Bờm vẫn là .. thằng Bờm (II)

thang bom
Nguyễn Văn Lục

Trần Đức Thảo nhập cuộc với bài: Tìm hiểu giá trị văn chương cũ.

Phần một, ông Trần Đức Thảo đề cập đến Lập trường giai cấp và quan điểm lịch sử. Theo ông: chúng ta coi mọi tác phẩm đời phong kiến với con mắt người cách mạng ngày nay, đứng trên lập trường bây giờ. Tuy nhiên, ông cho rằng: Người nông dân ngày bấy giờ có thể tố cáo tội ác của địa chủ, nổi dậy, đánh đổ một lớp cường hào ác bá và quý tộc phản động, nhưng chưa thể quan niệm một cuộc cách mạng triệt để phản phong, tiêu diệt giai cấp địa chủ. Ở chỗ khác, ông lại tự dối và đi ngược lại ý tưởng của chính ông khi ông viết rất hay và chính xác như sau:” Nhận xét về tác phẩm đời xưa, chúng ta không thể nào tách rời hoàn cảnh lịch sử và điều kiện hẹp hòi của xã hội cũ”.

Ở phần chót, ông viết

:” Nhưng dưới cái vỏ tôn ti trật tự, đã phát hiện đời sống thực sự trong xã hội phong kiến, tức là một cuộc đấu tranh không ngừng giữa một bọn kẻ cướp lòng tham không đáy và nông dân lao động bắt buộc phải bảo vệ từng giờ từng phút điều kiện sinh sống tối thiểu”.

Tôi có cảm tưởng, người ta chỉ mượn câu truyện Thằng Bờm như một cái cớ để phô diễn quan điểm tranh đấu giai cấp mà thôi.

Cũng như mượn câu truyện: con mèo mà trèo cây cau, trù ểm cho mèo chết {mèo đại diện cho tầng lớp phong kiến địa chủ}. Hay câu truyện về Mười cái trứng.

Nhưng có lẽ ngạc nhiên và lý thú nhất là phần ý kiến bạn đọc, trong đó có ý kiến cuả ông Ngô Quân Miện. Theo ông Ngô Quân Miện thì nội gọi Bờm là thằng, địa chủ được gọi là phú ông cho thấy Bờm bị khinh miệt, phú ông được trọng nể. Cũng theo ông Miện, những đề nghị vô lý của phú ông chỉ cho thấy sự xỏ lá và khinh miệt Bờm, có nghĩa là khinh miệt nông dân. Diễu Bờm chán rồi, phú ông thẩy ra một nắm xôi. Bờm khoái chá vồ lấy ăn. Câu truyện kết thúc ở đấy.

Ngay cả ý kiến của Ngô Quân Miện cũng chỉ là lời bàn Mao Tôn Cương, không phải là cách nhìn nghiêm chỉnh vể truyện cổ như phần trình bày sau này.

Truyện Trê Cóc, truyện Tấm Cám, truyện Thạch Sanh, truyện Lục Súc tranh công

Chúng tôi đã có dịp trình bày, phân tích vài truyện cổ ở trên, thiết tưởng thế cũng đã đủ. Vì những truyện cổ như Trê Cóc, Tấm Cám hay Thạch Sanh cũng được giải thích dựa trên quan điểm giai cấp đấu tranh nên không có gì khác biệt cả.

Chẳng hạn, trong truyện Thạch Sanh được nhận xét là: Dưới hình thái thần thoại, nó đã phản ánh được khá chân thực và sâu sắc nhiều nét sinh hoạt cốt yếu của xã hội phong kiến, nó lại đã nói lên được những ý nghĩ tâm lý, nguyện vọng thâm thiết của nhân dân lao động chống quý tộc bóc lột và áp bức”

Nhận xét về truyện Trê Cóc được viết:” Trê Cóc là một truyện ngụ ngôn đầu tiên nói đến cảnh chia rẽ ở nông thôn Việt Nam do cường hào, địa chủ, quan lại gây nên. Bọn cường hào địa chủ, quan lại ung dung sống trên sự chia rẽ ấy. Trê Cóc đã vạch cho người ta thấy những sự thật hãi hùng ấy của xã hội Việt Nam dưới thời phong kiến và cả Pháp thuộc nữa”

Nhận xét chung

Huyền thoại, truyện cổ tích, truyện dân gian là nét đặc trưng của bất cứ nền Văn hóa cổ nào.

