CHÓE, NHÀ HÍ HỌA BÚT SẮT SỐ MỘT VIỆT NAM (4.3)

Phần 4: Người làm vườn độc thoại – cuộc đời của Chóe (Kì 3)

 

Uyên Thao

Một buổi trưa, tôi vừa ngả lưng xuống chiếc ghế nhựa giữa tòa soạn vắng lặng bỗng Chóe đẩy cửa bước vào. Anh tới đứng sững trước ghế, im lạng nhìn tôi bằng ánh mắt trĩu nặng. Tôi toan lên tiếng nhưng ngưng lại khi thấy Chóe đưa tay nhắc cặp kính, dụi mắt. Rồi Chóe nói một cách khó khăn:

– Nhìn anh làm việc, em cứ muốn khóc!

Tôi hoàn toàn bất ngờ trước sự bày tỏ khác thường của Chóe, cố cười hỏi lại:

– Chóe thấy tôi làm việc thế nào?

Chóe nói nhanh “Anh cô độc quá!” rồi bật nấc.

Tôi choàng ngồi dậy, nhưng Chóe lật đật quay đi, vừa đưa tay chùi má vừa mở cửa bước ra. Tôi bước theo tới cửa thì Chóe đã xuống hết cầu thang. Ðứng nhìn theo anh hối hả bước ra phố, tôi tự nhủ sẽ thu xếp gặp riêng Chóe vào hôm sau. Nhưng tôi không làm nổi việc nhỏ nhoi này. Mức độ căng thẳng với hàng loạt sự việc dồn dập từ cuối tháng 9-1974 luôn đặt tôi vào tình thế không còn một phút rảnh rang. Rồi tờ báo bị thu hồi giấy phép và những ngày lẩn tránh công an mật vụ truy tróc kéo dài cho tới cuối tháng 4-1975.

Một ngày đầu tháng 5-1975, giữa cơn rũ liệt vì tuyệt vọng của thành phố Sài Gòn, Chóe đột ngột tới nhà tôi. Anh cho biết cùng với Hải Triều bị bắt giam hơn ba tháng tại Nha An Ninh Quân Ðội và tự ra khỏi nhà giam này vào buổi trưa 30-4-1975. Chóe kể lại sự chứng kiến cảnh người lính Biệt Ðộng Quân đứng giữa cầu Thị Nghè cầm M.16 bắn chiếc xe tăng đang tiến tới để bị bắn gục xuống. Anh chấm dứt câu chuyện bằng một hơi thở dài rồi ngơ ngẩn nhìn ra vườn. Chóe như già sọm hẳn với những nét khổ não in hằn trên mặt. Trong khoảnh khắc đó, tôi nhớ lại tiếng nấc không kìm hãm nổi của Chóe vào buổi trưa anh gặp tôi tại tòa soạn Sóng Thần và chợt thấy hiển hiện từ vẻ ngoài cùng mọi cung cách hiền hòa bình lặng của Chóe, một con người bị vây hãm triền miên giữa cảm giác xót xa dấy lên từ nỗi đau chồng chất trong tâm khảm – nỗi đau không do cảnh ngộ bản thân mà bắt nguồn từ cuộc sống của đồng loại, cụ thể là từ những dằn vặt về thân phận sâu kiến của con người trước thực tế đang phơi trải. Cung cách hiền hòa bình lặng của Chóe có thể coi như một sắp đặt tự nhiên để nỗi dằn vặt không biến thành ngòi nổ phá tung thân xác anh.

Nhưng Chóe sẽ không bao giờ trút bỏ nổi tâm tư trĩu nặng về những nỗi oan khiên mà đồng loại phải nhận chịu.

Ý nghĩ này trở lại với tôi vào năm 1991.

Thời gian này tôi đã ra khỏi tù và được bạn bè giúp cho có một sạp báo bên cầu Bông, sát trường nữ trung học Lê Văn Duyệt cũ. Cũng một buổi trưa, Chóe bất ngờ xuất hiện. Anh không đạp xe đạp như tôi mà đi xe 125 phân khối. Anh cho biết nhờ vẽ tranh chợ nên có tiền mua xe và anh chọn chiếc xe này để tránh bị cướp bóc chặn đón có thể mất mạng vào những lúc di chuyển ban đêm.

