NHỮNG NGỘ NHẬN LỊCH SỬ

original

Viết cho Tháng Tư ~

~ Đỗ Ngọc Uyển ~

Kể từ biến cố lịch sử 30/4/1975 cách đây 36 năm, một số sử gia, nhà nghiên cứu, nhà văn… đã đưa ra một số nhận định về các sự kiện chủ yếu của Cuộc Chiến Quốc Cộng tại Việt Nam như sau:

· Cuộc chiến Việt Nam là một cuộc nội chiến hoặc một cuộc chiến uỷ nhiệm.

· Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã bại trận và Quân Đội Cộng Sản đã thắng trận.

· Cuộc chiến Việt Nam đã vĩnh viễn chấm dứt ngày 30/4/1975.

Khi đưa ra những nhận định trên đây, người ta đã chỉ nhìn thấy hiện tượng của các sự kiện mà không nhìn thấy bản chất của chúng. Những nhận định hời hợt này đã đưa đến những ngộ nhận tai hại về một giai đoạn quan trọng của lịch sử đất nước. Trình bày trung thực những sự kiện chủ yếu của một giai đoạn lịch sử là trách nhiệm của các thế hệ đã tham gia vào, đã là chứng nhân trong giai đoạn lịch sử đó, và cũng là để trả một món nợ đối với các thế hệ tương lai bởi vì hậu thế có quyền đòi hỏi, có quyền biết những sự thật lịch sử trong quá khứ, những gì mà các thế hệ đì trước đã làm. Để trả lại sự thật cho lịch sử, phải tìm hiểu chính xác bản chất của các sự kiện nói trên. Đây cũng là công việc chính danh, đặt tên cho đúng.

I – CUỘC CHIẾN VIỆT NAM LÀ MỘT CUỘC NỘI CHIẾN hoặc MỘT CUỘC CHIẾN UỶ NHIỆM?

1 – Cuộc Chiến Việt Nam là Cuộc Nội Chiến?

Khi đưa ra nhận định rằng cuộc chiến Việt Nam là một cuộc nội chiến, người ta đã dẫn chứng rằng những người lính ở hai bên chiến tuyến cùng là người Việt Nam. Đây chỉ là hiện tượng và như vậy không thể vội vã kết luận cuộc chiến này là một cuộc nội chiến. Muốn biết bản chất của cuộc chiến này, hãy tìm hiểu những người lính VNCH và những người lính CSVN đã suy nghĩ những gì trong đầu họ khi cầm súng trực diện đối đầu nhau ngoài mặt trận. Việc này không khó.

a/ Trong cuộc chiến xâm lược VNCH kéo dài 20 năm do cộng sản Miền Bắc phát động theo lệnh của Đệ Tam Quốc Tế, mỗi lần cầm súng ra trận, những người lính VNCH đều mang trên vai Danh DựTrách Nhiệm đối với Tổ Quốc cùng với niềm tin rằng họ đi chiến đấu để bảo vệ thể chế dân chủ tự do của quê hương Miền Nam, để chống lại cuộc xâm lược của quân cộng sản Miền Bắc nhằm thôn tính và áp đặt một chế độ cộng sản toàn trị kiểu Stalinist lên Miền Nam. Đây cũng chính là đi chiến đấu để bảo vệ những giá trị văn hoá truyền thống của lý tưởng quốc gia dân tộc mà tổ tiên chúng ta đã dày công xây dựng, vun đắp và bảo vệ trong suốt dòng lịch sử 4000 năm của dân tộc.

b/ Trong suốt những năm dài trong hàng ngũ bộ đội, những người “bộ đội cụ Hồ” đã phải thường xuyên học tập về chủ nghĩa cộng sản. Họ phải tuyên thệ trung thành với Đảng Cộng Sản Việt Nam, phải phục vụ và hy sinh cho lý tưởng của chủ nghĩa cộng sản. Những người “bộ đội cụ Hồ” này, khi cầm súng ra trận, đều có một niềm tin mù quáng sắt đá rằng họ đi làm nhiệm vụ quốc tế vô sản ngay trên đất nước Việt Nam và toàn cõi Đông Dương để xây dựng một thế giới đại đồng, không còn giai cấp bóc lột, không còn tôn giáo, không còn tổ quốc, không còn biên giới quốc gia… theo đúng lý tưởng (!) của chủ nghĩa cộng sản mà Hồ Chí Minh đã lén lút du nhập vào Việt Nam.

Những phân tích trên đây đủ để chứng minh rằng cuộc chiến tại Việt Nam không phải là một cuộc nội chiến vì những nguyên nhân tranh chấp, chia rẽ trong nội bộ quốc gia mà chính danh là Cuộc Chiến Quốc Cộng. Đó là cuộc chiến giữa hai phe mang hai ý thức hệ Quốc Gia và Cộng Sản chống nhau quyết liệt, một mất một còn như bốn câu thơ sau đây được viết trong một trại tù cộng sản tại Hoàng Liên Sơn.

Nó sống thì mình thác

Mình còn nó phải tiêu

Lối đi chỉ một chiều

Chẳng còn đường nào khác

Cung Trầm Tưởng

Hoàng Liên Sơn, 1977

Trong Cuộc Chiến Quốc Cộng, Việt Cộng luôn luôn đặt một câu hỏi cao ngạo, tự đại… cho người Việt quốc gia: “Ai thắng ai?” Câu hỏi này đã được lịch sử trả lời qua sự xụp đổ của Liên Xô và khối cộng sản Đông Âu.

Đối với Việt Cộng, Pháp hay Mỹ… chỉ là những kẻ thù giai đoạn và có thể trở thành bạn đối tác chiến lược như Hoa kỳ ngày nay. Trái lại, thực tế 80 năm nay đã chứng minh rằng người Việt quốc gia tức toàn dân Việt Nam mới chính là kẻ thù không thể đội trời chung về ý thức hệ mà Việt Cộng phải tiêu diệt trước khi chúng có thể thiết lập được “chế độ xã hội chủ nghĩa” tại Việt Nam.

