Câu chuyện chung quanh một lá cờ

 VDCVang3

Nguyễn văn Lục

Có đôi lần được dịp hàn huyên với một số bạn bè, có nhiều điểm cùng chia xẻ với nhau bầy tỏ nỗi băn khoăn của một người Việt Hải ngoại là sau 28 năm, sau ngày 30 tháng tư đen, hay là ngày Quốc Hận, Người Việt hải ngoại đã làm được gì và sẽ phải làm gì. Có cần một sự nhìn lại 28 năm qua. Liệu có thể đưa ra một lời giải đáp, một tổng kết về những thành quả đã đạt được và nếu cần cả những thất bại không làm được về phạm vi chính trị.

Mặt khác cho thấy tình cảm người Việt hải ngoại chúng ta vẫn là những xung động, quá khứ vẫn quay quắt, thái độ lập trường cái nhìn về một thể chế vẫn thế, bất kể những chuyển động xã hội về mọi mặt từ trong nước, ngoài nước đến toàn thế giới

Phía bên kia, có nhiều người từ chiến thắng đi ra bẽ bàng than : 30 tháng tư là một cuộc cách Mạng đã bị phản bội. Dương thu Hương sau cuộc chiến thắng thần thánh chỉ mang về cho con được một con búp bê, để lại đằng sau lưng bao nhiều đồng đội ngã gục trên đường mòn Hồ Chí Minh. Nào họ được cái gì.

Những người ra đi đã đành là một bi kịch của kẻ thua cuộc chạy trốn.

Nhưng sẽ gọi bằng tên gì, những kẻ chiến thắng, cuối cùng cũng cuốn gói ra đi như kẻ thua cuộc. Những Vũ Thư Hiên , Bùi Tín và hằng trăm người khác hiện nay còn ở lại đều bẽ bàng như thế.

Có thể tóm như trong Nhật Ký Rồng Vàng của Tướng Trần Độ, kẻ chiến thắng cũng là kẻ thất bại : Chế độ này là sự kết hợp giữa cái ngu muội của Tần Thủy Hoàng và cái dã man của chế độ Phát Xít Hit Le . Hiện nay cũng chưa có có câu trả lời nào cho 80 triệu người dân, một dân số đứng thứ 12 trên thế giới, nhất là câu trả lời cho 60 phần trăm dân số người Việt trong nước đều là lớp trẻ, thế hệ bản lề – một thế hệ không hình dung ra diện mạo cuộc chiến tranh của cha anh mình- Càng không muốn nhắc tới nữa.

Người Việt hải ngoại chúng ta nói cho cùng càng lúng túng, vụng về. Liệu chúng ta có thể tự tìm cho mình một lối thoát ra khỏi những lúng túng hiện nay không. Đã 28 năm rồi , chỉ thấy những phản ứng bị động, bị thúc đẩy bởi hoàn cảnh. Phần lớn lớp trẻ trong mỗi gia đình bận tâm với tương lai của chính mình, bàng quan với những day dứt , tọa thị đến thản nhiên, nếu không nói là phản bội cha anh mình. Những nỗ lực, những vận động chính trị, những tuyên bố của lớp đàn anh càng ngày càng không được lớp trẻ để ý tới..

Bài học thực tế đặt ra là vận mệnh đất nước này nằm trong tay 80 triệu người còn ở lại hay ở trong tay 2 triệu người ở ngoài nước.

Hay là nằm trong tay các siêu cường. Một người bạn cùng lớp ở trong nước đã một lần cay đắng viết thư trả lời người viết là : Anh có đất nước của anh, tôi có đất nước của tôi mà từng ngày, từng giờ tôi phải sống, phải đương đầu. Anh làm gì được cho chúng tôi. Đôi khi cái các anh làm chỉ trực tiếp di hại đến chúng tôi. Có thể nào để yên cho chúng tôi được không. Chúng tôi biết chúng tôi phải làm gì. Có cần các anh từ xa nửa vòng trái đất dạy cho chúng tôi bài học sống trong lòng một chế độ không.

Vậy, liệu có con đường nào khác con đường chúng ta đang đi hay không.

Liệu chúng ta nên tranh đấu cho một tiến trình dân chủ và tự do hay là mưu cầu lật đổ một chế độ ngoài tầm tay của chúng ta..

Liệu có ai tiên đoán được lớp già nằm xuống, tương lai người Việt Hải ngoại sẽ ra sao. Liệu có còn ai sẽ tiếp tay người đã ra đi..Cái gì sẽ còn lại khi họ bỏ đi rồi.

Báo chí hải ngọai là một diễn đàn dân chủ, tự do-

Phải chăng đó cũng là một đường lối chống những tiêu cực, trì trệ về tiến trình tự do và dân chủ ở trong nước. Liệu chúng ta có thể nào vượt lên trên lằn ranh nghiệt ngã về chính trị để tìm lại dân tộc mình, đất nước của mình, băn khoăn và chia xẻ mối lo cho đất nước giầu mạnh trong hoà bình trong chiều hướng toàn cầu hoá. Toàn cầu hoá là hướng đi của thế giới ngày nay, liệu người Cộng Sản trong nước có thể đi chệch đường như kẻ đứng bên lề được không.

x x

x

Khi xảy ra vụ kiện Trung Tâm Joiner, thật ít có người có điều kiện để hiểu rõ nội tình vụ kiện. Joiner là tổ chức gì, mục đích chương trình của họ, nội dung nghiên cứu, đề tài nnghiên cứu, thể thức mời người cộng tác, Uûy ban của chương trình đó gồm những ai, diễn tiến và nguyên ủy vụ kiện… Người viết dựa trên tài liệu của hai bên , nhất là của Trung Tâm Joiner và CĐVN, Mass, để mọi người nắm được phần nào nguyên ủy vụ kiện, biết được bao nhiêu nói bấy nhiêu. Đằng sau tài liệu và những ẩn ý chính trị cũng như động lực nào đẩy đến chỗkiện tụng lại là chuyện khác..Cùng lắm người viết chỉ đưa ra những suy đoán giả thiết. Thiết nghĩ rằng, giá trị thông tin sàng lọc các nguồn tài liệu của bài này tự nó là một điều ích lợi cho nhiều người.