Anh kể tiếp ngoài việc vẽ tranh chợ, anh vẫn vẽ hí họa nhưng vẽ màu, vẽ cỡ lớn, vẽ… rồi bỏ! Bức họa Chóe vừa vẽ xong lúc đó là vẽ một chiếc thang. Anh đưa hai bàn tay ra phía trước phác cho tôi thấy khổ tranh lớn gần bằng bức vách trong đó chỉ có một chiếc thang với phần chân thang là mấy gióng cây buộc chắp vá. Ðầu thang gác lên những áng mây mỏng manh cao vút và chân thang chắp vá đặt trên mấy đám khói vật vờ. Anh kết luận:

– Tôi cứ vẽ theo ý nghĩ bất chợt rồi xếp vào xó bếp.

Trong lúc Chóe kể, tôi nghĩ tới những con người leo trên chiếc thang dẫn lên thiên đường và cảm giác chua xót vây hãm Chóe suốt thời gian vẽ. Tôi nhìn Chóe, thấy anh không thể ngưng vẽ, không bao giờ thoát khỏi nỗi dằn vặt về những oan khiên cứ thản nhiên trút xuống. Ðó chính là cuộc sống của anh. Ðiều may mắn mà Chóe được ban tặng là tài năng và bản tính sẵn sàng cam chịu nên mọi nghịch cảnh chỉ dẫn đến kết quả là những bức tranh với một nụ cười.

Chỉ một lần tôi nghe Chóe nhắc đến nỗi đau kéo dài trong câm nín của riêng anh. Ðó là buổi chúng tôi ngồi với nhau đầu năm 2003 sau khi Chóe tới Mỹ khoảng ba tuần.

Chóe cùng vợ tới Virginia ngày 19 tháng 12 năm 2002 do Kim Việt và Nguyễn Văn Khanh bảo lãnh qua Mỹ chữa bệnh và đang ngụ tạm tại nhà Ðặng Ðình Khiết ở Falls Church. Anh bị bệnh tiểu đường, năm 1997 bị tai biến mạch máu não liệt bại một thời gian, sau đó qua Pháp chữa hai lần vào năm 1998, 2001 nhưng không thuyên giảm, mắt phải bị mù, mắt trái chỉ còn thấy lờ mờ và đi đứng lẩy bẩy. Ðã hai năm, anh không còn cầm được cây cọ nên chuyển qua viết bằng cách đọc vào máy ghi âm cho vợ con chép lại.

Bữa đó, tôi vừa qua cuộc giải phẫu thanh quản không được phép nói nhiều nên Chóe nhắc vợ lấy một truyện ngắn của anh đọc cho tôi nghe.

Truyện viết về cảnh sống trong trại tù cải tạo với những ý nghĩ vẩn vơ, những ước mong mơ hồ, những niềm vui kỳ quặc đẩy lui tôi rất nhanh về quãng thời gian đã qua. Những ngày bị biệt giam tại X.15 gần như tôi không thể rời khỏi mấy chục con kiến luôn chạy loăng quăng tứ góc này qua góc khác và ao ước hoài có một chiếc ghế gỗ để ngồi lên đó, buông thõng hai chân thay vì kéo dài ngày này qua ngày khác cảnh bó gối ngồi bệt trên sàn xi măng. Tôi luôn tưởng tượng khi được ngồi trên chiếc ghế như thế hai khớp đầu gối và các bắp chân buông thõng thoải mái sẽ đem lại cho tôi cảm giác nhẹ nhàng như cánh chim bay bổng trên mây. Chiếc ghế gỗ trở thành ước mơ đeo bám tôi nhiều ngày tháng và hiện hình trở lại khi tôi nghe Chóe diễn tả niềm vui được thoải mái xưng hô mày, tao với… mấy con bò! Chóe có niềm vui tột bậc này khi chuyển về đội Chăn Nuôi lãnh việc chăn bò.

Những dòng chữ đơn sơ nói về niềm vui tột bậc của Chóe có thể dễ dàng trôi qua mắt người đọc, nhưng tôi nghĩ chắc chắn anh đã viết bằng trọn vẹn nỗi chua xót về cảnh ngộ bản thân cùng bè bạn xung quanh và trong lúc viết có thể khuôn mặt Chóe cũng đẫm nước mắt hệt như lúc này khi anh cùng tôi nghe đọc lại đoạn truyện. Những dòng nước mắt lặng lẽ tuôn và những ngón tay Chóe run run mân mê bất định trên gò má tạo cho tôi cảm giác anh đang bị cuốn chìm theo môt ý nghĩ nào đó đến độ không còn biết sự có mặt của tôi cũng như việc chính anh đang khóc. Khi vợ anh đọc dứt, Chóe chậm chạp gỡ cặp kính, đưa bàn tay chùi má. Rồi vẫn với cách nói nhỏ nhẹ chậm rãi, anh kể có lúc ở trại cải tạo, anh phải giở trò trộm cắp vài củ khoai, vài trái bắp để được coi khinh là thứ bỏ đi. Anh phải làm thế vì quá sợ mối ám ảnh bị những cặp mắt rình mò thường xuyên đeo bám.