Có người đã so sánh Cuộc Chiến Quốc Cộng tại Việt Nam với Cuộc Nội Chiến Hoa Kỳ – một cuộc chiến có nguyên nhân nội bộ là vấn đề nô lệ – và trách móc Việt Cộng đã không đối xử với những chiến binh QLVNCH như phe thắng trận đã đối xử một cách mã thượng với phe thua trận trong Cuộc Nội Chiến Hoa Kỳ. So sánh như vậy là ngớ ngẩn, là lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia, là bao che cho tội làm Việt gian, làm tay sai cho ngoại bang của Việt Cộng; cũng như trách móc cộng sản đã đối xử tàn ác đối với các chiến binh QLVNCH bị sa cơ sau ngày 30-4-1975 là không hiểu gì về bản chất của cộng sản, một lũ vô nhân tính với chủ trương “đấu tranh tiêu diệt giai cấp”, làm sao chúng có nhân ái và lương tri để cư xử giống như con người được!

2- Cuộc Chiến Việt Nam là Cuộc Chiến Uỷ Nhiệm?

Khi nhìn thấy người lính QLVNCH chiến đấu bằng vũ khí do Hoa Kỳ viện trợ và người bộ đội ”Cụ Hồ” chiến đấu bằng vũ khí do Liên Xô và Trung Cộng cung cấp, người ta đã vội kết luận rằng đây là cuộc chiến do các thế lực quốc tế uỷ nhiệm. Nhận định này chỉ đúng một nửa. Vũ khi trong tay người lính chỉ là một phương tiện vô tri không nói lên được ý nghĩa và bản chất của cuộc chiến. Chính mục đích mà hai phe theo đuổi trong cuộc chiến như đã trình bày ở trên mới nói lên ý nghĩa và bản chất của cuộc chiến.

Tìm hiểu thật kỹ lịch sử Việt Nam cận đại sẽ thấy Cuộc Chiến Quốc Cộng còn đang tiếp diễn tại Việt Nam ngày hôm nay có nguyên nhân sâu xa như sau:

Tháng 10/1922, Dmitry Manuilky – đại diện cho Đệ Tam Quốc Tế tức Liên Xô – tham dự Đại Hội 2 của Đảng Cộng Sản Pháp được tổ chức tại Paris mà Hồ Chi Minh là một đảng viên cũng tham dự đại hội này. Trong dịp này, Dmitry Manuilky đã tuyển mộ Hồ Chí Minh và đưa sang Moscow huấn luyện tại trường Đại Học Đông Phương của Đệ Tam Quốc tế chuyên về sách động, tuyên truyên và nổi dậy cướp chính quyền. Ngày 14-4-1924, Hồ Chí Minh được “biên chế” là nhân viên chính thức ăn lương của Đệ Tam Quốc Tế/ Liên Xô và được làm việc trong ban Phương Đông dưới quyền của “Đồng chí Petonốp”.

Cuối năm 1924, Hồ Chí Minh được điều động đến hoạt động tại Quảng Châu, Trung Hoa để chuẩn bị thành lập Đảng CSVN sau này. Tại Quảng Châu, Hồ Chí Minh đã ám hại các lãnh tụ cách mạng quốc gia và triệt hạ các đảng phái cách mạng của người quốc gia đang mượn đất Trung Hoa để hoạt động chống lại bọn cai trị thực dân Pháp. Hồ Chí Minh đã xâm nhập và chiếm đoạt Tâm Tâm Xã của Phạm Hồng Thái; đã xâm nhập, phá hoại và tiếm danh Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội – gọi tắt là Việt Minh – của Cụ Hồ Học Lãm.; đã xâm nhập, phá hoại, lũng đoạn và leo tới chức uỷ viên trung ương của Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội của Cụ Nguyễn Hải Thần; đã bán Cụ Phan Bội Châu cho Pháp lấy 100,000$ tiền Đông Dương để tiêu sài. Một tên Việt gian tay sai cho ngoại bang đã bán một nhà cách mạng ái quốc được toàn dân kính trọng cho kẻ thù của đất nước thì không thể gọi y bằng cái tên nào khác hơn là tên phản quốc. Tất cả những việc làm trên đây đều được Hồ Chí Minh báo cáo từng chi tiết cho Đệ Tam Quốc Tế để lãnh lương và xin phụ cấp.

Hồ Chí Minh đã gây ra cuộc chiến tranh với Pháp trong tám năm và lợi dụng thời gian chiến tranh này để tàn sát đẫm máu các thành viên của các đảng phái quốc gia. Sau khi chiếm được chính quyền tại Miền Bắc vào năm 1954, Hồ Chí Minh tiếp tục truy lùng và tiêu diệt hết các đảng phái quốc gia. Cuộc Chiến Quốc Cộng do Hồ Chí Minh phát động và kéo dài cho đến ngày hôm nay là cuộc chiến đẫm máu nhất trong lịch sử và đã cướp đi sinh mạng của ít nhất là năm triệu người Việt. Đây là tội ác lịch sử của Hồ Chí Minh và Băng Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Sau khi chiếm được một nửa đất nước vào năm1954, Hồ Chí Minh đã tuyên bố “Nhân chỉ thị của Đệ Tam Quốc Tế để giải quyết vấn đề cách mạng (vô sản) tại Việt Nam, tôi đã hoàn thành nhiệm vụ”. Những lời thú nhận trên đủ để chứng minh chính Hồ Chí Minh đã phát động Cuộc Chiến Quốc Cộng theo lệnh của Đệ Tam Quốc Tế.