Nền văn minh Hy Lạp cũng như nền văn minh Ai Cập được coi là cao nhất trong số các nền văn minh của thế giới. Nhưng văn minh Hy Lạp lại được coi là cái nôi của Huyền thoại. Từ Hy Lạp chạy sang Ai Cập trong đó bao gồm Mésopotamie cổ đại với các nền văn Minh sáng chói nhất với các đế quốc Assyrie và Babylonne chạy sang Précolombiens hay vùng rừng rậm nguyên sơ Amazon.

Ở đâu cũng có mặt của huyền thoại tropng nếp sống cổ xưa.

Có thể nói, huyền thoại là là nếp sống, nếp nghĩ, nếp sinh hoạt của con người thời cổ.

Huyền thoại là hơi thở của đời sống con người cổ xưa.

Những huyền thoại đó đã được tích lũy, cải biên, kể lại, truyền đạt hết thế thế hệ này sang thế hệ kia từ vài trăm năm trước niên lịch. Những câu truyện huyền thoại cũng như các câu truyện cổ tích lâu đời nhất được ghi nhận từ 900 năm đến 800 năm trước thiên niên kỷ.

Và hằng ngàn năm như thế, con người ta không phải chỉ nghe kể về những huyền thoại mà sống huyền thoại. Huyền thoại là chính họ, là đời sống và ý nghĩa đời sống của họ, trong đó quá khứ hiện tại trộn vào nhau là một. Tất cả những câu truyện huyền thoại hoặc truyện dân gian đó nhằm giải thích cắt nghĩa về sự sáng tạo ra thế giới này, về các thần thánh ngự trị, về linh hồn hoặc về những biểu hiện thiên nhiên trong trời đất như nắng, mưa gió bão hay nguồn gốc vật tổ và nhất là cái chết và thế giới bên kia.

Như đối với các dân tộc người thiểu số ở Việt Nam. Hầu hết các câu truyện huyền thoại của người Tây nguyên bàng bạc trong đời sống của họ với đủ các loại thần của họ. Những con người Tây nguyên ấy là nhân chứng về quá khứ của con người.

Họ chỉ cho chúng ta biết ngày xưa chúng ta là như thế nào. Từ đêm tối của thời Thái cổ, trải qua hàng ngàn năm, các di vật và di ngôn của tiên tổ thông qua qua các câu truyện huyền thoại đã để lại một gia tài văn hóa của người Việt.

– Di vật thứ nhất, nhờ các khai quật của khoa cổ sử đã lôi ra ánh sáng những di tích vật chất và mở đầu cho các thời kỳ trung thạch Hòa Bình, Bắc Sơn, Sa Huỳnh, rồi kỹ nghệ đồ Đồng Cổ Loa, Đông Sơn. Đất đã ấp ủ, gìn giữ các di tích đó trong nhiều thế kỷ và nay hé lộ trao lại cho chúng ta.

– Di vật thứ hai là từ thuở nào, thuở ngàn xưa, không định được ngày tháng, hay nguồn gốc, các câu truyện huyền thoại hay truyện cổ tích đã được truyền tụng lại trong dân gian như di ngôn văn hóa của các bậc tiên tổ để lại. Như huyền sử đời Hồng Bàng. Các dân tộc như người Mường có Lang Đa Cần, người Thái có Tào Ngân, người Mán có Phù Huy.{xem thêm Tuyết xưa của bác sĩ Trần Ngọc Ninh} Các huyền thoại đó đều muốn nói tới nguồn gốc thủy tổ tộc Việt? Nào đẻ 100 trứng hay từ một trái bầu đẻ ra 100 con người như trong huyền thoại Tây nguyên.