Năm 1992, khi có cơ hội viết vẽ cho một số tờ báo tại Sài Gòn, anh lại tái diễn tấn tuồng trộm cắp thuở ở trại tù dưới hình thức khác. Chóe cho biết anh bắt đầu vẽ trở lại với bút hiệu Trần Ai, nhưng mọi người vẫn gọi anh là Chóe. Cái tên Chóe luôn được trưng kèm với ba tháng tù hồi đầu năm 1975 tại Nha An Ninh Quân Ðội. Riêng Chóe không thể quên cái tên đó cũng gắn liền với những mối đe dọa phủ quanh cuộc sống của mọi người. Nỗi kinh hoàng ám ảnh Chóe lúc này là cái phần gắn liền kia sẽ trở thành nguồn gốc thảm họa cho cảnh đời vừa trở lại bình thường của anh. Anh sẽ không còn đưọc quây quần giữa những người thân, không còn được sống những ngày êm ả, nhất là không còn được vẽ vời trên giấy. Vì thế, anh phải luôn bôi xóa hai chữ Sóng Thần, bôi xóa hơn mười năm tù trong các trại cải tạo và bôi xóa những cảm nghĩ thực của mình bằng mọi cách. Anh không khó khăn trong việc bôi xóa này vì hết thẩy những người đang muốn có tranh của anh cũng đều muốn bôi xóa. Anh không đơn độc trong màn kịch trộm cắp như thuở ở trong tù nhưng không trốn khỏi nỗi tủi nhục ngấm ngầm vì luôn đối diện với sự dối trá hèn mạt của chính mình.

Tôi đang bị cấm nói và cũng không biết nói gì nên im lặng. Chóe thở dài rồi nhắc vợ kiếm một bài viết của anh đã đăng báo ở Sài Gòn năm 2000. Anh trao bài viết cho tôi. Bài viết có tựa đề Giống Người Khác vỏn vẹn ba cột báo ngắn ghi lại lời tự kể của Chóe về những chuyện anh đã gặp:

‘Tôi vừa chạy xe qua khỏi bùng binh ngã sáu, quẹo qua đường NTMK thí có một thanh niên đuổi theo và ra hiệu cho tôi dừng xe lại. Trông anh ta dáng vẻ đàng hoàng nên tôi cũng tấp xe vào lề đường xem có việc gì. Anh ta cười cười: “Xin lỗi chú, cháu đuổi theo chú từ đường NVC, chú chạy nhanh quá! Không giấu gì chú, cháu là một người rất hâm mộ chú, cháu chạy theo để xin chú một chữ ký”. Gì chứ chữ ký là tôi sẵn sàng và rất hân hoan nữa là đàng khác. Không đợi tôi phải tự lục túi mình tìm bút, chàng thanh niên nhanh nhẩu đưa ngay cây bút và quyển sổ cho tôi ký tên. Tôi thì phải chuẩn bị một chút, thay cái kính cận đang đeo bằng cái kính lão để thấy đường ký ấy mà. Tranh thủ khoảng thời gian ấy, chàng thanh niên hỏi ngay: “Chú là nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu?” Tôi trả lời không phải (may mà vẫn chưa kịp ký tên) rồi thay cái kính cận lại chỗ của kính lão, không quên gật đầu chào chàng thanh niên kia, dọt xe đi.

22111887-20130307165155_481125_362775250468537_992933173_n

Tôi không nhớ đây là lần thứ mấy người ta lầm tưởng tôi với Phạm Trọng Cầu. Có lần đi trong đoàn về thăm phố cổ Hội An gồm các nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà báo, cách doanh nghiệp, nhà mặt trận và cả nhà dẫn chương trình Phương Thảo. Ở Hội An có ít người đến rạp Hòa Bình TP.HCM xem Phương Thảo làm MC, nhưng ở đây khán giả biết Phương Thảo dẫn chương trình qua băng video Mưa Bụi. Khán giả reo lên “Phương Thảo, Phương Thảo.” “Ô kia, có cả Phạm Trọng Cầu nữa”. Tôi đi gần Phương Thảo, “Ðó đó, cái ông râu xồm là Phạm Trọng Cầu đó. Mày chạy về kêu chị Bốn nói tối nay trình diễn văn nghệ có cả Phương Thảo và Phạm Trọng Cầu nữa. Chắc là hay lắm đó”. Ðêm ở Hội An tôi cũng lên sân khấu để vẽ tặng khán giả. Có lẽ một số khán giả đêm ấy sẽ nghĩ rằng Phạm Trọng Cầu ngoài tài viết ca khúc, tài đàn hát còn có nghề vẽ chân dung tại chỗ nữa.