Một chương trình nghiên cứu của một Đại học, dù là tìm hiểu về người Việt ở Hải Ngoại cũng không đủ gây chú ý và phản ứng mạnh mẽ như thế nếu không có việc Trung tâm Joiner mời hai vị từ ngoài Bắc Việt Nam là Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi. Giả dụ hai vị này cũng ở Việt Nam mà là người Sàigòn cũ – Dù họ có là cấp tiến, thiên tả hay gì gì đi nữa – cũng dễ được chấp nhận vàø đã hẳn chả có kiện cáo gì. Nhưng mời hai ông trên từ Hànội là một thách thức cả cộng đồng người Việt Hải Ngoại mà theo một số các vị tổ chức là một xỉ nhục CĐVN hải ngoại. Vì thế phải rửa nhục, phải kiện. Phản ứng đó không thể nào làm khác được với một quá khứ tủi hận bỏ nhà bỏ cửa ra đi , dù đã trên 25 năm rồi. Nó vẫn nhức nhối khi đụng vào nó.

Phản ứng từ khắp nơi. Bắt đầu từ Boston do ông Nguyễn Hữu Luyện, một sinh viên cao học, ngành Mỹ Quốc Học , đại diện cho CĐVN, Mass tại trường Umass. Sau đó, ông được sự hỗ trợ của 10 vị đứng trong danh sách nguyên đơn kiện đại học.

Ở Montréal trong bữa ăn gây quỹ được đăng trong Thời Báo : Tổ chức WJC đang cấu kết cùng nhóm phản chiến HK và ngụy quyền CS VN để thực hiện xuyên tạc và sửa đổi sự thật về cuộc ra đi vĩ đại của người Việt ( TB, số 647, 24-5-2002.) Oâng Lê Tùng Minh chuyên viên bình luận chính trị viết : Trung tâm Joiner đã xúc phạm đến quyền lợi và danh dự của CĐVN.. Oâng Phạm Ngọc Toàn, chủ tịch CĐVN Mass chất vấn ông Kevin Bowen, GĐ TT Joiner ( Thư ngày 22-6-2000). Bài : Hãy dựa vào sức mình đăng trên báo Việt Nam daily. Thư của Vietnamese Professional Society và thư của Vietnamese Medical Association of the free world…Bài viết trên tờ Thăng Long Journal của ông Nguyễn mạnh Cường ngày 9-5-2000.. Chương trình 30 phút trên Việt TV ngày 25-4-2000 của BCH , CĐVN Mass.

I.-Diễn tiến Vụ kiện.

Phác họa một cái nhìn về CĐVN hải ngọai

Sau 25 người Việt di tản, Cộng đồng người Việt ở Hải ngoại đã đổi thay và phát triển về các phương diện xã hội, kinh tế , văn hoá và chính trị. Đã đến lúc thời gian đủ chín mùi để từ đó nhìn lại một thời đại đất nước đã là bãi chiến trường của tất cả những trào lưu tư tưởng tầm cỡ nhất của thế kỷ 20.. Từ chế độ thực dân, phong kiến, quốc gia, Cộng sản, mâu thuẫn Đông Tây, mâu thuẫn tôn giáo, Đế quốc, tân đế quốc, chiến tranh giải phóng và chống giải phóng, sự thành công cũng như sự thất bại đến tan rã của chủ nghĩa CS. Bấy nhiêu thứ tranh chấp đối đầu đã để lại dấu ấn nơi người Việt Hải ngoại khi đi tìm một tương lai mới, một chân trời mới cho chính mình và con cháu mình. Cho nên, việc tìm hiểu CĐVN ở hải ngoại là điều cần thiết. CĐVN hải ngoại sau 75 là một lịch sử đầy thương đau và nướùc mắt xuất phát từ những chính sách hà khắc phân biệt Ta , Địch, Ngụy, quản lý tương lai con người bằng lý lịch cộng với những năm tháng dài hạn cải tạo..Một cộng đồng người Việt bị thương tật, tổn hại tinh thần do đàn áp chính trị tuỳ theo tuổi tác, tuỳ hoàn cảnh cá nhân sẽ phản ứng theo cái gia sản , kinh nghiệm đau thương mà họ đã trải qua.

Vì thế, cộng đồng VN hải ngoại là một tập thể đa dạng bao gồm nhiều lớp người, nhiều thế hệ, nhiều thành phần xã hội.

Theo một thống kê của Mỹ ( Links . http www .ci.long-beach.ca.us aboutlb demograf.htm) những đợt di dân VN đến Mỹ, cao điểm nhất là 75 rồi 79. 80, 81, rổi tiếp tục vào các năm 90, 91. Tỉ lệ người Việt thất nghiệp là hơn 7%, cao so với dân số Mỹ.. Nhưng từ những lớùp di dân đến trong nhiều thời kỳ khác nhau, kéo dài gần 20 chục năm từ di tản đến vượt biên rồi đoàn tụ sẽ tạo ra một cộng đồng phức hợp. Từ đó sẽ có nhiều quan điểm, nhiều thái độ, nhiều tiếng nói khác biệt. Nguời đi 75 khác 79, khác thành phần đi đoàn tụ, Ho, người đi cải tạo. Rồi lớp già, lớp trẻ, thế hệ người di tản thứ nhất , thứ hai và thứ ba, người có học, ít học, nhất là lớp trẻ mới lớn lên ở xứ người. Trong tương lai 5,10 năm nữa , lớp trẻ sẽ chiếm đa số thành phần người Việt Hải ngoại thuộc thành phần dân số hoạt động.. Vì thế cần có một nghiên cứu liên ngành tìm hiểu khám phá tính chất đa dạng , mâu thuẫn khác biệt để xây dựng một cộng đồng dân chủ có sự tôn trọng sự đa dạng và cá biệt trên vùng đất mới..

Hình thành Trung Tâm Joiner.

Năm 1989, Đại học Mass đã được cấp một tài trợ 4 năm để thành lập chương trình học bổng nhân văn Rockefeller, một trong 30 chương trình học bổng nhân văn hoạt động trên khắp thế giới với sự cộng tác của chương trình người Mỹ gốc Á Châu, chương trình nghiên cứu Đông Á học, trường Cao đẳng giáo dục, Viện nghiên cứu người Mỹ gốc Á Châu và Trung tâm William Joiner. Trung tâm Joiner quản nhiệm chương trình với 8 thành viên , trong đó có 3 người Việt mà đặc biệt có ông Nguyễn bá Chung.