Người Việt quốc gia tức dân tộc Việt Nam đã và còn đang tiếp tục cuộc chiến đấu chống cộng không phải do một thế lực quốc tế nào uỷ nhiệm mà vì trách nghiệm đối với quê hương đất nước. Người Mỹ chỉ tham gia, viện trợ và cam kết giúp người Việt quốc gia trong Cuộc Chiến Quốc Cộng kể từ năm 1954 khi nhận thấy hiểm hoạ bành trướng của Trung Cộng xuống vùng Đông Nam Á – một vùng có lợi ích kinh tế và chính trị lâu dài của Mỹ – thông qua bọn tay sai Việt Cộng.

Tuy nhiên, sau khi điều đình và đạt được thoả thuận với Trung Cộng và thấy không còn nguy cơ bành trướng của Trung Cộng xuống vùng Đông Nam Á nữa, người Mỹ rút lui và chấm dứt mọi viện trợ kinh tế và quân sự cho đồng minh Việt Nam Cộng Hoà kể từ năm 1973. Đó là tính thần thực dụng và duy lợi của những người làm chính sách của Hoa Kỳ – Nixon và Kissinger – bất kể đạo đức chính trị và những lời cam kết long trọng bằng văn bản của năm vị Tổng Thống Hoa Kỳ trong quyết tâm giúp VNCH chống lại cuộc xâm lăng của cộng sản Miền Bắc.

Sự phản bội của Nixon và Kissinger đối với đồng minh VNCH đã được sử gia Larry Berman đặt tên cho cuốn sách nổi tiếng của ông: “No Peace, No Honor: Nixon, Kissinger, and Betrayal in Viet Nam”.

Đây là Một Vết Nhơ trong Lịch Sử Hoa Kỳ (A Black Hole in the American History) và không bao giờ có thể tẩy xoá được.

Người Mỹ đã rút ra khỏi cuộc chiến, nhưng người Việt quốc gia tức toàn dân Việt Nam vẫn tiếp tục Cuộc Chiến Quốc Cộng cho tới khi nào thanh toán xong Băng Đảng Cộng Sản Việt Nam. Đây là nhiệm vụ lịch sử của dân tộc Việt Nam và không ai có thể làm thay được.

Cuộc chiến xâm lăng VNCH nằm trong chủ trương bành trướng của Đệ Tam Quốc Tế xuống vùng Đông Nam Á được uỷ nhiệm cho Băng Đảng Cộng Sản Việt Nam. Năm 1976, trong một cuộc họp nội bộ, Lê Duẩn, Tổng Bí Thư của Băng Đảng Cộng Sản Việt Nam đã tuyên bố “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, dánh cho Trung Quốc và ta đã thành công trong việc cắm lá cờ quốc tế Mác Lê trên toàn cõi Việt Nam”.

Ngoài ra tờ Sài Gòn Giải Phóng – một tiếng nói chính thức của Băng Đảng CSVN – trong một số báo phát hành trong tháng 5/1976 đã tự khai như sau:

“Trung Quốc vĩ đại đối với chúng ta không chỉ là người đồng chí mà còn là người thày tin cẩn, đã cưu mang chúng ta nhiệt tình để chúng ta có được ngày hôm nay thì chủ quyền Hoàng Sa thuộc Trung Quốc hay thuộc ta cũng vậy thôi”.

Những lời tự thú trên đây của Lê Duẩn và của tờ Sài Gòn Giải Phóng là những bằng chứng hùng hồn, hiển nhiên, không thể chối cãi rằng chính danh của ‘bộ đội cụ Hồ” là lính đánh thuê cho Đệ Tam Quốc Tế, cho Trung Cộng và Liên Xô. Với bản chất là lính đánh thuê chuyên nghiệp cho ngoại bang, “bộ đội cụ Hồ” chưa bao giờ chiến đấu vì tổ quốc Việt Nam. Những người bộ đội này không có chỗ đứng trong dòng lịch sử chính thống của dân tộc Việt Nam; chỗ đứng của họ là ở trong lịch sử của Băng Đảng Cộng Sản Việt Nam, một chi bộ của Đệ Tam Quốc Tế.

Những phân tích trên đây đã chứng minh rằng trong Cuộc Chiến Quốc Cộng, người lính VNCH cầm súng đi chiến đấu để bảo vệ quê hương Miền Nam, chống lại cuộc xâm lăng của Đệ Tam Quốc Tế được ủy nhiệm cho Chi Bộ Cộng Sản Việt Nam. Và người “bộ đội cụ Hồ” cầm súng đi đánh thuê cho Đệ Tam Quốc Tế dưới cái chiêu bài đi làm nhiệm vụ quốc tế vô sản để thực hiện lý tưởng đại đồng của chủ nghĩa cộng sản như tên phản quốc Hồ Chí Minh đã xuất khẩu thành mấy câu thơ một cách ngông cuồng, hỗn xược khi một lần y đi ngang qua đền thờ Đức Thánh Trần tại Vạn Kiếp: “…Bác đưa một nước qua nô lệ. Tôi dẫn năm châu tới đại đồng…” Do đó, khi đưa ra nhận định Cuộc Chiến Quốc Cộng tại VN là môt cuộc chiến uỷ nhiệm là một nhân định hàm hồ, không chính xác. Nhận định này chỉ đúng một nửa như đã trình bày ở trên.

II – QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HOÀ ĐÃ BẠI TRẬN và QUÂN ĐỘI CỘNG SẢN ĐÃ THẮNG TRẬN.

Trong sách Binh Thư Yếu Lược Của Đức Thánh Trần có đoạn ghi rõ: “Từ xưa các trương hợp quân ta rối loạn mà địch được thắng lợi đếm không xuể. Quân ta rối loạn đem lại thắng lợi cho địch có nghĩa là quân ta tự tan vỡ, chớ không phải địch đánh thắng ta. Nếu sỉ tốt tự rối loạn, dẫu là tướng tài cũng phải chịu nguy hại, như thế không còn nghi ngờ gì nữa.”

