Tôn giáo và chính trị

một khủng hoảng lối ra cho đạo Thiên Chúa giáo Việt Nam

das-abendmahl-92495153befb

Nguyễn Văn lục

Khủng hoảng và phát triển là nhịp đi và nghỉ của mọi sinh hoạt của con người. Trong các sinh hoạt ấy, sinh hoạt tôn giáo được coi là gắn liền một cách hữu cơ, một cách yếu tính- theo nghĩa gắn liền vào thân phận con người-ở đời này- và đời sau. Riêng đạo Thiên Chúa đã có bao nhiêu cuộc khủng hoảng hoặc trì trệ hoặc phát triển trong những năm tháng ấy? Theo một quy luật xã hội khách quan thì một khủng hoảng ở một nơi này thì cũng có thể xảy ra một nơi khác!! Đây là một điều mà tôi muốn được nhấn mạnh.

Hiện nay, trên toàn thế giới, tổng số giáo dân theo đạo là 1, 181 tỷ vào năm 2009 . Với 5000 giám mục, đại diện cho giáo triều Vatican trên toàn thế giới. Và con số các linh mục là 414.000. Đó là một guồng máy hành chánh khổng lồ từ trên xuống dưới, xuống đến tận các làng xã, đến tận các buôn làng. Các nơi đô thị đông người, sự có mặt của đạo là điều thường tình. Nhưng ngay cả những nơi hẻo lánh ít người lui tới cũng có mặt các nhà truyền giáo.

Đây là một điều kỳ lạ đến không hiểu được- đầy xúc động- mà tôi tìm thấy được khi đọc các tài liệu truyền giáo. Các vị thừa sai lúc ban đầu dấn thân đến Việt Nam phải chịu đựng khốn khó như thế nào. Cũng như sau này, tiếp nối các thừa sai, những trang sử đẹp của giáo hội Việt Nam được vẽ lên với việc một số cha dòng Chúa Cứu Thế, Sài Gòn tình nguyện đi truyền giáo tại các buôn Thượng trên Kontum, Ban Mê Thuộc. Như trường hợp cha Trần Sỹ Tín, dòng DCCT, 40 năm tận hiến, phụng vụ truyền giáo ở Jrai, Pleiky, Huyện Chu Sê, tỉnh Gia Lai…

Tôi cũng nhận ra rằng con đường của Chúa Jésus đã đi là những con đường Emmaus đầy những đau thương và phiền muộn. Mỗi luống cầy lên là pha trộn mồ hôi, nước mắt và cả máu nữa!! Tôi nghĩ đến thánh Phao lô!!

Tuy nhiên, đó cũng là những trang sử đầy bi kịch và nghịch lý khi nhìn lại lịch sử giáo hội.

Người ta kể với tôi ngay từ thuở nhỏ rằng Chúa được sinh ra nghèo nàn trong một máng cỏ, nhưng hiện nay tôi lại thấy Chúa lại được sùng kính trong nhung lụa vàng bạc. Trong hầm mộ tại thánh đường Nativité, có một kiến trúc hình tròn được lát bằng cẩm thạch và trải thảm, ở giữa là một ngôi sao bằng bạc, trên trần treo lủng lẳng nhiều đèn một cách lộng lẫy..và được hiểu là nơi đây được Chúa sinh ra!! Đây là sự nghịch lý.

Tôi không có ý phản đối các cuộc hành hương về Thánh Địa Jérusalem với hàng triệu lượt khách du lịch mỗi năm, nhưng tôi còn nhớ có đọc một đoạn thánh kinh nói rằng : Đến ngày thư ba, khi các bà đến thăm mộ Chúa để sức dầu thơm cho Ngài thì một thiên thần đã thông báo cho các bà một tin mừng là : Chúa đã sống lại và câu xác nhận quan trọng nhất là: Chúa không còn ở nơi đây!! Chúa không còn ở đó nữa và di tích ngày nay đều mang tính biểu tượng – một thứ nhắc nhở!!

Hiện trạng giáo hội Thiên Chúa giáo hôm nay

Nhưng theo thống kê thì con số giáo dân thực sự sống đạo chỉ chiếm tỉ lệ khiêm tốn là 15%.. Đây là một thử thách lớn cho Giáo Hội Thiên Chúa và giáo hội phải tìm ra những bái toán chỉ ra được sự trì trệ ấy.