Đề tài nghiên cứu của Trung tâm về người Việt là : Xây dựng và tái xây dựng diện mạo (diaspora) quê hương người Việt hải ngoại. Trong đó tìm hiểu những quan điểm hình thành liïch sử Việt Nam, khảo sát những tiếng nói của người Việt nước ngoài qua ngôn ngữ, văn học, văn hóa.. Tìm hiểu diễn trình thay đổi , tiến triển, xây dựng và tái xây dựng người Việt nước ngoài. Đó là một cái nhìn dài hạn nhắm vào tương lai. Chương trình đó không chỉ nhằm mô tả, sao chép, chụp lại căn cước những mẫu người Việt hải ngoại hiện đang có mặt. Đó là điều đặc biệt cần lưu ý và đó cũng là điều mà nhiều người Việt hải ngoại đã nhìn như vậy. Từ đó cho rằng Trung Tâm nhằm bôi xoá căn cước người Việt di tản trong chiều hướng thiếu thiện ý để cho một số cán bộ Cộng Sản bôi nhọ hình ảnh người Việt Hải ngoại.

Chương trình sẽ mời từ 2 đến 5 học giả hoặc nhà nghiên cứu trong mỗi năm, trong 3 năm liền mà thời hạn làm việc ở Boston là từ 3 tới 9 tháng với số lương khoảng 35 ngàn Mỹ kim. Điều kiện là phải nộp một tiểu luận khoảng 20 trang trình bày phương pháp nghiên cứu, đề tài cùng khái niệm nghiên cứu cũng như những đóng góp về những thành quả nghiên cứu cho những công trình sắp tới. Ngoài ra một bản CV và ba người giới thiệu. Việc tuyển chọn do bỏ phiếu của 8 thành viên và mỗi lá phiếu đều có tiếng nói độc lập.

Nguyên do vụ kiện TT Joiner

Trong một buổi họp của hội đồng thường trực của nhóm sọan đề án, ông Nguyễn Bá Chung đã đưa ra một câu chuyện có thật làm điểm tựa cho đề án như sau :

Một em bé Việt Nam tự tìm đọc ở trường về lá cờ của quê hương bản xứ của mình. Em được cho điểm tốt. Em đã đem kết quả đó về khoe ông nội. Nhưng không ngờ ông nội em không những không khen mà còn giận dữ : Đây không phải là cờ của nước mình. Mày không biết cờ của nước mình là gì à. Em bé rất bối rối cho đến giờ phút này vẫn chưa hiểu tại sao ông nội của mình lại giận dữ như thế.

Câu chuyện trên cùng với một vài chuyện khác đã được một thành viên không phải là ông Chung viết cho phần dẫn nhập dài khoảng một trang cho đề án. Phần dẫn nhập trên nói lên tính cách phức hợp mà CĐVN hải ngoại phải đối phó..trong tương lai với các thề hệ thứ hai, thứ ba..Những mâu thuẫn mà thực tế có thể có và chắc sẽ xảy ra trong mỗi gia đình, trong mỗi cộng đồng lớn nhỏ. Không thể phủ nhận tiến trình phát triển và tiến hoá xã hội có sự phủ nhận, sự vượt qua, sự thay đổi tiếp cận với cái sắp tới tạo ra những khủng hoảng giá trị, niềm tin về mọi phạm trù luân lý, tôn giáo đến chính trị. Cái thẻ căn cước của lớp người tỵ nạn đầu tiên đã biến dạng về nhân số, về tinh thần hội nhập, về một quá khứ đã đi vào quên lãng và về một tuơng lai chưa định hình. Đã đến lúc phải nghĩ tới lớp người mới, một thẻ căn cước mới mà mọi quyết định tương lai phải do họ quyết định lấy, không phải do thiểu số những người trên dưới 60, 70 tuổi . Nói ra thì như một xúc phạm, nhưng thật sự lớp tuổi đó để lại một quá khứ thù hận, bực bội, loay hoay tìm chỗ giải thoát cho chính mình , giải quyết những xung đột nội tâm của bản thân họ cũng không xong, mong chờ ở họ được cái gì. Họ cảm thấy hụt hẫng mất chỗ đứng và con cái họ đã bỏ rơi họ trong nếp sống nếp nghĩ, trong những quan niệm về luân lý , đạo giáo và chính trị.

Căn cứ vào bản dẫn nhập với câu chuyện kể trên, ông Nguyễn Hữu Luyện đã viết một bản tường trình tố cáo cá nhân ông Nguyễn bá Chung là : Nhục mạ văn hóa Việt Nam, bôi nhọ CĐVN trước mắt người Mỹ, đánh gục thế hệ già của CĐVN, âm mưu xảo quyệt, thực hiện chiến dịch thâm độc của VC, lưu manh chính trị..

Trong bản tường trình, ông Luyện còn tố cáo ông Chung là : Tên Nguyễn Bá Chung mời hai người Việt từ Việt Nam qua, hai nhà văn do y lựa chọn.

Phải nhìn nhận rằng cá nhân ông Nguyễn Hữu Luyện là người có lòng, có nhiệt tâm. Ông đeo đuổi một lý tưởng chống Cộng Sản đến cùng, không khoan nhựợng. Đó là quyền của ông. Ông đã đại diện cho Cộng Đồng người Việt Boston đưa ra những lời cáo buộc Trung Tâm Joiner và cá nhân ông Nguyễn bá Chung và mong rằng ông hội đủ bằng cớ để tính cách đại diện của ông như một biểu tượng của cộng đồng người Việt không vì thế bị hoen ố.

Nguyễn bá Chung là ai.

Ông Chung là người Bắc di cư vào miền Nam. Đỗ cử nhân anh văn trường Đại học Văn khoa Sàigòn. Du học, lấy tiến sĩ văn chương bên Mỹ. Trong hơn 10 năm, ông làm lung tung đủ thứ nghề. Từ 1995, trở lại làm việc cho Đại học Mass, Boston. Hoạt động văn hoá của ông là nhằm giới thiệu thơ văn, tiểu thuyết VN sang tiếng Anh, cộng tác với một số giáo sư trong đó có ông Kevin Bowen. Oâng viết một số tiểu luận Coming Full circle. The Field of vision in Viet Nam Poetry. The Long road Home : Exile, Self-Recognition and Reconstruction. Dịch thuật : Lê Lựu, A time far Past chung với các ông Ngô Vinh Hai, Kevin Bowen và David Hunt. Mountain River: Vietnamese Poetry from the wars. Cuốn này viết chung với Kevin Bowen và Bruce Weigh. Six Vietnamese Poets, viết chung với Kevin Bowen..Oâng Chung còn về Việt Nam làm việc cho Mỹ trong chương trình VietNam Today ở Hànội.

