng. Tao là một thằng mâu thuẫn cùng cực; muốn nói chuyện với tao thì đừng lý luận. Vì tao có thể lý luận xuôi hay ngược gì cũng được.”

Trích lá thư như trên.

Cái cảm giác chung khi đọc ông là sự phủ nhận mọi giá trị tôn giáo, triết lý, và các nhà đại tư tưởng bằng thứ ngôn ngữ cuồng vọng trong một trạng thái hystérie dấn đến độ vọng ngữ, vọng ngôn. Một thứ ngôn ngữ phản ánh một trạng thái tinh thần với những mâu thuẫn nội tâm không kiểm soát được giữa biên giới thực và ảo.

Đó là thứ lý luận đậm nét sự cao ngạo thay cho sự thực. (L’arrogance remplace le réalisme). Nó mất hẳn sự tự trọng chính mình.

Mà sự tự trọng là khởi điểm của con người có văn hóa (cultivé).

Vấn đề là thiếu lòng tự trọng chứ không phải vấn đề trí thức cao hay thấp, giỏi hay dốt, đúng hay sai, thiên tài hay không phải thiên tài. Phạm Công Thiện có thể là nhân tài như người ta nhận xét về ông, nhưng chỉ thiếu có lòng tự trọng, một thứ tự sát – hủy thể của hủy thể.

Những điều ông viết không con nằm trong giới hạn của nhận thức luận hay tri thức luận. Chúng ở bên ngoài biên giới sai đúng.

Nói cho cùng nó là một thứ phá sản nhận thức luận và truyền thống vốn là những cái nôi của văn hóa của nhân loại. Những người tự cho mình đọc và hiểu Phạm Công Thiện, họ học được gì trong những dòng ngụy luận đó giúp họ lớn lên về tầm vóc nhận thức thay vì thúc đẩy bản năng về sự cao ngạo vĩ cuồng, về sự muốn hơn người hay khác người?

PCT_1-content

Về Chuyện Bằng cấp của Phạm Công Thiện

Trong dịp điếu tang Phạm Công Thiện, một thông báo của GHPGVN Hải ngoại do một tu sĩ ký tên được đăng tải khắp các diễn đàn trên mạng cho hay Phạm Công Thiện cho biết Phạm Công Thiện đã đỗ tiến sĩ đại học Sorbonne. Đây là một sự tiếm danh không cần thiết trước sự ra đi của một người.

Tôi có một tài liệu “Danh sách các luận án về Việt Học tại Pháp (1884-2006)” do Francois Guillemont tuyển chọn và được đăng lại trong tập san Dòng Sử Việt, trang 137, số tháng 5, tháng 10-12-2007.

Trong danh sách các người được liệt kê đỗ tiến sĩ về Việt Học có những tên tuổi như Nguyễn Thế Anh, Nguyễn Thị Ninh, Phạm Cao Dương, Pierre Brocheux, Nguyễn Mạnh Tường, Cao Huy Thuần, bà Lâm Thanh Liêm, Devilliers, Philippe, Trần Thị Liên, Langlet Philippe, Nguyen Van Ky.

Chưa có nguồn thông tin nào trả lời câu hỏi ông Phạm Công Thiện lấy tiến sĩ ở đâu, năm nào, đề tài luận án là gì? Cũng như vậy, việc dạy học Triết học ở Toulouse phải chăng cũng còn là một câu hỏi khác?

Đây là một điều Đính chánh dành cho Phạm Công Thiện trở thành nạn nhân của sự tâng bốc quá lố không cần thiết!!!

Những thư từ của H.Miller gửi cho Phạm Công Thiện

Cũng trong tập Tribu, Phạm Công Thiện còn giữ những thư mà H.Miller, gủi cho ông. Xin trích một vài đọan.

Trong một thư, ông Phạm Công Thiện cho biết đã viết được hơn 20 tác phẩm. Henry Miller đã viết trả lời:

Nhưng trước hết, ông cho phép tôi có đôi nhận xét về khả năng viết đến không thể tưởng tượng được (votre incroyable productivité). Ông nói rằng ông đã viết hơn 20 cuốn sách trong vòng vài năm gần đây (…) Ngay cả Balzac, Alexandre Dumas hay Victor Hugo đã không bao giờ có thể viết được với cái nhịp độ như thế.

Đây là một nhận xét gián tiếp phê phán, nghi ngại về tính hay “thổi phồng” của Phạm Công Thiện. Dù có thật cũng nên tế nhị, không quá phô trương.

Nhưng hình như những nhận xét của Henry Miller không mảy may ảnh hưởng gì đến thái độ ứng xử của Phạm Công Thiện. Có lẽ Henry Miller cũng là người duy nhất đã có thể đưa ra những nhận xét trung thực mà không bị Phạm Công Thiện giận dữ.