Đặc biệt tiêu biểu là trường hợp Giáo hội Thiên Chúa giáo ở bên Pháp. Trong một số báo nhan đề Le Nouveau pouvoir des Catholiques, (Quyền lực mới của đạo Thiên Chúa ở Pháp) . Họ đưa ra những con số đáng lo ngại là chỉ có 64% dân chúng Pháp tự nhận là theo Thiên Chúa giáo, trong đó 15,2% tham dự thánh lễ một lần trong một tháng. Và chỉ còn có số ít ỏi 4,5% đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật.

Tình trạng trì trệ ở Pháp cho thấy sự phát triển các mặt của một xã hội lại có thể đi ngược chiều với tôn giáo. Xã hội tân tiến thì niềm tin tôn giáo thục lùi.

Và hiện trạng nước Pháp không phải là một điều hiếm hoi. Phải chăng nó mang tính chất một quy luật khách quan? Nơi tôi đang ở, thành phố Montréal vào những thập niên 1950-1960 cứ một vài khu phố lại có một nhà thờ. Hiện nay gần phân nửa số nhà thờ đó ở trong tình trạng bất khả dụng, vì không có giáo dân, không có tiền bảo trì.

Trong khi đó, tại đất Mỹ, một số giáo xứ Việt Nam lại mắc phải bệnh phát triển. Nhiều giáo xứ mà số giáo dân trên dưới một ngàn giáo dân lại xây dựng những nhà thờ đồ sộ vượt quá nhu cầu của xứ.. Giáo dân phải hy sinh thời giờ để gây quỹ xây dựng và bảo trì trong suốt cả năm. Đây là một thứ bệnh xây cất( Maladie de la pierre) mà nhiều cha xứ có tầm nhìn vắn đã làm và hãnh diện. Cả cuộc đời làm cha xứ đem hết sức đổ dồn vào việc xây dựng cơ sở vật chất. Điều này cũng còn thấy đang xảy ra ở Việt Nam khi một số vị ra nước ngoài đi xin tiền để xây dựng cơ sở. Nhà thờ đổ nát thì cũng còn hiểu được. Nhưng giữa đổ nát và đồ sộ nguy nga là hai chuyện khác nhau.

Trong một tương lai không xa, liệu có còn đủ số giáo dân như hiện nay không? Tại sao không thể xây dựng những nhà thờ tầm cỡ vừa phải hơn được không?

Trước tình trạng thờ ơ của đa số giáo dân như bên Pháp- một dấu hiệu ngưng trệ, một dấu hiệu thờ ơ-.Tương lai giáo hội đi về đâu? Tương lai xa những giáo hội Việt Nam đi về đâu?

Có thể tôi đã tìm được câu trả lời trong cuốn sách của giám mục Jacques Gaillot nhan đề : Parole d’un homme d’Église.( Lời của một người con của giáo hội.). Những dòng giám mục jacques Gaillot viết đọc mà khó kìm giữ được cảm xúc. Jacques Gaillot kể lại rằng khi được tin phong chức giám mục.. Đó một cú sốc đối với ông. Ông kể lại trong ngày lễ truyền chức như sau :

‘Khi tôi được truyền chức Giám Mục tại nhà thờ chính tòa ở Évreux. Theo nghi thức, tôi phải quỳ gối trong suốt lúc đang cử hành một bài hát, cuốn sách Thánh được để sau gáy tôi. Tôi cảm thức được sự nặng nề của nó. Tôi nghĩ trong bụng : Làm thế nào để mau chấm dứt điều này. Tôi nhủ thầm, không phải là sức nặng của cuốn sách, nhưng chính là sức nặng của Phúc âm, miễn là sức nặng của cuốn sách không phải là một dấu hiệu cho tôi thấy tôi phải bỏ cuộc’.

Đọc cả cuốn sách là một hành trình tâm linh đầy hứng khởi, nhưng cũng đầy thử thách. Tương lai giáo hội hoàn vũ- hay Việt Nam- tùy thuộc vào những con người như Jacques Gaillot. Ông cảm thấy trách nhiệm nặng nề mà ông phải đảm đương. Và sau đó trả lời cho vị chủ tế là con xin vâng, con muốn, con sẵn sàng..Cảm thức của tôi về con người của Jacques Gaillot là đi tìm trong số hàng lãnh đạo Thiên Chúa giáo hiện nay ở trong nước ai là một Jacques Gaillot? Phải chăng ai trong những vị sau đây là Jacques Gaillot Việt Nam. Hồng y Phạm Minh Mẫn, tổng giám mục Bùi văn Đọc, tổng giám mục Nguyễn Văn Nhơn, giám mục Nguyễn Văn Khải và giám mục Nguyễn Thái Hợp.