Nếu theo sát những biến chuyển quân sự trong 50 trước ngày 30-4-1975, người ta rất dễ nhận thấy đã có những cuộc hoảng loạn (panic) được tạo ra bằng nhiều cách để làm tan rã hàng ngũ phòng thủ của QLVNCH. Trong suốt thời gian này, hai đài phát thanh quốc tế BBC và VOA đã liên tiếp hai buổi mỗi ngày, sáng và tối, loan truyền những tin tức phóng đại gây chấn động kinh hoàng làm hoảng loạn tính thần quân dân VNCH, góp phần làm tan vỡ nhanh chóng hàng ngũ QLVNCH để mang lại thắng lợi cho quân cộng sản. Tại nhiều nơi, hàng ngũ phòng thủ của QLVNCH đã bị tan võ trước khi quân cộng sản tới chiếm. Sau này, chính VC đã thú nhận chúng cũng không tin chúng có thể đoạt được thắng lợi trong ngày 30-4-1975. Chúng đã ước tính ít nhất phải đến năm 1977 chúng mới có thể chiếm được Miền Nam với điều kiện là Hoa Kỳ chấm dứt mọi viện trợ kinh tế và quân sự cho VNCH và chúng vẫn tiếp tục nhận được đầy dủ tiếp viện và yểm trợ của khối cộng sản..

Về địa hình quân sự, lãnh thổ VNCH hẹp chiếu ngang. Do đó, rất dễ lập những tuyến phòng thủ hàng ngang vững chắc, kế tiếp nhau chạy dài từ bắc vào nam để chặn đứng những cuộc tấn cộng quy ước vào lãnh thổ VNCH từ hướng bắc. Muốn tấn công một tuyến phòng thủ như vậy, địch quân phải có một hoả lực vượt trội và một quân số đông hơn ít nhất gấp ba lần quân phòng thủ. Điều này được thấy rõ trong trận đánh duy nhất và cuối cùng trong tháng 4/1975 tại Mặt Trận Xuân Lộc. Sư Đoàn 18 Bộ Binh của QLVNCH cùng với một số đơn vị tăng phái đã chặn đứng mũi tấn công của Quân Đoàn 4 Bắc Việt gồm ba Sư Đoàn 6, 7, 341 cộng thêm Sư Đoàn 7 của VC tại Miền Nam cùng với một số đơn vị pháo binh và thiết giáp tăng phái đang tiến về hướng Sài Gòn. Trong thời gian 12 ngày đêm từ ngày 8 đến 20-4-1975, bốn sư đoàn chính quy cộng sản cùng với quân tăng phái đã liên tiếp mở những cuộc tấn công biển người ác liệt, đẫm máu vói chiến thuật “tiền pháo hậu xung”, nhưng chúng không thể chọc thủng được tuyến phòng thủ của Sư Đoàn 18 Bô Binh. Chúng đã phải thay thế ngay tại mặt trận Tướng Tư Lệnh Hoàng Cầm bằng Tướng Trần Văn Trà. Cuối cùng, chúng vẫn phải đoạn chiến với SĐ18BB. Chúng để SĐ7VC ở lại cầm chân SĐ18BB và tìm cách đi vòng để áp sát Thủ Đô Sài Gòn.

Với Trận Xuân Lộc, Thiếu Tướng Lê Minh Đảo và SĐ18BB cùng các đơn vị tăng phái đã chứng minh cho thế giới thấy tướng lãnh, sĩ quan QLVNCH là những cấp chỉ huy dày dạn kinh nghiệm chiến trường và những người lính QLVNCH là những chiến binh can trường, có tính thần chiến đấu rất cao và rất thiện chiến trong những trận đánh quy ước. Nếu không có những cuộc hoảng loạn được tạo ra để làm tan vỡ hàng ngũ QLVNCH, những tuyến phòng thủ vững chắc của QLVNCH kế tiếp nhau suốt theo chiều dài của lãnh thổ từ bắc vào nam đã dễ dàng chặn đứng và đánh bại những cuộc tấn cộng quy ước của quân xâm lăng Cộng Sản Miền Bắc trong tháng 4/1975. Và có thể quả quyết QLVNCH không thể bị đánh bại trong 50 ngày.

Tác giả Phillip B. Davidson – trong bài viết có tựa đề “Xuan Loc Battle” – đã

đánh giá Trận Xuân Lộc là một trong những trận đánh có tầm vóc hùng sử ca trong những cuộc chiến Đông Dương. “The Battle of Xuan Loc produced one of the epic battle of any of the Indochinese wars”.

Nhũng sự kiện trên đây đã chứng minh rằng Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã bị làm cho tan vỡ hàng ngũ để mang lại thắng lợi cho Quân Đội Cộng Sản Miền Bắc chứ không phải Quân Đội Cộng Sản Miền Bắc đã đánh thắng Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà trong ngày 30-4-1975.

Ngoài ra, theo binh thư, khi đoàn quân xâm lược Cộng Sản Miền Bắc chỉ chiếm được đất, chiếm được thành mà không chiếm được lòng dân, đoàn quân đó không phải là một đoàn quân chiến thắng như chúng hô hoán mà chính danh là một đoàn quân cướp của giết người, một đoàn cộng phỉ.