Chúng ta ngày này có nên mất công sưu tầm sử liệu, đào xới, khảo cổ để đi tìm sự thật về nguồn gốc không, sự thật 100 trứng sẽ cho biết được điều gi? Tôi khẳng định là không. Bởi vì người ta sống huyền thoại mà không nhất thiết phải tra hỏi về huyền thoại. Huyền thoại có giá trị tượng trưng, giá trị biểu hiện nằm trong cơ cấu quá khứ- hiện tại- con người vượt ra khỏi nhãn giới lý giải. Cho nên, tôi không thấy là cần thiết phải đi tìm cho bằng được xem truyên Tấm Cám sinh ra ở làng nào, năm nào. Trong Tập san Sử địa, số 39/ tháng tư/ 1958, ý kiến đóng góp cho rằng Tấm Cám sinh ra ở làng Thuận Quang, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc ninh, chính là quê hương của Tấm Cám, ngay cạnh đường số 5. Rồi cách ga Phú Thuỵ chừng 300 thước, còn một ngôi chùa là chùa Bà, thờ Bà Tấm, bà Cám. Dân địa phương còn chỉ cho thấy giếng Bống, nơi Tấm nuôi Bống, nào là ngàn dâu, nơi Tấm hái dâu và gặp vua. Giả thuyết của ông Phong Châu nêu ra còn rất nhiều nghi vấn và hoang đường.

Tìm hiểu làm gì cho hoài công.

Cách duy nhất là chỉ cần biết nội dung câu truyện Tấm Cám mà không cần thiết truy tìm nguồn gốc, một điều không cần làm và không nên làm.

Rất nhiều người đã nghi ngờ, đã tìm cách lý giải huyền thoại theo cách luận lý, khoa học bây giờ và đã không ngần ngại cắt bỏ, gọt rũa lại huyền thoại.

Họ đã thất bại.

Xénophon và Platon đã làm như thế.

Bên Á Châu thì Khổng Tử chỉ chú trọng san định lại Kinh Thi, kinh thư.

Cho nên, cần khẳng định là càng không thể sửa, san định hoặc gán ghép vô bằng các quan điểm chính trị như Mác Xít để lý giải huyền thoại và truyện cổ tích.

Đó là bóp méo và giết chết thần thoại phá hủy “cơ cấu ý nghĩa” của huyền thoại.

Như lm Jacques Dournes viết: “Nếu phải hiểu để mà có thể yêu, thì lại phải yêu để mà có thể hiểu.Yêu và kính trọng nữa. Phải yêu cuộc sống gian khổ và bình dị, phải yêu thiên nhiên tinh khôi và say mê vẻ đẹp của nó, phải yêu cái không khí đầm ấm của căn nhà sàn và hơi nóng tỏa ra từ bếp lửa của nó, phải yêu khu rừng ngo và đêm đầy trăng”… Mà đấy là cả một bài thơ và một cuộc sống, nằm ngoài thời gian, nó không chỉ chăm chăm vào quá khứ… Đêm bên bếp lửa đã tàn. Ai nấy đều im lặng. Câu chuyện của cụ Già làng đã hòa tan vào cái lặng thinh sâu thẳm của đêm .. Trong bếp lửa ủ, ngọn lửa không còn bốc lên, đến lượt khói cũng tan dần và lẫn vào các đồ vật trong căn nhà. Chẳng mấy chốc, bình minh đã dát bạc bầu trời còn mờ tái và khiến các đỉnh núi long lanh ngũ sắc

Một buổi sáng mới đang bắt đầu. Một đoạn trích khác:

Nó là than hồng trong bếp lửa đêm trong căn nhà sàn, đêm hôm trước được cụ Già Làng thổi bùng lên, khi cụ cảm nhận ra cái bình minh mà cụ còn chưa nhìn thấy. Đốm lửa ủ dưới lớp tro tàn của các thế hệ suốt lịch sử sẽ được khêu lên lại để làm hồi sinh một ngọn lửa mới, không chỉ cho thế hệ hệ trẻ “ hiện đại” vốn không biết đến những hiểm nguy của một ngọn lửa quá nóng chói, mà là cho cả căn nhà, vừa vẫn thấm đậm được cái truyền thống xưa cũ vừa cảm nhận ra được cái buổi ban mai mới mẻ này”

{trích lại trong Miền đất huyền ảo, Jacques Dournes, phần Mào đầu, từ trang 11-13}

Ôi đẹp và thơ mộng biết bao những đêm huyền thoại bên bếp lửa tàn !!! Xin một lời cảm tạ J. Dournes.

Người cộng sản đang quét sạch cái bếp lửa tro tàn ấy của những đêm huyền thoại linh thiêng, cao cả và đượm tình con người.

