Trí thức phải là người biết ngượng (I)

Nguyễn Văn Lục

Lời nói đầu

Mới đây, tôi được biết lại có một buổi Hội Thảo Mùa Hè, diễn ra các ngày 24-25 tháng bảy, 2015 tại Berlin, Đức của một nhóm cựu sinh viên du học của miền Nam trước 1975 mà tôi tạm gọi cho họ bằng một cái tên: Nhóm vô thừa nhận (The Unwanted group). Miền Nam Việt Nam coi họ như ‘thứ gây rối’; miền Bắc cộng sản nay coi họ như thứ con lai hài dòng máu, vàng đỏ lẫn lộn, một thứ đồ trang trí cho chế độ không hợp thời nữa.

Hiện nay, nói thật họ không có quê hương để về và cũng không có đất sống giữa một cộng đồng người Việt gần 4 triệu người. Trước đây, họ đi ngược chiều, nay thì họ đi trái chiều.

Gọi họ là nhóm ‚vô thừa nhận‘ vì họ đã chối bỏ miền Nam –nơi họ đã được lớn lên, được ăn học và may mắn được đi du học– trong đó tài cũng có, nhưng cũng không thiếu những thành phần con ông cháu cha được đi tắt để trốn lính. Thực tế nó là như vậy.

Đáng nhẽ, họ phải nhận thức rõ sự ra đi này như một ân huệ và biết ơn cũng như nghĩ tới những người còn ở lại kém may mắn hơn họ.

Trong hoàn cảnh sinh sống ở nước ngoài, họ bị nhuộm đỏ lúc nào không hay. Thái độ chính trị của họ là quay lại chống lại các chế độ ở miền Nam, đồng thời chống Mỹ, kêu gọi Hòa Bình và chấm dứt chiến tranh!!

Nghe thì lý tưởng lắm!Nhưng họ mù lòa không biết rằng, đã bao nhiêu người chiến sĩ cũng thanh niên như họ, cũng tuổi trẻ, cũng có một tương lai tươi sáng. Nhưng do một chút kém may mắn, họ đã ở lại, đã nhập ngũ và nhiều người đã hy sinh tại chiến trường miền Nam thay cho họ.

Xin nhắc nhở cho họ hiểu rằng, chiến tranh là do sự khởi động từ miền Bắc. Hàng ngàn những chiếc xe tăng nặng 40 tấn, T.54 và PT.76 đã dẫm nát miền Nam vào những năm 1972. Trong một trận chiến để giữ Đông Hà, một đơn vị TQLC gồm 700 người, một tuần sau khi rút về Ái Tử chỉ còn lại vỏn vẹn 200 người. 500 người chiến sĩ kia đã bị xe tăng của Hà Nội nghiền nát. Trận đánh vẫn tiếp diễn và cuối cùng khi về đến Huế đơn vị chỉ còn vỏn vẹn 52 người.[1]

Phải chăng đó là thứ Hòa Bình mà họ kêu gọi? Một thứ Hòa Bình giả hiệu, thứ hòa bình một phía. Họ đã bị lừa.

Nay mặc dù đã hiểu rõ bị lừa, nhưng như ‘gái ngồi phải cọc’, một số trong bọn họ tiếp tục con đường họ đã chọn..

Những buổi hội thảo mùa hè vô tích sự này phản ánh đúng tình trạng và tâm tư của họ. Họ nói như chỗ không người, nói cho họ nghe.

Buồn thay cho những kẻ vô thừa nhận!![2]

‘Ở một nghĩa cao đẹp, người trí thức thiên tả là người xác tín, phá chấp và là kẻ soi đường thế hệ. Đó là nguyên tắc. Nhưng hãy nhớ những điều này là biết nhận rõ mình sai lầm cũng không kém quan trọng như thái độ thiên tả. Thái độ trí thức ở đây chính là đôi khi phải biết ngượng, biết nhận sai lầm. Và đối với tôi, biết ngượng một cách nào đó cũng đã là một trí thức rồi’.

Trí thức thiên tả? Trí thức khuynh tả hải ngoại?

Người trí thức khuynh tả? Là ai?