Hay nói một cách văn vẻ như St.Exupery, chúng ta cần những linh mục : Des prêtres pour faire s’épanouir les cœur des hommes.( Những linh mục để có thể làm nảy nở tâm hồn của con người).

Trước những nan đề của giáo hội Pháp, nhiều linh mục, nhiều tổ chức thành hình đưa ra một chủ trương là cần Thế tục hóa tích cực( Laicité positive) đời sống giáo hội. Có nghĩa là từ nay, người giáo dân phải tự đảm nhận, dấn thân vào mọi sinh hoạt chính trị, tôn giáo, văn hóa, y tế như một thứ thời đại mới thì giải pháp mới!!

Nhưng trên thực tế thì ngày nay mỗi giáo hội trên toàn thế giới đã gặp phải những thử thách riêng, những khủng hoảng riêng và họ đòi hỏi những giải pháp cho riêng từng khu vực.

• Thần học Phi Châu

Thần học Phi Châu còn được gọi là Théologie noire sud-africain hay Black theology..Người ta biết rằng các dân tộc thuộc Phi Châu-đã bao đời nay họ phải sống trong một môi trường xã hội, chủng tộc, xã hội, địa lý khép kín với nhiều tục lệ khác hẳn mọi nơi khác. Cho nên, họ đòi hỏi phải có một thứ thần học cho riêng Phi Châu, trong đó cần phải tôn trọng những giá trị văn hóa, phong tục trong bối cảnh địa lý, lịch sử Phi Châu. Giáo Hội Phi Châu đòi hỏi một sự thích ứng vào cảnh vực và gạt bỏ tất cả những ý tưởng có sẵn, tiền chế nhập cảng từ Tây Phương như một thứ áp đặt. Và giáo Hội Phi Châu đã mở một cuộc Hội thảo Accra(Colloque D’Accra), tại Ghana vào tháng 12-1977, quy tụ phần lớn các nhà thần học thuộc thế giới thứ ba. Đặc biệt có một tác phẩm gây một tiếng vang lớn trong giáo hội năm 1956 là cuốn : Des prêtres noirs s’interrogent (Các linh mục da đen đặt vấn đề.) là một trong những giáo hội lầm than nhất với: Sự nghèo đói, ngu dốt, bệnh tật, đàn áp, tra tấn, sự làm mất nhân phẩm con người.(déshumanisation) Và vấn nạn lớn nhất của Phi Châu hiện nay không hẳn là sự ngèo đói mà nạn kỳ thị chủng tộc. Bên trong là đi tìm một cái căn cước riêng cho mỗi nước, mỗi chủng tộc và sẵn sàng đổ máu để bảo vệ cái căn cước ấy.

Giáo hội hoàn vũ hẳn là có bổn phận phải đáp ứng được những đòi hỏi mới, giải phóng con người ra khỏi mọi thứ trói buộc xã hội, chủng tộc, kinh tế và văn hóa. Giáo hội phải làm sao trở thành linh hồn của những kẻ không còn linh hồn, tiếng nói của những kẻ không có tiếng nói- Và đem đến một tiếng nói hy vọng của Chúa.

Thật không mấy dễ dàng!

Ngoài sự thích ứng với môi trường của Phi Châu, người ta muốn nói đến phải Phi châu hóa giáo hội!!( Africaniser l’église). Đây là những đòi hỏi, khát vọng có thể mang tính cực đoan và tự biệt lập?

Riêng giáo hội Việt Nam không gặp những cảnh ngộ như Phi Châu. Ngược lại có một sự hội nhập đạo vào nếp sống văn hóa bản địa. Chẳng hạn các cuộc rước kiệu cầu mùa vào tháng ba âm lịch, cầu cho nưa thuận, gió hòa. Nguyện ngắm trong mùa thương khó, diễn lại cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu trong ngày thứ sáu tuần thánh, tháng dâng hoa kính đức mẹ vv. Đây là những đoạn văn vần khi hát lên được láy đi láy lại và dậm những tiếng í, i hay hí hí bắt người ta liên tưởng đến những khúc hát quan họ, hát chầu văn vv..