Sau 1954, sinh hoạt văn học miền Bắc đẫm mầu Máx xít. Cái gì cũng mang con dao Mác Xít ra mổ xẻ, pha chế. Vứt bỏ những cái không đáng vứt bỏ, tôn sùng những cái không đáng tôn sùng như lời nhận xét của một Chế Lan Viên.

Truyện Huyền thoại, truyện cổ tích mang tính huyền thoại là những viên đá quý bị vứt bỏ để chỉ giữ lại những hòn sỏi.

Và để đạt được mục tiêu đó, họ đã chẻ sợi tóc làm tư hay nói như nhà văn Nguyễn Bất Tuân {tức Nguyễn Tuân}, trích lại trong Văn nghệ sĩ miền Bắc như tôi biết của nhà văn Xuân Vũ, cụ Nguyễn viết:” Thật là kỳ quặc, người ta sợ hãi những cái không đáng sợ, cấm những cái không đáng cấm, người ta dùng kính hiển vi đi tìm vi trùng chống đối”.

Thật mỉa mai và tội nghiệp thay. Một Trần Đức Thảo mà cũng phải uốn lưỡi không ngượng miệng gọi theo Trần Thanh Mại là “Em Bờm”. Trần Đức Thảo viết trong bài nhận định Thằng Bờm của ông như sau:” Cuộc giằng co quyết liệt giữa hai bên lại được biểu diễn một cách kín đáo, nhưng chính xác trong những câu có đi có lại giữa “Em Bờm” và “tên” phú ông”.

Còn đâu một Trần Đức Thảo xuất chúng đã một thời tranh luận tay đôi với J. P Sartre trong 5 buổi tranh biện tại Paris thuở nào.

Không gọi theo như thế là không được, là khinh miệt giới nông dân.

Tôi nghĩ rằng, để nắm bắt và hiểu được Huyền thoại và các câu truyện nêu trên cần được nhìn lại dựa trên những căn bản kiến thức về huyền thoại học { Mythologie} hay về Nhân Chủng học {Anthropologie).

Thật vậy, trong Nhiệt đới buồn hoang {Tristes tropiques}của Claude Lévy-Strauss sẽ cho thấy rằng người tiền sử, người cổ sơ, họ cũng có hệ thống giá trị, hệ thống tư tưởng của riêng họ.
Đó là thứ cơ cấu huyền thoại mà ông gọi đó là thứ tư tưởng Hoang dã {Pensées sauvages}. Thứ tư tưởng hoang dã này tạo thành nếp sống, nếp nghĩ, nếp sinh hoạt của người thô sơ. Tự nó các tư tưởng hoang dã có giá trị cho chính nó. Nó được nhìn nhận bởi người thô sơ mà không đặt vấn đề đúng hay sai, hơn hay kém so với tư tưởng của xã hội văn minh. Đọc truyện cổ, đọc huyền thoại là để chia xẻ, đẵm mình vào không khí huyền thoại chứ không phải để tìm cách giải hoặc huyền thoại {Démystification} hay diễn giải huyền thoại, nhất là không “pha chè” dạy đời.

Càng không bao giờ cho phép bất cứ ai mang Ông Mác vào để cắt nghĩa huyền thoại.

Thật vậy, chỉ cần đọc bài Tấm Cám có thật ở Việt Nam hay không? Tôi nghĩ rằng, họ đã sa lầy không tìm được phương hướng khi tìm hiểu huyền thoại cổ.

Cũng sa lầy và thô thiển như thế khi đọc bài viết: Thử tìm tài liệu Việt Nam trong ngữ ngôn. Trong đó, tác giả bài viết có đề cập đến tín ngưỡng phồn thực hay tục thờ Sinh thực khí {Culte de Linga}, một thứ tin tưởng rất dân gian thịnh hành ở Ấn Độ, Trung Quốc, người Chàm và người Việt Nam. Phía người Trung Quốc cho thấy trong 8 quẻ của kinh Dịch, có quẻ hào dương (-) chỉ sinh thực khí đàn ông và Hào âm(- -) chỉ sinh thực khí đàn bà.

Lẽ âm dương là thế, trật tự điều hoà là thế.