Trong 50 ngày trước ngày 30-4-1975, khi quân cộng sản tiến tới đâu, người dân Miền Nam kéo nhau bỏ chạy tới đó suốt từ bắc vào nam và bị chúng đưổi theo bắn giết rất dã man. Chỉ riêng trên Tỉnh Lộ 7B từ Pleiku tới Tuy Hoà, trong chin ngày đêm, quân Việt Cộng đã đuổi theo, pháo kích giết hơn 160,000 đồng bào gồm người già, đàn bà và trẻ nhỏ. Khi chúng chiếm được cả Miền Nam, người dân không còn đất để chạy nữa, họ kéo nhau lao ra biển trên những con thuyền rất mỏng manh, bất chấp nguy hiểm đến tính mạng. Các hãng thông tấn quốc tế thời đó đã gọi những cuộc chạy giặc này là những cuộc “bỏ phiếu bằng chân”. Một bà già Việt Nam, khi vượt biển thoát khỏi Miền Nam sau ngày 30-4-1975, trong một cuộc phỏng vấn của báo chí quốc tế đã nói: “Nếu cái cột đèn ở Miền Nam mà biết đi, nó cũng đi”.

Thực tế đã chứng minh suốt 36 năm nay và sẽ không bao giờ Việt Cộng có thể chiếm được lòng người dân Miền Nam dù rằng chúng luôn luôn kêu gọi “hoà hợp hoà giải” một cách lếu láo, bịp bợm. Đối với người dân Miền Nam, đoàn quân xâm lăng Cộng Sản Miền Bắc chỉ là một bọn giặc “Giặc từ Miền Bắc vô Nam, bàn tay nhuốm máu đồng bàò”. Do đó, xét về bất cứ phương diện nào, đoàn quân Cộng Sản Miền Bắc cũng không phải là đoàn quân chiến thắng trong ngày 30-4-1975 như chúng reo hò và được bọn phản bội và phản chiến phụ hoạ suốt 36 năm nay để lừa bịp lịch sử. Chúng chỉ là một bọn lính đánh thuê cho Đệ Tam Quốc Tế, cho Liên Xô và Trung Cộng, một bọn “giặc cờ đỏ” đi cướp của giết người và là công cụ của một băng đảng chuyên nghề đi cướp chính quyền bằng “bạo lực cách mạng vô sản” tức bằng khủng bố. Cái mà chúng hô hoán là “Đại Thắng Mùa Xuân” trong ngày 30-4-1975, thực chất, chỉ là chuyện chó ngáp được ruồi.

III – CUỘC CHIẾN QUỐC CỘNG ĐÃ VĨNH VIỄN CHẤM DỨT KỂ TỪ NGÀY 30-4-1975

Khi thấy quân xâm lăng Cộng Sản Miền Bắc đã chiếm được lãnh thổ VNCH nhưng không chiếm được lòng người dân Miền Nam, và Quân Lực VNCH bị làm cho tan rã, người ta đã vội tin rằng Cuộc Chiến Quốc Cộng đã vĩnh viễn chấm dứt vào ngày 30-4-1975, đã “đi vào tiền kiếp”… Đây là cách nhìn cuộc chiến tại Việt Nam trong bối cảnh của cuộc chiến tranh lạnh toàn cầu và sau khi người Mỹ đã rút đi và chấm dứt mọi viện trợ kinh tế và quân sự cho VNCH. Nhưng nhìn kỹ Cuộc Chiến Quốc Cộng trong bối cảnh vận động của dòng lịch sử chính thống của dân tộc Việt Nam, người ta sẽ thấy Cuộc Chiến Quốc Cộng tại Việt Nam chưa bao giờ chấm dứt mà vẫn còn đang tiếp diễn dưới nhiều hình thái phù hợp với thế và lực của người Việt quốc gia tức toàn dân Việt Nam trong và ngoài nước trong giai đoạn mới của cuộc chiến.

Nhận định rằng Cuộc Chiến Quốc Cộng đã vĩnh viễn chấm dứt kể từ ngày 30-4-1975 và người Việt Quốc Gia hãy hoà hợp, hoà giải với bọn giặc đánh thuê của Đệ Tam Quốc Tế là không thuộc bài học lịch sử mới nhất. Băng đảng VC cùng bọn tay sai rất “nhất trí” với nhận định thiển cận, hàm hồ này. Luận điệu hàm hồ trên đây cũng giống như luận điệu nói rằng: Khi quân xâm lược Pháp đánh chiếm và đặt xong nền đô hộ tại Việt Nam thì công cuộc kháng chiến chống bọn xâm lăng Pháp đã vĩnh viễn chấm dứt và người Việt hãy hoà hợp hoà giải với giặc xâm lược Pháp!

Lịch sử là một dòng vận động liên tục không đứt đoạn và có tính tiếp nối. Ngày 30-4-1975 chỉ là một dấu mốc của dòng lịch sử. Nó đánh dấu điểm bắt đầu của một giai đoạn mới trong Cuộc Chiến Quốc Cộng. Và cuộc chiến này chỉ chấm dứt khi toàn dân Việt Nam thanh toán xong Băng Đảng Cộng Sản Việt Nam và đất nước Việt Nam thật sự có một nền hoà bình công chính trong đó mọi công dân được hưởng đầy đủ những quyền căn bản về dân quyền và nhân quyền trong một chính thể dân chủ và tự do như dưới Chế Độ VNCH mà toàn dân Miền Nam đã dày công xây đắp trong suốt 20 năm bất kể sự phá hoại triền miên từng giây, từng phút, từng giờ trong chiến tranh du kích phá hoại do Hồ Chí Minh phát động theo lệnh của Đệ Tam Quốc Tế để “giải phóng Miền Nam” dù phải “đốt cháy dẫy Trường Sơn”.