Điều này cũng được chính các thừa sai người Pháp như Le Pavec ở đàng Ngoài nhìn nhận trong thư đề ngày 4-6- 1675 :

‘Những người ngoại đạo đi dự các nghi lễ của chúng tôi đã ca ngợi đạo của chúng tôi và nhiều người trở lại Thứ Năm tuần thánh năm ngoái, sau nghi lễ rửa chân giáo dân khóc sướt mướt, người ta đến bảo cho tôi hay có 9 người xin trở lại đạo vì đã nhận thấy cảnh tượng trên. .

Tất cả những sinh hoạt đạo, ngoài phụng vụ (Liturgie) vừa kể trên đều do hai thành phẩn mẫn cán nhất, hữu hiệu nhất tổ chức và điều hành. Đó là các thầy Kẻ Giảng và các bà sơ- những kẻ thừa hành của cha xứ mà vinh quang và bổng lộc không tới tay-.Tôi nghĩ rằng sự trì trệ của đạo giáo hiện nay một phần vì những thành phần cơ hữu của nếp sống đạo thiếu sự tiếp tay của hai thành phần trên! Tiếc thay!!

Tuy nhiên, trong việc hội nhập Tin mừng vàn văn hóa bản địa cũng có những trục trặc mà chính các thừa sai cũng nhìn nhận : Đó là việc thờ cúng tổ tiên. Trong bài viết L’Union Indochinoise ( Liên Hiệp Đông Dương*, Jean –Pierre Alem viết :

‘ Về phạm vi tôn giáo, người Annnam thực hành một đạo Phật đã biến chất, giản lược vào những nghi thức tục lệ, pha trộn những nghi thức Lão Giáo : Nhưng tôn giáo đích thực của họ là thờ cúng tổ tiên. Mặc dầu cao ngạo và thông minh, người Annam có khả năng thích ứng và tiếp thu cực kỳ cao vào các giá trị văn hóa Tây Phương như lớp sơn bên ngoài. Nhưng phần đông họ vẫn duy trì và ràng buộc vào chính nền văn Minh của họ có gốc gác từ bên Tầu, nhưng đã được nhào nặn cho đúng với sở thích của họ bởi một quá trình tiến triển cả 10 thế kỷ qua’ .

Nhưng những sử gia có tinh thần quốc gia cực đoan như Lê Thành Khôi thì lại kết luận một cách thẳng thừng rằng: ‘ Mais le Christianisme était ‘une négation totale de l’heritage traditionnel’. (đạo Thiên Chúa giáo đã bác bỏ toàn diện gia tài cổ truyền) . Thật ra nhận xét đó có phần chủ quan và tổng quát hóa.

Ngay dưới triều Gia Long, đã có thương lượng giữa đôi bên- giữa nhà vua và giám mục Adran-. Nhà vua đã cho giám mục hay là tục thờ cúng tổ tiên là nền tảng của nền giáo dục của chúng tôi. Ngay từ khi đứa trẻ còn niên thiếu thì đã được dạy dỗ phải có hiếu với cha mẹ và nhờ đó cha mẹ có quyền trên con cái. Cái vinh dự đó được truyền tụng ra ngoài như một phong tục, một nề nếp của chúng tôi’. Giám mục Adran là người hiểu biết và tuân ghủ những nguyên tắc.

Nhưng trên thực tế thì sự thiếu hiểu biết và nhân nhượng ở các cấp thừa hành cứ thế mà nhân lên gấp bội, bất chấp lý lẽ. Chẳng hạn người Pháp theo đạo Thiên Chúa giáo, mày là người Annam theo đạo ấy, có nghĩa là bạn của Pháp, vậy thì mày là người phản lại tổ quốc.

Từ đó, những cuộc bắt bớ đạo, chém giết cứ thế mà lan tràn khắp nơi!!