Có sự khác biệt giữa nhà chính trị phe tả và người trí thức tả phái ở một điểm: Một bên dấn thân, nhập cuộc bằng hành động cụ thể, ngay cả tranh đấu để lật đổ cái cơ chế hiện hữu bằng một cơ chế mới. Đó là trưởng hợp nhóm trí thức Caravelle ra tuyên ngôn ngày 26/4/1960 với các ông Phan Huy Quát, Phan Khắc Sửu, Trần Văn Tuyên, Trần Văn Đỗ. Họ là những nhà chính trị tả phái chuyên nghiệp.

Trí thức thiên tả có thể dấn thân mà không trực tiếp nhập cuộc, không có hành động cụ thể, cùng lắm sử dụng ngòi bút như phương tiện tranh đấu. Họ lên tiếng mà không mưu cầu lật đổ để thay thế, hoặc chiếm chỗ. Họ có thể là những người như Phan Khôi, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Ngọc Lan, Lý Chánh Trung, Chân Tín sau này.

Truyền thống tả phái đã bắt đầu từ cuộc Cách Mạng Pháp, thế kỷ 18, 19, 20 bên Âu Châu. Đây là thời kỳ vàng son của trí thức Tây Phương.

Họ tiêu biểu cho những trào lưu tư tưởng triết lý, chính trị, văn hóa và nhất là thẩm quyền đạo lý của thời kỳ đó. Nhờ cái thẩm quyền tinh thần đó, tiếng nói của họ có trọng lượng. Tiếng nói được người khác nghe. Vì thế, họ thường lên tiếng, chống đối hoặc phê phán sự áp đặt và bất công của các thế lực chính quyền đương đại.

Vậy thì tất cả những ai nhân danh cái thẩm quyền tinh thần ấy để cất tiếng nói, để biết chối từ, để biết nói không, dứt khoát và kiên cường, xác tín và quyết tâm theo đuổi, kẻ đó được gọi là những người trí thức thiên tả.

Khi nào họ trở thành trí thức khuynh tả?

Khi một nhà văn như George Orwel viết truyện Burmese Days, năm 1934, nhân đó lên án chế độ toàn trị, thái độ lên án đó biến ông thành một trí thức tả phái. Hơn là một nhà văn, ông là một trí thức tả phái.

Khi các nhà báo Ted Grant hay giáo sư Charlayne, Hunter Gault viết và tìm hiểu về việc tàn sát, diệt chủng giữa những người Hutu và Tutsi ở Rwanda và Burundy cũng như những vụ tàn sát ở Nam Kivu, Bắc Kivu, Goma và Kakorov, họ không chỉ là nhà báo hay giáo sư nữa. Họ bày tỏ một thái độ, họ nhân danh con người lên án tội ác chống lại nhân loại. Họ thực sự là những nhà nhân bản, những trí thức thiên tả.

image001

Gao Xingjian- Galerie Simoncini Luxembourg

Nhà văn Cao Hành Kiện (Gao Xingjian), tác giả của cuốn tiểu thuyết Linh Sơn (Soul Mountain, 1989), giải Nobel 2000 đã phê phán Cách Mạng Văn Hóa ở Trung Quốc vào những năm 1966-1976.

Khi đến Paris năm 1987, ông đã lên án “Bài nói chuyện ở Diên An” của Mao Trạch Đông. Ông cho rằng thời kỳ cách mạng văn hóa là thời kỳ đen tối nhất của lịch sử văn học Trung Quốc vì nó đã giết chết văn học đích thực. Ông là nhà văn và nhà trí thức tả phái.

Khi mà Vladimir Dudintsev, tác giả cuốn “Không chỉ có bánh mì là đủ” (Not by Bread Alone, 1956), đã được giới thiệu lần đầu tiên ở miền Nam Việt Nam vào năm 1956, trong cuốn “Những nhà Văn hóa mới” của Nguyễn Nam Châu, tôi đã đọc và không khỏi xúc động. Cuốn sách nói lên thực trạng bi đát của xã hội Liên Xô. Cái thảm kịch của giới trí thức Liên Xô là chỉ biết cúi đầu, tuân phục nhà nước cầm quyền. Đó là bi kịch của giới trí thức Liên Xô. Với những lời tố cáo con người không phải chỉ sống bằng bánh mì, phải còn có cái gì hơn thế nữa, như tự do, quyền được suy nghĩ, quyền được phát biểu, nhà văn Dundintsev xứng đáng là một trí thức tả phái.

image002

Bìa ấn bản đầu tiên của cuốn Not by Bread Alone.