Mới đây thôi, khi phim ‘Ðồng tiền xương máu‘ chiếu trên tivi, tôi đến bệnh viện Y Học Dân Tộc trị bệnh, lúc chờ đợi đến lượt mình lên bàn chiếu tia laser, có một bà bệnh nhân đến hỏi tôi “đóng xong phim là vào bệnh viện hả?” Tôi ngớ người ra chưa kịp nói năng gì, bà ta lại tiếp “râu quai nón đẹp thế kia mà đóng phim lại cạo phần quai nón đi uổng thế, nghệ sĩ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú mà cũng phải ngồi chờ đến lượt mình sao, anh Lâm Tới?” À! Té ra bà tưởng tôi là diễn viên Lâm Tới. Giữa nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu và diễn viên Lâm Tới làm sao giống nhau mà có người bảo tôi giống hai nhân vật này? Còn một nhân vật nữa mà rất nhiều người bảo tôi giống, họ bảo là tôi giống từ ba chục năm trước cơ (nghĩa là từ lúc tôi chưa để râu) đó là nhà văn Hemingway – ông ta là người Mỹ da trắng chính cống còn tôi là người Việt Nam da vàng 100% mà bảo giống thì giống làm sao cơ chứ?

Nhưng có một người tôi rất muốn giống đó là chính tôi, vậy mà có người còn không chịu tin. Có lần ở tòa soạn, phòng thường trực điện thoại cho tôi bảo là có bà bạn đến tìm. Tôi ra phòng thường trực thấy chẳng ai quen cả và cũng chẳng ai đến nhận người quen với tôi. Người thường trực ngạc nhiên nhìn người phụ nữ xưng là bạn của tôi rồi giới thiệu: “Ðây là họa sĩ Chóe”. Người phụ nữ ấy nhìn tôi rồi lắc đầu: “Chóe hả? Không phải Chóe đâu! Ông kia kìa! Giống… Chóe hơn! Ông này không có vẻ gì là… Chóe cả!”

Bài viết chỉ là một giai thoại vui. Nhưng trọn vẹn nỗi xót xa của Chóe hiện lên rất rõ trước mắt tôi qua những dòng chữ cuối cùng. Tôi hiểu rõ cảm giác tủi nhục ngấm ngầm của anh qua dòng chữ ghi ước muốn chỉ được giống chính mình và lời nói của một người nhận là bạn quen đã nói thẳng với Chóe: “Chóe hả? Không phải Chóe đâu!… Ông này không có vẻ gì là… Chóe cả!”

Câu nói nhẹ nhàng không diễn tả sự ngạc nhiên mà chính là ngọn đòn miệt thị thảm hại đập thẳng vào giữa mặt người nghe. Nỗi đau càng thấm thía hơn do câu nói cứ lập lại hoài vì chỉ là tiếng nói của chính mình.

Tôi nhớ tới lời than của nhà văn tiền bối Ngô Tất Tố do Tô Hoài ghi lại trong hồi ký: Làm người khó lắm!

Tôi nhớ tới chọn lựa của một nhà văn trẻ miền Bắc cũng qua hồi ký của Tô Hoài. Nhà văn trẻ này đã chọn cách tự nuốt qua họng một nắm lưỡi dao cạo để cắt đứt ruột gan mình. Sự việc có thể khó hiểu với những người chưa từng trải cảnh sống xã hội Việt Nam nhưng là thực tế từng ngày từng giờ vây phủ những người có mặt và từng giúp Nhật Tiến rút ra một kinh nghiệm: “Cách duy nhất để tồn tại là phải dối trá hèn hạ, vì chẳng còn nói được cái gì khác hơn khi phải đối thoại với loại người không còn tâm địa con người.”