Kể từ ngày 26-10-1956, lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc. Miền Nam Việt Nam, về cơ bản, đã xây dựng được một chính thể Cộng Hoà Dân Chủ hiện đại với ba ngành hành pháp, tư pháp và lập pháp độc lập với quyền lực cân bằng và kiểm soát lẫn nhau nhằm ngăn chặn mầm mống độc tài. Đây là một sự kiện lịch sử mà 34 năm sau, năm 1989, Tiến Sĩ Francis Fukuyama – trong một bài tiểu luận nổi tiếng có tựa đề “The End of History” được viết khi Bức Tường Bá Linh sụp đổ và hệ thống cộng sản bắt đầu tan rã – đã nhân định rằng: “Cái mà chúng ta đang chứng kiến có thể không chỉ là sự kết thúc của Cuộc Chiến Tranh Lạnh hay của một giai đoạn đặc biệt của lịch sử hậu chiến, mà là sự cáo chung của lịch sử theo nghĩa: là điểm chấm dứt của sự tiến hoá về ý thức hệ của nhân loại và sự phổ cập hoá nền dân chủ phóng khoáng Tây Âu như là hình thức chính quyền sau cùng của nhân loại.What we may be witnessing is not just the end of the Cold War or the passing of a particular period of post war history, but the end of history as such: that is, the end point of mankind’s ideological evolution and the universalization of Western liberal democracy as the final form of human government…” Xét theo nhận định trên đây của Tiến Sĩ Francis Fukuyama, chính thể cộng hoà mà Miền Nam Việt Nam đã lựa chọn cách đây 56 năm chính là hình thức chính quyền sau cùng mà nhân loại đang đi tới.

Ngoài ra, cũng trong một tiểu luận nổi tiếng liên quan đến tiến trình dân chủ hoá của nhân loại có tựa đề “Democracy’s third wave” viết năm 1991, Tiến Sĩ Samuel P. Huntington đã chia tiến trình dân chủ hoá của nhân loại thành ba làn sóng:

Làn sóng thứ nhất bắt đầu tư thập niên 1820 đến năm 1926, kéo dài hơn một thế kỷ; làn sóng thứ hai bắt đầu từ khi chấm dứt Thế Chiến II cho đến đỉnh cao nhất vào năm 1962; làn sóng thứ ba bắt đầu từ giữa thập niên 1970 đến nay và còn đang tiếp diễn. Căn cứ vào sự phân chia trên đây, tiến trình dân chủ hoá của VNCH – bắt dầu từ ngày 26-10-1955 – thuộc làn sóng thứ hai. Trong khi đó, các quốc gia như Đài Loan, Đại Hàn, Thái Lan, Phi Luật Tân, Tân Gia Ba, Nam dương… chỉ bắt đầu dân chủ hoá từ giữa thập niên 1970 trở đi, tức thuộc làn sóng thứ ba. Điều này chứng tỏ rằng mặc dù đất nước ở trong tình trạng chiến tranh, VNCH đã thiết lập được chính thể dân chủ tự do trước các quốc gia ở Đông Nam Á và Đông Bắc Á trên dưới 20 năm, ngoại trừ Nhật Bản đã thiệt lập được thể chế dân chủ vào năm 1952, tức thuộc làn sóng thứ hai.

Trong Chế độ VNCH, tất cả các quyền căn bản về nhân quyền và dân quyền được luật pháp bảo vệ. Người dân có tất cả các quyền về tự do kinh tế, chính trị đối lập, sinh hoạt đảng phái, bầu cử, ứng cử, thông tin, ngôn luận, báo chí, tôn giáo, cư trú, di chuyển… và đặc biệt là quyền tự do tư tưởng. Các trường đại học ở Miền Nam có quyền tự trị đại học như các đại học Âu Mỹ. Các giáo sư đại học được tự do giảng dậy tất cả các học thuyết kể cả học thuyết cộng sản. Đại học ở Miền Nam là một thế giới hàn lâm, không ai được quyền can thiệp. Nền dân chủ non trẻ của VNCH còn nhiều khuyết điểm, nhưng là nơi xưng đáng nhất để sống của chúng ta. Về cơ bản, VNCH là một thể chế chính trị đặt trên những nền tảng pháp lý tiến bộ nhất trong lịch sử văn minh của nhân loại. Băng Đảng Cộng Sản Việt Nam đã phạm tội ác lịch sử khi chúng tiêu diệt thể chế chính trị dân chủ này sau ngày 30-4-1975.

Ngày hôm nay, chỉ những kẻ đồng loã với tội ác lịch sử của Băng Đảng CSVN mới nguỵ biện rằng dân trí người Việt còn thấp nên chưa thể thực thi dân chủ tại Việt Nam. Theo tổ chức Freedom House, hiện nay đã có 123 trong số 194 quốc gia trên thế giới theo chính thể dân chủ, và con số này đang tiếp tục tăng lên cùng với hai nước Ai Cập và Tunisia mới đây… Cũng theo tổ chức Freedom House, Việt Nam bị xếp vào loại quốc gia độc tài, lạc hậu, người dân không có quyền chính trị (political rights) và không có dân quyền (civil rights). Băng Đảng CSVN đã và đang kéo dân tộc lùi lại cả thế kỷ. Chính chúng cũng phải thú nhận: “đất nước còn đang tụt hậu”. Đây là một tội đại hình đối với lịch sử. Tội này không thể tha được.

Không một chính thể cộng hoà nào khi mới thành lập mà được hoàn chỉnh ngay.

Sau cuộc cách mạng 1779, Cộng Hoà Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ được thành lập với Bản Hién Pháp năm 1787. Để hoàn chỉnh thể chế dân chủ này, trong 200 năm nay, Quốc Hội Hoa Kỳ đã liên tiếp thông qua 27 bản tu chính hiến pháp. Sau Cuộc Cách Mạng 1789, nước Pháp đã trải qua 5 nền cộng hoà mới xây dựng được thể chế dân chủ như ngày nay. Đây là hai chính thể cộng hoà dân chủ đầu tiên, tiêu biểu nhất của nhân loại đã phải mất hơn hai trăm năm mới hoàn chỉnh và phát huy được những giá trị của dân chủ và tự do như ngày nay.