Và danh sách những tên tuổi như thế còn dài. Có thể là Voltaire mà ngay từ thời ông, các giáo sĩ đã gọi ông là loại trouble-maker. Rồi Boris Pasternak, Aleksandr Solzhenitsyn, J.P. Sartre, Antonio Gramsci, André Malraux đều là những tên tuổi không xa lạ gì với những đọc giả miền Nam VN, trước 75.

Và ở vào một vị thế đặc biệt, mục sư Martin Luther King, trong bài diễn văn đọc dưới chân đài tưởng niệm Tổng Thống Lincoln tại Washington D.C., vào ngày 28 tháng 8 năm 1963 đã nói: “I have a dream”, và cuối cùng ông đã kêu lên “Free at last, free at last.” Ông đã chết vì những điều xác tín ấy.

Trí thức khuynh tả và những điều xác tín

Không có xác tín, không có lý tưởng, không thể là một trí thức thiên tả chân chính. Nói cho cùng, họ như được trao một sứ mạng thiêng liêng. Người trí thức thiên tả trăn trở, thao thức trở thành tiếng nói của lương tâm thời đại với những điều mà họ xác tín. Không có xác tín thì không gửi đi được những thông điệp có tầm cỡ nhân loại, không đeo đuổi được lý tưởng giải thoát con người ra khỏi những trầm luân của chiến tranh, của bạo lực, của sự bóc lột và chà đạp lên nhân phẩm.

Tiếng nói của họ trở thành lương tâm thời đại, đem lại nguồn hy vọng và niềm an ủi cho những kẻ đang bị áp bức. Họ bắt buộc phải chọn lựa một thế đứng, thường là phía tả, phía của công chính và lương tâm thời đại, phía của kẻ yếu, phía thiểu số bị chà đạp và thua cuộc.

Nhưng chính nhờ thế, họ có được vị thế tinh thần đáng nể, nói thay cho những người khác. Họ xé rào, vứt bỏ những suy tư có phản tiến bộ. Và có thể từ đó họ đưa ra một tư tưởng mới, đường lối mới. Đôi khi trí thức tả phái trở thành một ngọn đuốc soi đường phá mây mù u tối, phá chấp, dẫn đưa nhân loại con người vào những nẻo chính. Ở một nghĩa nào đó, người trí thức thiên tả là người xác tín, phá chấp và là kẻ soi đường thế hệ. Hãy nhớ những điều này để mỗi khi những ai đó tự xưng mình là tả thì đôi khi phải biết ngượng. Và đối với tôi, biết ngượng một cách nào đó cũng đã là một trí thức rồi.

Ảo tưởng trí thức
Ngày nay, ở các nước tiên tiến, giới chuyên viên mỗi ngày mỗi nhiều thêm với đủ loại ngành nghề. Chuyên môn hóa hơn, nhưng lại thiếu những người trí thức đích thực, bởi vì chúng ta biết quá nhiều, nhưng hiểu quá ít, “we know too much, understand too little”(1). Thay vì suy tưởng, chúng ta quan niệm sẵn, thay vì biện giải, chúng ta có lượng thông tin, thay vì tranh luận đối đầu, chúng ta có mẫu mã làm sẵn, thay vì thanh danh, chúng ta có nổi tiếng. Thật khó cho thời đại này có những người vừa có cái đầu, vừa có ngọn lửa tinh thần như Albert Einstein, Bertrand Russell hay một Charles Darwin.

Ảo tưởng trí thức là con đường dễ dãi nhất để dẫn dắt một người trí thức khuynh tả.