Tất cả những ý kiến và quan điểm của ông Nguyễn hưũ Luyện đã được cộng đồng người Việt ở Boston đứng đằng sau ủng hộ và được đăng trên các báo địa phương cũng như trên truyền hình hoặc mạng lưới. Chính thức ông Luyện đã gửi một thư cho HĐTT Rockefeller và viện trưởng đại học Umass Boston trong đó đòi cách chức ông Nguyễn Bá Chung ra khỏi Đại học. Việc đòi hỏi cách chức này nếu chỉ nhằm những tác dụng chính trị thì không nói làm gì, nhưng về mặt hành chánh quản trị, quyền tự trị Đại học thì thật không dễ.

Trong những thắc mắc của người Việt trong một buổi gặp gỡ giữa đại diện CDVN, Mass và Chương trình Rockefeller, UMASS vào ngày 25 tháng 8, 2000 có một số điểm như sau :

– Chương trình Rockefeller do ai điều khiển, do ai đại diện. Có phải do những cán bộ CS điều khiển không. Tại sao chương trình chỉ mời hai học giả từ VN. Sẽ có bao nhiêu học giả từ VN sẽ tham dự. Những người đến từ VN có viết lại lịch sử của người Việt tỵ nạn không. Những thành quả nghiên cứu của họ sẽ được đem vào giảng dạy trong các cơ sở giáo dục ở Mỹ không. Làm sao chương trình có thể bảo đảm được tính cách khách quan của việc nghiên cứu.

Cũng trong buổi gặp gỡ này, phía VN có luật sư Thái ngọc Nguyên, cố vấn pháp luật cho CDVN đã gây ngạc nhiên cho phía Trung Tâm không ít. Có cần thiết hay không sự có mặt của luật sư trong một buổi gặp gỡ trao đổi về nghiên cứu văn hoá. Quả thực luật sư đã ngắt lời mỗi khi có một thành viên nào của Phái Đoàn muốn ám chỉ người của Trung Tâm là CS..Trên mặt pháp lý, xét đoán như thế phải có bằng cớ nên luật sư cho đó chỉ là ý kiến cá nhân. Tính cách cá nhân và đại diện đã lẫn lộn trong trường hợp này. Lúc nào là phát biểu cá nhân, lúc nào phát biểu đó có tính cách đại diện.

Trong phần trả lời các ý kiến trên, Tiến sĩ Bowen có hỏi tất cả thành viên đại diện CĐVN có mặt trong buổi họp là đã có quý vị nào đọc các công trình nghiên cứu của hai vị học giả từ VN không. Không thành viên nào xác nhận. Mới đây, ông Phan Tấn Hải có viết bài cho biết ông có đọc vài số Viet Nam Review trong đó GS Huỳnh sanh Thông và Hoàng Ngọc Hiến làm co-editor..Bài viết của ông HNH mang nội dung ủng hộ các nhà văn Dương Thu Hương, Nguyễn Huy Thiệp vvv…Trung tâm cũng xác nhận rằng từ khi phát động chương trình, chưa hề có một bản nghiên cứu nào của hai học giả trên được phổ biến, làm sao có thể nói họ xuyên tạc bôi nhọ Cộng Đồng.

Giả dụ , họ có viết bôi nhọ chúng ta đi, theo ông Bowen, tại sao chúng ta không đủ tự tín để viết phản biện, bác bỏ những luận điểm sai lầm của họ. Tại sao cả một cộng đồng với năng lực trí tuệ hơn cả 80 triệu người trong nước lại sợ hãi hai nhân vật đến từ Việt Nam. Những lo ngại đến hốt hoảng, đi đến phẫn uất về một bóng ma Cộng Sản thật ra không có cơ sở, thiếu thực tế. Bằng chứng cụ thể là đã hai năm rồi, bọn họ đã viết được gì, đã làm được gì, đã có chỗ nào bôi bẩn, xóa bỏ căn cước của chúng ta. Xin nêu ra một bằng cớ. Trong một bài phỏng vấn ông Nguyễn Huệ Chi về công việc của ông ở Đại học Boston, ông cho biết đã vào thư viên đại học đọc tài liệu sách vở, trong đó ông đặc biệt nhấn mạnh có đọc sách thầy Nhất Hạnh và Lm chuyên về Nho giáo Lương Kim Định. Về LM Lương Kim Định thì các học trò của ngài ở khắp nơi trên thế giới đã hẳn chả thua gì Nguyễn Huệ Chi.

Nay ông Nguyễn Huệ Chi mới bắt đầu mày mò đọc thì đã đi đến đâu. . Mà đọc LKĐ, Nhất Hạnh thì có liên quan gì đến âm mưu bôi bẩn căn cước của chúng ta.

Sau đó, Trung tâm đã đưa ra một số đề nghị :

– Sẵn sàng chào đón , thu nhận ý kiến của cộng đồng trong những buổi thảo luận. Những gì Cộng đồng không đồng ý với những bài viết của hai vị trên, có thể góp như những phản biện và những phản biện này sẽ trở thành tài liệu chung của Trung tâm nghiên cứu.

– Trung tâm sẽ nghiên cứu và sửa đổi lại nguyên tắc thường trú ( Residency ) để cho một số nhà nghiên cứu hải ngoại, vì sinh kế hoặc lý do khác dễ có điều kiện hợp tác với chương trình x

Sau đó có thành viên của CDVN góp ý sẵn sàng làm việc với hai học giả xuất thân từ Đại học Mỹ. Một thành viên khác đã đứng lên ngắt lời không cho thành viên kia phát biểu.

– Trong buổi họp, Trung tâm đã cho phép thu hình tất cả chi tiết buổi họp và Tiến sĩ Bowen đã gửi một thư cho CDVN ngày 25 tháng 8, 2000 nhắc lại sẵn sàng hợp tác với CDVN và yêu cầu gửi cho một phiên bản Vidéo. CDVN đã không trả lời cũng không gửi cuốn băng buổi họp.