Chính thể Việt Nam Cộng Hoà chỉ mới xây dựng và phát huy những giá trị dân chủ và tự do được 20 năm và còn đang trên tiến trình hoàn chỉnh. Tuy nhiên, nhà văn Dương Thu Hương, sau ngày 30-4-1975, khi đó còn là một đảng viên cộng sản, đã được chứng kiến tận mắt những sinh hoạt dân chủ tự do và nền kinh tế phồn thịnh của VNCH, đặc biệt là tại Thủ Đô Sài Gòn, đã phải ngồi xuống vỉa hè giữa thành phố, ôm mặt khóc “như cha chết” mà than:

“Bọn man rợ đã thắng người văn minh”

Trong lịch sử nhân loại, những bọn man rợ đã nhiều lần thắng người văn minh, nhưng cuối cùng người văn minh đã thắng lại như trường hợp của Hy Lạp mà thi hào Horace đã viết:

“La Grèce vaincue vainquit son farouche vainqueur”

(Hy Lạp thua trân đã chiến thắng quân thắng trận hung rợ)

Cứ nhìn kỹ những gì đã và đang diễn ra tại Việt Nam sẽ thấy Cuộc Chiến Quốc Cộng còn đang tiếp diễn:

· Bất chấp bị cấm đoán, đàn áp, bắt bớ và tù đày, công nhân các xí nghiệp trong khắp nước thường xuyên biểu tình hàng trăm, hàng ngàn, hàng vạn người kiên trì đòi tăng lương, đòi cải thiện điều kiện làm việc, và thành lập các nghiệp đoàn tự do để bảo vệ quyền lợi của công nhân.

· Bất chấp bị đàn áp và khủng bố dã man, những đoàn nông dân hàng nhiều trăm người trong khắp nước thường xuyên đi biểu tình kiên trì trong nhiều năm nay để tố cáo tham nhũng, đòi đất nông nghiệp và thổ cư đã bị bọn phỉ quyền cướp đoạt và đem bán lấy tiền chia chác cho nhau.

· Tại rất nhiều địa phương từ nam ra bắc, đã có những cuộc nổi dậy của hàng ngàn thậm chí hàng chục ngàn người như cuộc nổi dậy của nông dân trong toàn tỉnh Thái Bình đã kéo dài trong ba tháng, từ tháng 4 đến tháng 7-1997. Cuộc nổi dậy này đã bị cộng sản đàn áp dã man và bưng bít rất kỹ, không một tin tức nào lọt được ra ngoài. Sau này người ta dã diều tra và được biết cuộc nổi dậy này đã được tổ chức rất quy mô và đã bị đàn áp đẫm máu như một tiểu Thiên An Môn. Đây là một cuộc nổi dậy chống thuế, chống cường quyền, chống cướp đất… Trong những cuộc nổi dậy này, nông dân đã bao vây, chiếm giữ các trụ sở của nguỵ quyền, bắt giam các quan chức tham nhũng, ác ôn côn đồ để hỏi tội và đòi hỏi công lý.

· Bất chấp bị đàn áp dã man, thanh niên, sinh viên, học sinh đã tổ chức những cuộc biểu tính chống nguỵ quyền VC đã dâng đất, biển và đảo cho Trung Cộng

· Các nhà hoạt động dân chủ, những nhà trí thức, các giáo sư, các luật gia, các nhà văn, những người cộng sản ly khai, những người cộng sản đã tỉnh ngộ và các bloggers…đã đồng loạt lên tiếng, công khai đòi hỏi những điều cấm kỵ nhất đối với Việt Cộng như tổ chức bầu cử tự do; tự do ngôn luận; tự do lập hội, lập đảng; xoá bỏ chủ nghĩa cộng sản; xoá bỏ hiến pháp; xoá bỏ chế độ độc tài toàn trị và thay thế bằng một thể chế dân chủ tự do, đa nguyên, đa đảng….

· Hàng triệu người lên mạng internet hàng ngày để theo rõi, phát biểu, tranh đấu….cho tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam.

· Mới đây nhất, hiệu ứng của các Cuộc Cách Mạng Hoa Lài tại Tunisia và Ai Cập đã lan tới Việt Nam. Khối 8406 của Linh Mục Nguyễn Văn Lý và Cao Trào Nhân Bản của Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế đã chính thức và công khai đưa ra lời kêu gọi toàn dân xuống đường biểu tính để lật độ chế độ cộng sản. Qua mạng internet, thanh niên, sinh viên, học sinh trong toàn quốc đã kêu gọi đồng bào chuẩn bị xuống đường biểu tính đồng loạt trong cùng một thời điểm tại các thành phố lớn như Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Huế, Thanh Hoá, Hà Nội, Hải Phòng… để lật đổ nguỵ quyền Việt Cộng.

Trên đây là những đám lửa đã và đang bùng cháy trong khắp nước báo hiệu một trận bão lửa sẽ nổ ra khi người dân bị dồn đến bước đường cùng. Với lợi thế chính trị và ngoại giao trên chính trường quốc tế, ba triệu người Việt hải ngoại đã và đang tiếp tay tích cực yểm trợ về tính thần và vật chất cho cuộc chiến đấu vì dân chủ và tự do của đồng bào trong nước.

Khi chúng tôi viết những dòng này, Cuộc Cách Mạng Hoa Lài tại Libya đang bị đàn áp đẫm máu gây chấn động thế giới. Ngày 26-2-2011, Hội Đồng Bảo An LHQ đã thông qua, với số phiếu thuận 15-0, một nghị quyết trao cho Toà Án Hình Sự Quốc Tế để điều tra và truy tố Đại Tá Gadhafi về tội ác chống nhân loại. Ngày 3-3-2011, Công Tố Viên Luis Moreno-Ocampo của Toà Án Hình Sự Quốc Tế đã tuyên bố: “Nhà lãnh đạo Libya Gadhafi cùng các con trai và một số nhân vật thân cận sẽ bị điều tra vi phạm tội ác chiến tranh chống lại loài người”. Ông nhấn mạnh “Không ai được phép tấn công và và tàn sát thường dân…khi họ biểu tình ôn hoà”. Đây là một cảnh báo nghiêm khắc cho những tên đầu sỏ VC nếu chúng đàn áp gây đổ máu trong cuộc Cách Mạng Hoa Mai của đồng bào chúng ta tại Việt Nam trong tương lai.