Ít nhất hai lần, Chóe đã cố tìm cách trốn khỏi cảnh sống đó. Sau khi ra khỏi trại tù cải tạo năm 1985, anh vượt biên nhưng kết quả là phải trở lại nhà tù một lần nữa.

Với hơn mười năm tù, Chóe nạp đơn xin ra đi theo chương trình HO. Ðơn của anh bị từ chối.

Nhân viên ODP bác bỏ mọi lời giải thích, bởi theo nguyên tắc, mọi việc phải được chứng minh bằng giấy tờ. Những tờ Giấy Ra Trại phát cho người tù khi được thả đều kèm theo lời nhắc là bản duy nhất, không thể sửa đổi hoặc xin lại bản khác. Do đó, đã có trường hợp tù nhân Phạm Hiệp tại trại Z.30A bị bắt vì tội trốn học tập vẫn phải nhận tờ giấy ra trại với hàng chữ ghi tội trộm cắp. Phạm Hiệp nêu vấn đề với cán bộ an ninh trại nhưng chỉ nhận được một câu nói chắc nịch: “Anh muốn đổi giấy thì cứ trở về đội học tập tiếp tục, chờ chỉ thị của Bộ.” Tất nhiên Phạm Hiệp không dám mong đổi giấy nữa và đã ra trại với tội danh trộm cắp. Giấy Ra Trại của Chóe không ghi lầm tội trạng nhưng không ghi ngày bị bắt vào tù. Nhân viên ODP nghe Chóe khai đã ở tù hơn mười năm, nhưng không thể dựa vào đâu để xác định tính xác thực của lời khai đó.

Trong cảnh đường cùng, Chóe may mắn có tài vẽ và gặp thời điểm cần chứng cớ cho chủ trương ‘cởi trói cho văn nghệ‘, một chủ trương được ca tụng bằng nhiều danh từ tốt đẹp, đồng thời cũng gợi nhắc không ít nỗi tủi nhục. Chóe dù là gì vẫn không thể vượt khỏi thân phận mà hết thẩy những người xung quanh phải gánh chịu vì chỉ riêng những người mà Nhật Tiến diễn tả là loại người không còn tâm địa con người mới thực sự có quyền quyết định cuộc sống của anh.

Từ 1992, Chóe không chỉ đối thoại với loại người đó mà còn sống dưới sự che chở của loại người đó nên ước mơ được giống chính mình quả là ước mơ cực lớn và nỗi đau phải gian dối khó thể tránh với bất kỳ ai còn biết hổ thẹn.

Nhưng Chóe may mắn vẫn còn những thời khắc sống đúng cuộc sống của mình. Sự kiện này hiển hiện qua nhiều bức họa và qua nhiều bài viết của anh. Những bức chân dung tự họa của Chóe cho thấy anh vẫn sống đúng với mình khi vẽ. Anh đã ghi lại hình ảnh mình bằng cây cọ thọc vào mắt với dòng mực tuôn ra gợi nhắc máu và nước mắt, bằng hình ảnh miệng bị dán kín dưới hai mảnh băng keo bắt chéo hoặc bằng cảnh cầm búa chặt một thân cây lớn với hướng đổ sẽ đè lên chính mình.

Mỗi bức họa này khi in trên báo luôn có một dòng chú thích như ‘khi người có râu quai nón hôn‘ hoặc ‘biếm họa và cây tiêu cực‘. Mọi chú thích đều ghi rõ là của tòa soạn tức do người khác viết và chỉ có sau khi tranh đã hoàn tất. Chóe vẫn vẽ tranh không lời nên chắc chắn vẫn sống trọn vẹn với mình khi vẽ. Tuy nhiên, chấp nhận những chú thích như thế và còn phải bày tỏ sự chấp nhận trong cung cách vui vẻ là những vết thương nhức nhối.

Thêm nữa, vào nhiều dịp được giới thiệu với mọi người, Chóe luôn luôn gặp những dòng tiểu sử của mình như một sản phẩm đúc khuôn, những dòng tiểu sử được lập lại từng chữ trên mọi tờ báo theo cung cách uốn nắn mọi sự kiện trong cuộc sống của anh:

“Họa sĩ Chóe sinh tại An Giang, cầm bút vẽ từ năm 1965 và nhanh chóng được xem là cây biếm họa báo chí bậc nhất Việt Nam. Cây cọ của ông không nể nang một ai, từ Tổng Thống Mỹ Nixon, ngoại trưởng Kissinger cho đến Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Trần Văn Hương, Big Minh… trong những thời điểm nhạy cảm nhất. Trên nhiều báo đối lập như Tin Sáng, Ðiện Tín, họa sĩ Chóe đã vẽ nhiều chân dung nhân vật xâm lược, bán nước với nét bút biếm họa sắc sảo, tiềm ẩn ý tưởng phê phán hoặc ngấm ngầm phơi trần mặt trái của đương sự. Thế là họa sĩ Chóe đã bị chế độ cũ bắt gian. Sau ngày giải phóng, tranh của ông tiếp tục xuất hiện trên nhiều tờ báo và tạo được phong cách riêng trong việc phê phán những thói hư tật xấu, những tiêu cực hủ lậu ngõ hầu góp phần vào công cuộc lành mạnh hóa xã hội…”

Chóe tự hiểu hơn ai hết rằng anh không nổi tiếng từ 1965, không tương quan với những tờ báo Tin Sáng, Ðiện Tín trước 1975, không có thái độ chính trị như được gán ghép. Anh cũng không quên sau 1975 chỉ được trở lại với cây cọ sau mười mấy năm sống trong các trại tù và cầm cọ trở lại với nỗi khiếp hãi sẽ đá phản vào lưới nhà… Nhưng anh không thể chọn lựa ngoài sự im lặng. Thậm chí im lặng mang tính đồng lõa trước cả những bài báo ghi các lời lẽ được gắn cho anh theo hướng bôi xóa một thực tế. Khi đề cập tới một truyện ngắn của Chóe kể lại cảnh tù của mình sau 1975 người viết diễn tả như sau:

“Tôi hỏi Chóe chuyện Sợi Tóc. Chóe ngừng bút vẽ cất cái giọng rề rề kể: Trước năm 75, do chống chiến tranh, tôi bị chính quyền ngụy bắt bỏ tù. Trong tù rặt đàn ông. Một hôm tôi nhặt được sợi tóc dài đàn bà. Cả lũ chúng tôi giành nhau nâng trên tay sợi tóc đàn bà ấy rồi cứ thế tự tưởng tượng, tự mơ tới những người đàn bà của đời mình…”

Mọi độc giả của truyện Sợi Tóc chỉ thấy hiển hiện cảnh sống trong trại tù cải tạo sau 1975 tại một vùng rừng núi, nhưng Lưu Trọng Văn, một cây bút của chế độ, con trai nhà thơ một thời nổi tiếng Lưu Trọng Lư đã viết như vậy.

Chỉ một lần Chóe bày tỏ ý kiến về những gán ghép do sự việc nằm trong giới hạn có thể được. Chóe ghi lại trong một tạp bút như sau:

“Buổi sáng thứ hai đến tòa soạn báo TTCN, một bạn đồng nghiệp cho biết hôm thứ bảy tuần rồi trong một bản tin về ‘Triển lãm của thầy và trò trường Ðại học Mỹ thuật’của HTV có nói đến tôi là một ví dụ tên tuổi xuất thân từ trường Mỹ thuật… Câu chuyện nhầm lẫn trên HTV làm cho tôi băn khoăn suốt buổi sáng không vẽ vời được gì cả. Tôi rất sợ sự hiểu lầm là tôi mạo nhận mình xuất thân từ trường Ðại học Mỹ thuật. Tôi vốn không đủ tiêu chuẩn để thi vào trường Mỹ thuật dù là tiểu học chứ đừng nói đến cao đẳng hay đại học…”

Việc được đài truyền hình HTV đề cao là xuất thân từ trường đại học khiến Chóe phải băn khoăn do vẫn nhớ mình chưa qua bậc tiểu học thì việc anh không ngừng ước muốn được giống mình là điều dễ hiểu khi chính anh luôn phải che đậy bản thân bằng những lời gian dối. Sợ hãi và khinh ghét gian dối nhưng hàng ngày hàng giờ lại phải dựa vào gian dối chắc chắn không giúp tạo nổi một tâm trạng thoải mái.

Vì thế, tôi không ngạc nhiên khi Chóe nhắc lại nhiều lần ý nghĩ chữa bệnh xong, anh sẽ không trở về Việt Nam nữa dù phải sống bất hợp pháp tại Mỹ và đề nghị tôi nên tái xuất bản tờ Sóng Thần, thậm chí chỉ xuất bản mỗi tháng một số thôi. Ao ước của Chóe là được nhìn thấy tên tờ báo hiện tại trên giấy và có Chóe giữa những bạn bè thuở nào.

(còn tiếp kì sau…)

Advertisements