– Nhưng trên liên mạng và trên các báo VN , Cộng đồng VN đã phổ biến tất cả nội dung buổi họp, nhưng cắt bỏ tất cả những đề nghị 4 điểm của Trung Tâm coi như không có. Đồng thời cắt bỏ những câu hỏi của Tiến sĩ Bowen về những ngắt lời của luật sư Nguyên, về những ý kiến phát biểu đối chọi nhau của các đại diện CDVN.. Thông cáo về buổi họp của CDVN cũng không nhắc gì tới những phát biểu của Tiến sĩ Watanabe về cái nhìn phân cực trắng đen giữa Cộng Sản và chống Cộng sản cũng như những đóng góp ý kiến của Tiến sĩ Michael La Fargue.

– Sau này, ông Nguyễn Bá Chung , đại diện Trung Tâm Joiner trong một lá thư ngỏ đã yêu cầu CDVN, Mass công bố toàn bộ nội dung buổi gặp gỡ đó, chiếu lại toàn bộ cuốn Vidéo thu hình buổi họp và giao lại cho trung tâm một phiên bản Vidéo buổi họp. Ông Nguyễn bá Chung gợi ra nguyên tắc là bất cứ bản trường trình nào về một buổi họp thì ý kiến đôi bên đều phải được ghi nhận, không thể tự tiện cắt xén những ý kiến bất lợi lợi về phiá mình.

– Cũng trong thư ngỏ, ông Nguyễn bá Chung đã nêu ra trường hợp ông Nguyễn hữu Luyện trong bản tường trình ngày 25 tháng 5, 2000 của ông nói Tiến sĩ Peter Kiang đã đồng ý việc sa thải Ông Chung ra khỏi đại học. TS Peter Kiang đã phản kháng bằng thư xác nhận ông Luyện đã hoàn toàn bịa đặt.. Ông Luyện đã im lặng không trả lời thư của GS Peter Kiang.

2.- Một vài ý kiến.

Qua một số sự kiện ở trên, người viết thấy rằng , có vụ kiện vì những lý do sau đây :

– Câu truyện cháu bé làm bài với lá cờ Cộng sản, rồi bị ông nội mắng. Sự việc nêu ra được coi như một xỉ nhục CĐVNHN.

– Kiện vì sự có mặt của hai cán bộ Cộng Sản. Vì hai người này có thể bôi nhọ cuộc ra đi, hoặc xóa bỏ căn cước người di tản.

Vì thế, trên danh nghĩa thì kiện tổ chức Joiner, mặc dầu Trung Tâm Joiner mời gọi tham gia ý kiến và đưa ra một số sửa đổi và 4 đề nghị .

CĐVNHN đã không lưu ý gì đến những đề nghị của Joiner. Nhưng trên thực tế nhắm hạ ông Nguyễn Bá Chung và hai ông học giả từ VN. Từ đầu tới cuối, chỉ vì câu truyện lá cờ và sự có mặt hai đại diện từ VN có mặt nên đã phản ứng mãnh liệt. Phản ứng đó chẳng khác gì khi Cộng Đồng người Việt phản đối những ca sĩ đến từ VN sang đây trình diễn.

Trong lá thư của ông Kevin Bowen, giám đốc trung tâm William Joiner gửi ông Nguyễn Mạnh Cường ngày 17 tháng 5 , 2000 chủ nnhiệm báo Thăng Long có than phiền là Oâng Luyện trích một phần đề án chương trình, coi đó như một đả kích bất cứ khía cạnh nào của tổ chức từ đó đả kích toàn bộ đề án và gán trách nhiệm cho ông Chung là một hành vi gây tổn thương uy tín cá nhân và chương trình. Ngôn ngữ trả lời của Bowen và Nguyễn Hửu Luyện thật khác nhau. Trong một thư, ông Luyện nói có đầy đủ bằng cớ ông Chung là tay sai CS, nhưng rất tiếc ông lại không đưa ra. Trong 8 thành viên, chỉ đòi cách chức mình ông Chung vì là tay sai CS. Giả dụ một thành viên Mỹ khác là tay sai CS ông có đòi cách chức không. Mọi tuyển chọn người đều do phiếu bầu của 8 thành viên , trong đó có 3 VN là ông Chung, cô Nguyễn thị Tuyết Trinh và ông Hiệp Chu. Giả dụ ông Chung có giới thiệu 2 ông học giả VN thì cũng ít nhất có hai phiếu thuận của hai người VN khác, tại sao nhắm riêng ông Chung.

Việc đòi cách chức ông Chung về mặt hành chánh, quyền tự trị Đại học, đến chính trị là không hợp tình, hợp lý.

Cho dù ông Chung có là CS thật đi nữa , vị tất ý kiến của ông Luyện đã được chuẩn nhận. Vì vậy, Phó Viện trưởng đặc trách học vụ Charles F. Chuđe trong thư đề ngày 5 tháng 7, 2000 đã trả lời ông Luyện như sau :

Tôi tin tưởng rằng chương trình này dưới sự điều khiển của TS Bowen và ông Nguyễn Bá Chung sẽ thành công rực rỡ ..Tôi có một sự tín nhiệm rất lớn nơi TS Bowen và ông Nguyễn Bá Chung và HDTT, cơ quan trách nhiệm tuyển chọn các nhà nghiên cứu…. Tôi rất tiếc những hoàn cảnh đã đưa đến sự quan tâm của ông.

Hoàn cảnh nào ông không nói tới, mọi người phải tự tìm hiểu lấy.

Về hai ông học giả Nguyễn Huệ Chi và Hoàng Ngọc Hiến. Đại diện Joiner hỏi đại diện phái đoàn VN biết gì về hai ông Chi và Hiến, về sách vở họ đã viết. Chẳng ai trả lời một cách rõ ràng vì chưa có ai có cơ hội đọc. Sự im lặng của đại diện phía VN làm cho các thành viên của Joiner không khỏi ngạc nhiên.

Xin sơ lược đôi dòng về hai ông :

Về ông Hoàng Ngọc Hiến :

Một cách sơ lược, ông Hiến tốt nghiệp TS Đại học Moscou năm 64.. Dạy Đại học, về hưu. Đã sang Mỹ 2 tháng vào năm 1995 diễn thuyết đó đây ở các đại học Harvard, Berkeley. Có tiếp xúc với nhà văn Mai Thảo. Đồng chủ bút tờ Viet Nam review với dịch giả Huỳnh Sanh Thông và nhà văn hải ngoại Trương Vũ.

Vô số các bài viết và phỏng vấn tại Mỹ, Pháp . ông có viết trong tờ Hợp Lưu và Diễn đàn ở Pháp.