Họ cũng là con người. Họ vừa có cái đầu, vừa có cái dạ dầy, thay vì chỉ có tinh thần. Đầu có tiếng nói khác. Dạ dầy nói khác. Không va chạm thực tế, họ dễ trở thành người đi trên mây, đi theo một đường lối, một phong trào, đôi khi cũng có thể chỉ là một cái mốt, thành một thứ trí thức theo đuôi. Có những người mang theo một lý tưởng và tin là như thế và hăng say tranh đấu bằng ngòi viết. Nhưng cũng không thiếu những người theo vì cảm tình, vì cảm thấy mình là người đứng ngoài, tách ra khỏi đám đông và nhất là có cảm tưởng có bàn tay sạch.

Cảm tưởng có bàn tay sạch là cốt lõi sinh tử của trí thức tả khuynh. Họ có cảm tưởng họ là lý tưởng, đứng về phía lẽ phải, sự thật. Và nhiều khi thật ra mà nói, cuối cùng họ chỉ bày tỏ một số khát vọng hơn là một đường lối. Nhân sự nhiều khi chỉ là một nhóm người đến vài chục người. Tư tưởng thì mở ra nhiều phía, đón nhận nhiều phía, lúc nghĩ thế này, lúc nghĩ thế khác, thay đổi và không hề có một ý thức hệ chính thống nào. Họ không đủ điều kiện để có thể đi sát thực tế dẫn đến hoang tưởng, đi trên mây như Lý Chánh Trung đã trả lời một nhà báo Pháp:

“La troisième force, c’était une grande aspiration plutôt qu’une force réelle. Seules quelques centaines de personnes étaient organisés. Ces groupuscules étaient ouverts à tous les vents, à toutes les influences. Ils n’avaient aucune idéologie précise.”[3]

Lực lượng thứ ba cuối cùng chỉ là một khát vọng hơn là một thực lực thực tế. Tổ chức vỏn vẹn có vài trăm người. Nhóm người đó mở ra mọi phía và đón nhận nhiều ảnh hưởng. Vì thế, họ không có một ý thức hệ chính xác nào.

Vì thế, họ có thể rơi vào tình trạng nói suông mà không làm được điều gì đích thực. Lăng xăng tuyên bố, lăng xăng có mặt như quân bài múa rối.

Sinh viên phản chiến hải ngoại nằm trong cái phạm trù này.

Phạm trù ngụy tín, ngụy quân tử. Chạy trốn khỏi Miền Nam bằng những lá bài hợp pháp để chống chiến tranh. Điều đó thật là dễ. Nhìn họ mà thương hại.

Trường hợp những trí thức tả phái rơi vào ảo tưởng, đi chệch đường không phải là thiếu. Có thể là Martin Heideigger đã ra mặt ủng hộ Phát-xít Đức. Rồi đến những Schmidt, Walter Benjamin, Alexandre Kojève, Michel Foucault, Jacques Derrida và J. P. Sartre. Ở Việt Nam là trí thức theo Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN).

Xin được nói rõ hơn về trường hợp J. P. Sartre ở trên. Ngày nay, câu hỏi vẫn đặt ra là J. P. Sartre có thực sự là một người Mác-xít chính hiệu không? Và ông đã đóng góp gì cho chủ nghĩa ấy? Cho đến nay, vẫn còn nhiều ý kiến đối nghịch nhau. Những người cực hữu hay chống cộng sản thì coi Sartre như một người Mác-xít, một người cộng sản thứ thiệt nên thù ghét ông. Một số trí thức thiên tả thì họ cho rằng J. P. Sartre chỉ là người có công diễn tả, chuyển tải một cách linh động, tài tình những lý thuyết của Mác ra tiếng Pháp. Những người khác như Raymond Aron thì cho rằng J. P. Sartre không bao giờ là người Mác-xít được. Những bài viết của Sartre về về đấu tranh giai cấp, về sự tha hóa, về tự do chẳng dính dáng đến triết học kinh điển của Mác cả.

image003

Paris. 1970. Jean Paul Sartre đi bán báo cấm “La Cause Du People”.