• Thần học Giải phóng Châu Mỹ La tinh

Tình trạng nghèo đói và nhất là bất công xã hội là khởi điểm cho phong trào thần học giải phóng ở Mỹ Châu La Tinh. Điều đó nó cũng phù hợp với tinh thần Công Đồng Vatican chủ trương rằng : Giáo hội có bổn phận phải nhận ra những dấu chỉ của thời đại và diễn giải các dấu chỉ ấy dưới ánh sáng phúc âm. Các quốc gia Châu Mỹ La Tinh gặp đã những khủng hoảng xã hội đủ loại. Đó là sự khủng hoảng phát triển tạo ra những hố sâu cách biệt giữa giầu và nghèo, giữa công chính và bất công. Nhất là đời sống thợ thuyền, nạn thất nghiệp, tệ nạn xã hội và trên hết là vấn đề nhà ở. Thần học giải phóng ở Ba Tây xuất hiện vào năm 1971 nhằm chống lại những bất công xã hội và tình trạng nghèo đói. Năm 1984, các giám mục Châu Mỹ La Tinh tụ họp tại Medellin đưa ra lập trường của giáo hội Châu Mỹ La Tinh là chống lại nhửng bất công và bênh vực nhân phẩm con người. Thần học giải phóng trở thành chủ đề chính với sự tán thành của một số các hồng y mới được bổ nhiệm như Hồng y Juan Landazury( ở Lima), hồng y Pablo Munoz (ở Quito) hoặc các giám mục Aloisio Lorscheider(Santo Angelo), Jose1 A. Damert (Cajamarca) và Gregorio Mc Grath ( Panama).

Vào những thập niên 1970- với sự lớn mạnh bùng phát của số giáo dân mà hiện nay yếu tố dân số có trở thành một yếu tố trội bật, áp đảo trong việc bổ nhiệm các giám mục, Hồng Y. Tiếng nói của Châu Mỹ La Tinh nay càng có trọng lượng.- Chẳng hạn trường hợp Brésil với 65% dân số theo Thiên Chúa giáo- nền kinh tế với tiềm năng lớn phát triển mạnh tạo ra sự cách biệt giữa giàu nghèo và những bất công xã hội. Không lạ gì nay có thể các trung tâm quyền lực về các vấn đề xã hội-tôn giáo được chuyển dịch từ các nước Âu Châu sang lục địa trẻ hơn mà đặc biệt là các nước thuộc khu vực Châu Mỹ LaTinh. Và phải chăng việc bầu Giáo Hoàng mới đây- một giáo hoàng gốc Argentina đáp ứng được xu thế lớn mạnh của các nước thuộc Châu Mỹ La Tinh?

Thần Học Giải Phóng đã gây những làn sóng dữ dội tranh cãi và nhiều vị tại giáo triều Vatican đã lo ngại nền thần học này có xu hướng ngả theo Macxit tại giáo triều Vatican. Đại diện cho xu hướng lo ngại và chống đối này là bài tham luận của Hồng Ratzinger đăng trong tập san Trenta Giormi tháng 3-1984, tại Ý. Hồng Y Ratzinger( sau này là Giáo Hoàng Benoit XVI) đã cho rằng, quan điểm thần học giải phóng chắc chắn xuất phát từ Châu Mỹ La Tinh, nhưng nó không phải là một hiện tượng độc quyền của Châu Mỹ-Latinh. Nó cũng có mặt ở Ấn Độ, ở SriLanka, Phi Luật Tân và Đài Loan và cả Phi Châu nữa.

Người tiêu biểu nhất cho phong trào thần học giải phóng tạ Ba Tây là Dom Helder Camar, giám mục phụ tá ở Rio De Janeiro, rồi Tổng giám mục, tổng thư ký hội dồng giám mục Ba Tây từ 1952-1964. Giám mục Dom Helder Camar được coi như người lãnh đạo của gíao hội của người nghèo, đại diện tiếng nói của phong trào Thần học giải phóng Ba Tây. Ông Bi6 cấm lên tiếng kể từ năm 1970.

Tôi tự hỏi Việt Nam cũng ở trong một tình trạng nghèo đói, lạc hậu của các nước thế giới thứ ba lại không có nổi một phong trào thần học giải phóng?

Điều thứ hai nó cũng chịu ảnh hưởng một cách chắc chắn những nhà thần học Âu Châu và cả Bắc Mỹ nữa.

Nền thần học giải phóng ấy có thể dẫn đưa đến những quan điểm cực đoan của chủ nghĩa Mác Xít và đỗ lỗi cho giáo hội phải gánh trách nhiệm về sự lầm than, đói khổ của dân nghèo và những người bị áp bức.

Nhưng lời phê phán nặng nề nhất nằm của hồng y Ratzinger nằm trong câu sau đây: La théologie de la libération déborde les limites confessionnels( Thần học giải phóng đã vượt qua cái giới hạn của đức tin).

Hồng y Clodovis et Leonardo Boff đã phản biện lại

Advertisements