Ông đã được nhà văn Nguyễn Mộng Giác, tác giả của Sông Côn mùa lũ, Tổng biên tập tờ Văn Học trong một bài : Những người cầm bút trung thực coi ông là một trong hai người cầm bút mạnh dạn nhất được giới văn nghệ trọng nể .

Nhà phê bình Thụy Khê tiếp nối ông NMG trong bài viết cho đài phát thanh tiếng Việt của Pháp RFI ca tụng là:

Một trong hai tiểu luận được coi như những bài khai quang cho nền văn học đổi mới . Trong sinh hoạt văn học hải ngoại trong suốt một phần tư thế kỷ ở hải ngoại, chúng tôi ít có dịp được đọc một lời khen tụng trân trọng đến như vậy.

Trong khi đó ở trong nước tờ Kiến thức Ngày nay liên tiếp trong các số 228, 236,. 240, 243 năm 1946 và tờ Văn Nghệ Thanh Hoá số 33 lên án bài viết của ông là Phản khoa học, và phản cách mạng .

Về ông Nguyễn Huệ Chi.

Nếu người nào có theo dõi sinh hoạt văn học miền Nam vào thập niên 60 có thể đã nghe tên Nguyễn Đổng Chi, bố của ông Chi. Năm 1956, ông Nguyễn Đổng Chi có cho in cuốn : Lược khảo về thần thoại Việt Nam.

Một vài cuốn đã lọt vào miền Nam. Có một học giả thứ giả thiệt là ông Hoàng Trọng Miên ở Sàigòn lúc bấy giờ có xuất bản cuốn Việt Nam Văn học Toàn thư. Ông này đã thuổng sách của Nguyễn Đổng Chi ở ngoài Bắc, mạo danh nhận của mình tưởng không ai biết. Năm 1958, một học giả khác đã viết một bài đăng trên báo đối chiếu 2 cuốn sách thấy giống nhau như đúc. Ông Hoàng trọng Miên lờ đi, biệt tăm tích. Sau vụ lật đổ ông Diệm, ông lại trồi lên viết cuốn Đệ nhất phu nhân. Cả hai chuyện liên quan đến ông quả thực không hay ho gì.

Nguyễn Huệ Chi học ở nhà, tốt nghiệp khoa ngữ văn Đại học Hà nội. Phó giáo sư rồi giáo sư Viện Văn học. Tác giả nhiều bài nghiên cứu và sách trong đó có Tư tưởng Phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu.

Cuốn sách này đã được ông Nguyễn Thắng viết một bài dài trên Diễn Đàn Paris số 50 , 1966 hết lời khen ngợi..

Và Văn học VN trên những chặïng đường chống phong kiến xâm lược.. Năm 1994, được hội Partage mời sang Pháp diễn thuyết. Oâng chuyên nghiên cứu về mảng Văn học Lý Trần với Nguyễn Trãi từ 40 năm nay.

Thụy Khê với bài 20 năm văn học Việt Nam hải ngoại , Hợp Lưu số 50 và đăng lại trong Đặc san xứ Quảng, Boston đã khen ngợi Nguyễn Huệ Chi về bài viết của ông : Vài cảm nhận văn học hải ngoại. Bài viết của Nguyễn Huệ Chi đã giới thiệu một số tác phẩm ngoài nước dưới nhãn quan đứng đắn của người nghiên cứu , phê bình không phân biệt lằn ranh địa lý chính trị .

Quả thực, có nên coi nhẹ những đánh giá trên của các nhà văn Hải Ngoại như Nguyễn Mộng Giác, Đặng Tiến, Thuỵ Khê , Trần Vũ.

Trừ khi, chúng ta xếp họ và các tờ báo họ cộng tác là Cộng Sản ,

thì không còn gì để nói nữa.

Cũng xin nói thêm là trong số 4 học giả được mời, cộng đồng VN hải ngoại đã không nhắc tới một người trẻ tuổi, người Mỹ gốc Việt là Tiến sĩ Kiều Linh Caroline Valderde.

Cô Tiến sĩ KL vừa đỗ tiến sĩ xong vào năm 2000, với luận án tiến sĩ Elemental change and continuity :

Vietnamese American Transnational . Sự có mặt của cô Tiến sĩ này, với hiểu biết chuyên môn của cô đã hẳn đóng góp không nhỏ cho chương trình. Cô đã để công nghiên cứu viết khá nhiều về cộng đồng VN hải ngoại như Mixed race Class Typology : a multiracial Vietnamese American Case study. From dust to Gold: The Vietnamese Amerasian Experiences. Mixed people in America. Viet kieu Transnational Identity: The case of Expatriate Labor.

Có nhiều vị có lòng đối với cộng đồng muốn quyên góp tiền bạc để tài trợ giới trẻ nghiên cứu về cộng đồng người Việt. Tại sao không dùng những tài liệu sẵn có của cô tiến sĩ này. Thật đến lạ.

Ông Nguyễn Hữu Luyện nghĩ thế nào khi có một số nhà phê bình, nhà văn hải ngoại đề cao hai ông Nguyễn Huệ Chi và Hoàng ngọc Hiến. Và càng khó nghĩ vì nay có một vài ứng viên có uy tín của Cộng đồng hải ngoại tham gia chương trình gồm các ông sau đây:

1.- Ông Nguyễn Hữu Liêm, giáo sư Triết ở San jose college với đề tài The presciptive language of the new Identities : a philosophical Investigation ( Ngôn ngữ quy kết của những căn cước mới : một tìm hiểu triết học.

2.- Nguyễn thị Thanh với đề tài Where should we go.

3.- Nhà sử học Tạ chí đại trường với nhiều công trình nghiên cứu sử học từ mấy chục năm nay. Tác giả cuốn : Một nửa VNCH nối dài.

4.- Đỗ Quyên với đề tài The Vietnamese overseas community through the lens of interview. Oâng này học ở Moscou năm 88 đến 90, sau trốn sang Đức, nay thì ở Canada.

5.- Nhà phê bình văn học Đặng Tiến, dạy ở đại học Denis Didero, cử nhân văn khoa Sàigòn VN.

Với những tên tuổi mới, một vài bài viết dù họ xuất phát từ đâu đi nữa sẽ bão hoà, có gì đề e ngại. Việc đi tìm lại căn cước của chính mình, đồng bào mình sợ gì người ta xé bỏ căn cước của mình.