Tờ La Nouvelle Critique cũng đã dành một số bài bàn về vấn đề: Sartre có phải là Mác-xít không? Nhiều trí thức Việt Nam cũng có thể xếp loại vào trường hợp của Sartre. Thực ra, chỉ có thể nói ông đã là người diễn giải chủ nghĩa Mác, nhưng chưa bao giờ thực sự đứng tên tham gia vào các tổ chức cộng sản với tư cách một người cán bộ. Sartre vẫn đứng ngoài để trình bày và cũng để phê phán, phê phán nặng nề tư bản đã đành, nhưng phê phán ngay cả chủ nghĩa cộng sản. Vì thế, ông làm phiền lòng cả hai phía bằng cái luận điểm quen thuộc mà ông thường nói đến, „Mauvaise foi“, ngụy tín. Và nay thì rõ ràng rằng những rêu rao về Mác-xít của ông chỉ là trong một giai đoạn đã đi chệch đường. Sartre đã rơi vào một ảo tưởng trí thức của những người thiên tả. Sống vật chất, sống thụ hưởng từ vật chật đến tình dục, chơi gái với những tiện nghi cung cấp của chủ nghĩa tư bản, bằng lòng với tiện nghi ấy. Nhưng mặt khác vẫn ngoảnh mặt lên án nó và rêu rao về chủ nghĩa Mác. Sartre là mẫu tượng điển hình của loại trí thức thiên tả hai mặt, ngụy tín và thiếu trung thực. Cùng lắm trước sau, ông vẫn chỉ là một triết gia hiện sinh. Không ai có thể phủ nhận được điều đó.

Mẫu người của Sartre cũng là một điển hình để chúng ta soi rõi những người trí thức thiên tả thời Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), trong và ngoài nước. Nói họ là những trí thức con hoang là để nói đến những thành phần không dám dấn thân nhập cuộc. Trí thì chưa chắc đã đủ, lòng thì còn ham muốn đủ thứ, can đảm thì nhát nhúa, chân trong chân ngoài. Thích đứng ngoài để nói, để phê phán, để hô hào. Giữa một kẻ trong cuộc và kẻ đứng ngoài. Kẻ đứng ngoài không giá trị hơn một đồng xu. Cùng lắm, họ sống bằng một cái huyền thoại do chính họ tạo ra.

Trong một bài nhan đề „Trí thức miền Nam Hai mươi năm nhập cuộc (1955-1975)“, trên Hợp Lưu số 84, tháng 8 và 9/2005, tôi đã nói về vai trò những người trí thức tả phái thời VNCH. Có những người trí thức tả phái sống giữa lòng chế độ và những người đã quyết định ra đi theo Mặt Trận Giải Phóng miền Nam. Chọn lựa đó sai đúng thế nào thì nay đã rõ? Họ xứng đáng hay không xứng đáng ngay cả trong những chọn lựa sai lầm? Hay họ chỉ bị phỉnh gạt?

Phần thứ hai của bài này, xin không nói đến những người trí thức thiên tả thời VNCH ở trong nước, vì đã nói rồi, mà dành để nói đến trí thức thiên tả hải ngoại, vấn đề mà Nguyễn Hữu Liêm đã nêu ra và đã có sự đáp ứng của Lữ Phương, Nguyễn Hòa Mai, Hoàng Mai Thị. Và cùng một cách thức như thế trên diễn đàn DCVOnline với bài của Trần Trung Việt[4], bài viết của tôi đi lại từ đầu để rốt ráo nhận định và đánh giá những trí thức này.

=====================================

[1] Hoàng Dung, Cõi Trời cõi ta, Tiếng Quê Hương, Lời giới thiệu của Uyên Thao, trang 17.

[2] Nhóm tổ chức này gồm những gương mặt quen thuộc như Lê Văn Cường, Nguyễn Tiến Dũng, Trần Hữu Dũng, Giáp Văn Dương, Nguyễn Ngọc Giao, Trần Hải Hạc, Trần Quốc Hùng, Đỗ Tuyết Khanh, Thái Thị Kim Lan, Ngô Vĩnh Long, Trịnh Văn Thảo, Nguyễn Minh Thọ, Trần Văn Thọ, Cao Huy Thuần, Hà Dương Tường, Vũ Quang Việt…

[3] Trích Alain Ruscio, Vivre au Vietnam, 1981, trang 178.

[4] Trần Trung Việt, „Thiên tả và thân cộng“, DCVOnline, 8/4/2006, 11/4/2015.

 

Advertisements