Đứng trước Cuộc Chiến Quốc Cộng trong giai đoạn một mất một còn hiện nay, Băng Đảng Việt Cộng đang tung ra những đòn khủng bố khốc liệt đối với những nhà hoạt động dân chủ trong nước bằng cách theo rõi, thẩm vấn, bao vây, truy bức, bắt giam, bỏ tù, tạo ra những tai nạn giết người…. Nhưng thực tế cho thấy chúng càng điên cuồng khủng bố dã man bao nhiêu, phong trào đấu tranh cho dân chủ tự do trong nước càng phát triển vững mạnh bấy nhiêu theo đúng quy luật: “Ở đâu có đàn áp, ở đó có đấu tranh”.

Ngày 30-4-1975 là ngày mà Đảng CSVN đoạt được thắng lợi ở điểm cao nhất. Nhưng cũng kể từ ngày này, uy tín của chúng đã tuột dốc một cách thê thảm, không còn cách gì có thể gượng lại được nữa bởi vì cái mặt nạ che đậy cái bản chất Việt gian bán nước của chúng đã rớt xuống. Đảng CSVN hôm nay chỉ còn là cái xác không hồn, đã mất hết niềm tin của toàn dân Việt Nam kể cả đa số đảng viên cộng sản như chúng cũng phải thú nhận. Ngày hôm nay, băng Đảng CSVN không còn khả năng cai trị đất nước bằng luật pháp mà chúng chỉ khủng bố người dân bằng toà án kangaroo, công an, đầu gấu, xã hội đen và nhà tù. Đây là kiểu thống trị của băng đảng Mafia. Chúng đã phải thú nhận rằng hàng ngũ của chúng từ bên trên và từ bên trong đang tự diễn biến, tự chuyển hoá để tự huỷ diệt. Tuy nhiên, với bản chất ngoan cố không thể thay đổi được, chúng sẽ còn tiếp tục hô to khẩu hiệu: “Đảng Cộng Sản Việt Nam Quang Vinh Bách Chiến Bách Thắng Muôn Nam” cho tới 15 phút cuối cùng trước khi bị toàn dân Việt Nam mang ra xử tội như người dân Romania đã xử tử vợ chồng Nicolea Ceausescu, chủ tịch Đảng Cộng Sản Romania, đã bị bắt lại sau khi tìm cách chạy chốn bằng trực thăng. Đây là số phận tương lai dành cho những tên đầu sỏ Việt Cộng còn tiếp tục ngoan cố.

Từ những phân tích trên đây, chúng ta có quyền tin tưởng một cách logic rằng Cuộc Chiến Quốc Cộng đang đi vào giai đoạn kết thúc. Số phận của Đảng Cộng Sản Việt Nam và chế độ Việt Cộng đã được quyết định, vấn đề còn lại chỉ là khi nào và bằng cách nào. Toàn dân Việt Nam trong và ngoài nước sẽ thắng trận quyết định cuối cùng. Dân tộc Việt Nam sẽ được hưởng một nền hoà bình công chính với đầy đủ nhân quyền và dân quyền. Và để tiếp nối tính liên tục không gián đoạn của dòng lịch sử chính thống của dân tộc, nền Đệ Tam Cộng Hoà sẽ được toàn dân Việt Nam lựạ chọn phù hợp với chiều hướng vận động của dòng lịch sử chính thống của dân tộc và với xu thế dân chủ tự do của nhân loại văn minh.

Đỗ Ngọc Uyển

Tháng 3 năm 2011

SanJose, California
Tài liệu tham khảo:

– Nhất Cá Việt Nam Dân Tộc Chủ Nghĩa Đích Nguỵ Trang Giả của Tưởng Vĩnh Kính –

    bản dịch của Nguyễn Thượng Huyền với tựa Hồ Chí Minh tại Trung Quốc – California, NxB Văn Nghệ, 1999

– Binh Thư Yếu Lược của Trần Quốc Tuấn

-Sư Đoàn 18 Bộ Binh và và những ngày tử chiến tại Xuân Lộc – Phạm Dinh

Xuân Lôc Battle – Phillip B. Davidson

– Viet Nam, Qu’as-tu Fais De Tes Fils? – Pierre Darcourt

Làm thân cỏ cú – Lê Minh Nguyên

Từ Thái Bình 1977 đế biểu tình 2007

– Freedom house: Freedom in the world 2010: Erosion of Freedom intensifies

– The End of History – Francis Fukuyama

–  Democracy’s Third Wave – Samuel P. Huntington

– The Boston Globe Online: UN, World further isolate Libya’s Gadhafi – by Anita Snow – Associated Press / February 27, 2001

Advertisements

Hãy ghi ý kiến, thắc mắc của bạn vào đây:

Trage deine Daten unten ein oder klicke ein Icon um dich einzuloggen:

WordPress.com-Logo

Du kommentierst mit Deinem WordPress.com-Konto. Abmelden / Ändern )

Twitter-Bild

Du kommentierst mit Deinem Twitter-Konto. Abmelden / Ändern )

Facebook-Foto

Du kommentierst mit Deinem Facebook-Konto. Abmelden / Ändern )

Google+ Foto

Du kommentierst mit Deinem Google+-Konto. Abmelden / Ändern )

Verbinde mit %s