3.- Một vài nhận xét mở rộng.

Về bàn tay của người Mỹ.

Kể từ sau thế chiến hai, người Mỹ có mặt khắp nơi, mọi chỗ :

Từ đông sang tây, từ bắc chí nam trở thành một thứ cảnh sát quốc tế trong âm mưu lật đổ, gài người, khuynh đảo, chi phối, áp lực, bạo lực xâm chiếm, đe dọa trong mục đích tối hậu cho quyền lợi Mỹ.. Không có cái gì mà không dính dáng đến chính trị từ một trận bóng bàn, một chương trình cứu trợï, một chương trình văn hoá, giáo dục vv. Thời Việt Nam Cộng Hoà, họ ủng hộ công giáo, ông Diệm. Tài trợ các cơ sở Văn hoá, các tờ báo hằng ngày, bán nguyệt san Sáng Tạo, Hiện Đại, Thế kỷ 20. Các tờ báo này nhận tiền của Mỹ để làm báo như chính Nguyên Sa thẳng thắn xác nhận . Trong cuốn Huyền Thoại về chế độ Ngô Đình Diệm, ông Vĩnh Phúc cũng xác nhận là tiền của người Mỹ đã được gián tiếp chuyển qua tay ông Trần Kim Tuyến trao cho các báo trên.. Nhận tiền trực tiếp từ phía Mỹ đã hẳn một cách nào đó gián tiếp làm việc cho Mỹ, theo đường lối của Mỹ.

Sau ông Diệm, họ nâng đỡ Phật giáo như một cán cân quyền lực mới với đa số quần chúng là phật tử. Đặc biệt qua chương trình du học Asian Foundation. Tạm gọi là chương trình du học ĐI THẲÛNG Chương trình du học có rất nhiều, có đủ loại. Nhưng tất cả phải qua bộ giáo dục hay đúng hơn Nha Du học duyệt xét. Riêng Asia Foundation, người Mỹ tự chọn người, có thông qua nha du học, nhưng nha không có thẩm quyền chọn lựa. Vì thế nhiều Phật tử, nhiều tu sĩ Phật giáo đã đi qua ngưỡng cửa hẹp này không qua nguyên tắc tuyển chọn hoặc thủ tục thông thường. Có nhà sư học Đại học sư phạm Triết Đàlạt được bất ngờ bốc đi. Chẳng bao lâu có bằng tiến sĩ về dạy Vạn Hạnh. Có vị giáo sư Trung học dạy Anh văn ở tỉnh lẻ cũng được gọi về lên máy bay đi Mỹ du học. Vợ cũng đi du học luôn . Và trong lịch sử Nha du hoc, chưa từng bao giờ có trường hợp cả con nhỏ cũng đi du học theo bố mẹ để lấy bằng tiểu học .

Chương trình Asia Foundation phản ánh đường lối của Mỹ. Đấy là chính sách của Mỹ, đường lối của Mỹ. Ta chẳng nên lấy làm lạ. Người Mỹ là thế. Viết ra điều này không có ý bôi bác ai, chỉ muốn cho thấy Mỹ có chính sách của Mỹ, đường lối của Mỹ. Có lợi cho họ và cũng có thể có lợi cho ta. Người Mỹ cũng tài trợ các chương trình Hè cho SV và học sinh như Lên đường, Chương trình phát triển Quận tám, phong trào Học đường mới còn gọi là CPS. Đấy là còn chưa kể những tổ chức Thanh Niên Thiện Nguyện, Thanh Niên Thiện Chí IVS (International volountary services ) rơi rớt lại từ thời Tổng Thống Kennedy

Từ đó cho thấy tổ chức Joiner có thể là một tổ chức chính trị. Nó giống như vô số chương trình, tổ chức được Mỹ tài trợ trên khắp thế giới. Họ chọn hai người từ miền Bắc cũng là đường lối thích hợp cho họ. Từ năm 1995, họ đã mời một số nhà văn miền Bắc như đại tá nhà văn Lê Lựu, nhà thơ Trần Đăng Khoa sang Mỹ để nói chuyện, tiếp xúc với các nhà văn Mỹ. Các nhà văn hoá Mỹ, các trí thức Mỹ, các nhà văn Mỹ có cần phải nghe mấy ông thi sĩ như Trần đăng Khoa không . Vậy mà họ trả tiền để nghe đấy. Oâng Hoàng ngọc Hiến cũng được mời sang Mỹ từ 1955 đi diễn thuyết đó đây chui vào những chỗ thẩm quyền trí thức cao nhất của nước Mỹ như Đại học Harvard để giảng cho Mỹ nghe. Giả dụ ông đi tỵ nạn như chúng ta thì xin vào học họ cũng không cho. Trớ trêu là ở chỗ đóù. Họ đã bôi nhọ chúng ta từ lúc đó rồi. Người Mỹ cần xây một nhịp cầu nối họ với 80 triệu dân VN hay là với 2 triệu người Việt Hải ngoại. Vì thế, chả có một nhà văn của miền Nam cũ nào được mời nói chuyện, diễn thuyết. Chuyện thật đơn giản và dễ hiểu. Cho dù có mời Hoàng Ngọc Hiến thì cũng là người của họ, theo đường lối của họ. Với 35 ngàn mỹ kim, họ đã mua đứt chẳng những Hoàng Ngọc Hiến mà tất cả bọn họ rồi. Ai chả mơ ước được là HNH thứ hai. Lúc về nước có thể trở thành Dissident. Vậy thì việc mời đó là hợp tình hợp lý theo quan điểm của người Mỹ, có lợi cho Mỹ. Ta chống đối hai ông đó, hay chống đường lối, chiến lược của Mỹ. Đòi sa thải ông Nguyễn bá Chung mà thực sự ông chỉ là người làm việc cho Mỹ trong những chương trình văn hóa như chương trình Việt Nam Today mà ông Chung Phụ trách ở Việt Nam. Oâng Chung có làm gì thì cũng làm vì Mỹ, cho Mỹ, lấy tiền của Mỹ. Không thiếu gì người Việt nay về làm việc cho chính phủ Mỹ, Canada. Không lẽ bất cứ ai về làm việc cho các chính phủ trên đều bị kết án là CS sao. Làm sao đại học Boston có thể sa thải một người làm việc theo đúng đường lối của mình. Hãy nhìn những công trình dịch thuật của ông Nguyễn Bá Chung cùng với Kevin Bowen là thấy rõ. Oâng dịch văn của Lê Lựu và đã hẳn không dịch thơ của thi sĩ Bùi Giáng của miền Nam. Cho dù ông có dịch văn các nhà văn Cộng Sản thì vẫn là dịch cho Mỹ, người trả tiền chứ không phải Cộng Sản.