Henry Miller cũng là người gõ cửa nhiều bạn bè trong giới nhà xuất bản ở Pháp để giúp ông Phạm Công Thiện, nhưng kết quả chẳng ai giúp được gì. Một phần những người bạn ấy cho Henry Miller có cảm tưởng là họ thấy trình độ tiếng Pháp của Phạm Công Thiện chưa đủ.

(j’ai aussi l’impression qu’ils trouvent votre francais insuffisant).

Trích thư đề ngày 09/12/72. (Thật ra có thể chỉ vì cái accent nói tiếng Pháp của ông Phạm Công Thiện không chỉnh còn khả năng đọc và viết có thể khác)

Và trong hầu hết những lá thư ấy, hầu như lá thư nào Henry Miller cũng “tội nghiệp” cho bà vợ – vốn là người say mê âm nhạc, nghệ sĩ sáng tác và những cậu con trai của Phạm Công Thiện thừa hưởng dòng máu nghệ sĩ đó. Ông săn sóc đến các cậu con trai đầu và ngay cả đỡ đầu những người ấy.

Sự chăm sóc và lưu tâm tâm ấy của Henry Miller thật chân thật và trọn vẹn. Nhưng có thể Phạm Công Thiện với cá tính “hoang đàng” và coi mọi chuyện ân nghĩa chỉ là “gratuit”, phải chăng đã đưa đến sự đoạn tuyệt của Henry Miller với thi sĩ Phạm Công Thiện?

Vì thế, sang đến năm 1974 thì mối liên hệ giữa hai người kể như chấm dứt. Phạm Công Thiện lại xin tiền. Nhưng Henry Miller từ chối một cách lịch sự viện cớ phải trả một số tiền lớn cho thuế vụ và tiền trợ cấp cho hai đứa con của ông ta.

Rõ ràng đây chỉ là cách từ chối lịch sự của một người đã từng là ân nhân của Phạm Công Thiện.

Henry Miller kết thúc lá thư:

Bây giờ tôi phải xa ông. Như thể nói “thôi để mặc ông với số phận”. Điều đó có thể là điều tốt. Tôi không muốn cho ông ý kiến gì cũng như bày tỏ lòng thương cảm.

Well, I will leave you now. It’s like saying “I leave you to your fate”. I won’t try to give you advice or sympathy. Cheers. Henry.

Trong một lá thư đề ngày 08/01/1976, lá thư chót và cuối cùng Henry Miller liên lạc với Phạm Công Thiện. Miller đã nặng lời đến miệt thị với Phạm Công Thiện khi Henry Miller viết:

You are no charlattan, simply one of the most infortunate of God’s creatures. No fault of yours“

Ông không phải là người bất tài bịp bợm, ông chỉ là một sản phẩm bất hạnh nhất của đấng tạo hoá. Nhưng đó không phải là lỗi của ông.

Lá thư này cho thấy Henry Miller “dứt khoát” với Phạm Công Thiện trong sự ngờ vực, chê trách con người, cá tính của Phạm Công Thiện.

Thật ra sự nghi ngờ của Henry Miller về con người Phạm Công Thiện phải trở lại ngược thời gian trước đây lúc ông mặc áo cà sa. Không biết ông Phạm Công Thiện đã viết gì cho Henry Miller về việc đi tu của ông như tu tập lúc nào, thời gian bao lâu, sự tu tập ấy có mức độ nghiêm chỉnh không? Henry Miller đã đặt những câu hỏi nghi vấn về việc tu tập này vào năm 1966. Henry Miller thật sự nghi ngờ hỏi:

Có phải ông thật sự trở thành một moine Zen bây giờ? Ông có được truyền chức không? Nếu đúng như vậy thì ông có thể thật sự trở thành Sidharta (à la Hesse), hay là một bậc thầy (Maitre) vô danh?

Thư của Henry Miller gởi Phạm Công Thiện

Nguồn: Tribu, p 108

________________________________________

Trích lá thư của Henry Miller gửi Phạm Công Thiện, ngày 8-6-1966.

Sự nghi ngờ của Henry Miller là chính đáng.

Để chấm dứt phần Phạm Công Thiệ, bạn đọc nào muốn biết thêm, xin tìm đọc hai tài liệu sau đây :

Nguyễn Văn Trung: Ông Phạm Công Thiện, trong Thông luận 2007.

Và nhất là không nên bỏ qua bài của Thi Vũ- một người bạn từng cưu mang Phạm Công Thiện lúc còn ở Paris. Nó lột trần con người thật của Phạm Công Thiện. Bài viết nhan đề: Về một bài thơ của Phạm Công Thiện, trong Gió-0.com

Tôi nghĩ viết đến thế này là quá đủ. Viết xong bài này, tôi hy vọng không bao giờ phải viết một loại bài này như thế này chỉ vì một vài đả kích, bôi bẩn của một vài cá nhân.

Phần còn lại suy nghĩ, phê phán thế nào là tuy độc giả.

Tôi thật sự chán nản khi viết bài này như một thứ cực hình.

Advertisements