Vụ án này có lợi gì cho người Việt. Có rửa được nhục không, hay là có cơ hội nối kết người Việt Hải ngoại lại với nhau.. Rửa nhục chưa thấy, nhưng có nguy cơ chia rẽ nhiều hơn. Đã hẳn, chẳng ai trong đám người tổ chức gây quỹ chống đối tin tưởng tuyệt đối là họ sẽ thắng trong vụ kiện này. Nhưng hình như làm thì vẫn cứ phải làm. Có những điều, có những sự việc đẩy người ta vào cái thế chẳng đặng đừng. Chẳng nhẽ không làm gì thì coi sao được. Chúng ta sẽ được gì.. Đó là câu hỏi căn cốt phải đặt ra

Chỉ mong rằng trong tương lai, chúng ta có cơ hội tìm hiểu những hội chứng sau 75, về tính cách phức hợp ràng buộc vào những quy luật xã hội, phát triển, vào những quy luật phản ứng tâm lý có điều kiện, vào những quy luật về tiến triển của lịch sử xã hội mà những yếu tố chính trị chỉ là phần bộ. Không thể phê phán , không thể hiểu những ứng xử của một người Việt di tản bằng một vài truy chụp hời hợt, vô bằng làm tổn hại đến chẳng những cá nhân mà còn tạo ra tình trạng ô nhiễm vẩn đục cả cộng đồng. Có một chút lòng, có một chút ưu tư sẽ thấy Cộng đồng người Việt băng hoại, tan rã vì những chia rẽ, xung đột, khủng hoảng từ cá nhân với chính mình, với gia đình, với tập thể, với giới trẻ, với tương lai, về tất cả những giá trị còn hay không còn, giữ hay không giữ. Vì thế, những nghiên cứu liên ngành kiểu chương trình Joiner rất cần thiết cho cộng đồng hải ngoại tìm ra được chỗ đứng trong tương lai của mình . Cho nên, người viết chọn lựa cái tựa cho bài viết này : Điều quan trọng nhất là câu truyện chung quanh một lá cờ. Tất cả là ở chỗ đó, từ đó mà ra. Câu chuyện ông Luyện cũng bắt nguồn từ đó.

Muốn xây dựng cộng đồng hải ngoại, không thể không có những nghiên cứu liên ngành . Xây dựng một cộng đồng hải ngoại trong tương lai phải chăng chỉ là dựa vào những phiên bản quá khứ từ những củi mục , những cổ thụ trong rừng trùm lấp những vươn lên của những trồi non. Nhìn cây thì thấy rừng. Phải rồi. Nhưng nhìn củi mục thấy gì .

Về câu truyện cháu bé với lá cờ.

Câu truyện cháu bé với lá cờ là nguyên uỷ vụ kiện. Vậy mà cháu đã bị bỏ quên. Ít lắm cháu cũng đại diện cho nửa triệu thiếu niên VN ở Hải ngoại. Và nếu các cháu bé khác có làm bài về lá cờ của nước mình. Sẽ có nửa triệu cháu bé bất hạnh bị ông nội mắng, sẽ bối rối ngớ ngẩn không biết tại sao ông nội lại giận dữ như vậy. Đây là vấn đề cộng đồng người Việt phải quan tâm.

Thái độ của ông nội cháu bé là một thái độ đáng để suy nghĩ lắm.

– Đem một quan điểm chính trị áp đặt trên một đứa trẻ có phải là thái độ thích hợp không. Lại không một lời giải thích và nếu cần được giải thích thì giải thích thế nào cho nghe được trước một thực tế khách quan.

– Cháu bé ngỡ ngàng không hiểu tại sao ông nội lại giận dỗi như thế. Cô giáo khen, cô giáo cho điểm tốt. Về nhà, ông nội mắng. Cháu ngỡ ngàng làphải, biết theo ai đây. Giả dụ, cháu theo ông nội. Hậu quả sẽ ra sao.

– Cháu sẽ bị điểm xấu, cháu sẽ không được cô giáo khen. Nếu đó là đề tài thi lên lớp, có thể cháu sẽ ở lại lớp vì sự thiếu hiểu biết về lá cờ của nước mình. Cô giáo chấm kiến thức chứ không chấm quan điểm chính trị của cháu. Cháu đang là nạn nhân của khoảng cách thế hệ, của những lằn ranh giới bạn thù mà tầm mức cháu không hiểu được.. Cháu sẽ lãnh thêm cái oan nghiệt thế hệ mà ở tuổi cháu đáng nhẽ được miễn trừ . Phần cháu, sau này, sẽ phải nhìn ông nội ra sao đây.

– Giữa câu truyện em bé và câu truyện lá cờ. Đã đến lúc chúng ta phải chọn một trong hai rồi.

– Phần người viết, viết xong đâm sợ, sợ thật sự nên mới đầu do dự không dám để tên mình, để tên hiệu. Người viết sợ bị trù dập, sợ bị hiểu lầm, sợ vu vơ . Cái sợ hãi đó trong hoàn cảnh này ở hải ngoại là rất tự nhiên.

– Và đây là câu trả lời qua điện thư của nguời bạn coi như lời kết của bài viết : Xin anh cứ nêu ý kiến, nhưng quả tình rất ngại việc nêu tên tuổi. Vậy xin anh miễn cho, đừng nêu đích danh. Xin cám ơn anh nhiều. Hóa ra trên đời này có rất nhiều người, tưởng chừng không bao giờ biết sợ cũng biết sợ như người viết : Sợ chế độ Cộng Sản sau hơn 20 năm sống chung vẩn chưa hết sợ, sợ đồng chí của mình sau một đời hy sinh cùng vào tù ra khám, và nhất là sợ ngay bạn bè của mình , đành nói dối, nghĩ một đằng nói một nẻo.. Phần người viết, lúc bé sợ ma, nay lớn lên bắt đầu biết sợ người. Sợ nhất là những người cùng cảnh ngộ với mình. Dù sao, cái sợ của người viết so ra quá nhỏ bé so với cái sợ của những đấng vừa kể trên. Nói ra thấy thẹn.

 

 

Advertisements