Cũng vậy, nếu ai có dịp vào ghé thăm Musée Chàm ở Đà Nẵng sẽ thấy người Chàm có nhiều pho tượng đá có hình giống như cái thuyền tán đặt ngửa {chỉ cái của đàn bà} và ở trên là một cái chày{chỉ con của đàn ông}.

Có gì là lạ ở những hình tượng đó không?

Ở ngoài Bắc, có làng Khúc Lạc, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ, có lễ vào ngày 26 tháng giêng, người ta đẽo 36 cái hình sinh thực khi, một nửa, 18 cái là đàn ông, một nửa là đàn bà.

Vậy mà tác giả bài đã viết như sau:” Ở xứ ta cũng có tục thờ sinh thực khí. Cái tục dã man của chúng ta từ đời xưa ấy chẳng những chỉ rớt lại trong ngữ ngôn mà nó còn biểu hiện ra thực sự đến trước Cách mạng tháng 8 không lâu mấy”. Vậy là nhờ cách mạng tháng 8, tục lệ dã man ấy mới bị dẹp bỏ. Thật ra, nó chẳng có gì là dã man cả, nó chỉ thể hiện ước muốn sinh con đẻ cháu cho đầy nhà. Chẳng những không dã man mà còn rất lành mạnh, tốt đẹp nữa.

Về vấn đề chiếm hữu nô lệ.

Trong việc lý giải các câu truyện huyền thoại, các tác giả ngoài Bắc thập niên 1950 thường có thói quen định chế hóa là ở Việt Nam thực sự có chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến và cuối cùng có cuộc tranh đấu giai cấp giữa nông dân và địa chủ?

Để giải thích sự tiến hóa của lịch sử loài người nói chung và VN nói riêng, người cộng sản đã máy móc áp dụng các thời kỳ xã hội công xã, từ tiền nô lệ, rồi nô lệ chuyển sang chế độ phong kiến. Nhưng câu hỏi đặt ra là có thời kỳ nô lệ ở Việt Nam giống như trong các xã hội cổ Hy Lạp, La Mã hay không?

Câu trả lời rõ rệt là hiện nay không có bất cứ tài liệu nào nói về vấn đề này. Trước đây, ông Đào Duy Anh, trong bài viết: Có thời kỳ chế độ nô lệ trong lịch sử Việt Nam không? Dựa trên mối quan hệ về ruộng đất của xã hội người Mường, ông chứng minh rằng có thể có, cũng có thể không có chế độ nô lệ ở Việt Nam. Ông Nguyễn Đổng Chi ngược lại qua bài viết: Truyện thần thoại Mường có thể chứng minh sự tồn tại chế độ chiếm hữu nô lệ trong lịch sử Việt Nam hay không? dựa trên một tác giả Trung Quốc, ông Đồng Thư Nghiệp, để cho rằng trong lịch sử Việt Nam đã có thời kỳ chiếm hữu nô lệ.

Cuộc tranh cãi chấm dứt ở đó và không đi đến đâu, vì chẳng có bất cứ điểm tựa lịch sử nào để bấu víu vào. Nhưng xem ra, người ta vẫn mặc thị là có chế độ ấy cho phù hợp với cắt nghĩa của người Mác Xít cho rằng các xã hội đi từ chế độ thị tộc, tiến sang nô lệ rồi phong kiến.

Theo tôi, ở Việt Nam cùng lắm có chế độ nô lệ gia trưởng. Có nghĩa là có một người đứng đầu một thị tộc, một “Già làng” theo “tinh thần Hộ “của một đại gia đình. Đại gia đình đó đôi khi mở rộng đến tất cả người trong làng. và những thành viên khác trong thị tộc hay trong làng ấy làm việc cho người đứng đầu. Trong đó, mối tương quan giữa họ có thể là tương quan huyết thống, dòng họ, thân tình, có kính nể hoặc tương quan người nhà có trên có dưới mà không phải tương quan bóc lột, khai thác. Trong mối tương quan đó, người ta làm việc là làm cho nhu cầu gia đình, cho gia tộc mà không phải để sản xuất thặng dư để buôn bán. Vì thế, số lượng người làm nô lệ còn rất ít và hiếm hoi.

Hơn nữa, chưa có buôn bán phát đạt,{thời còn nhỏ, tôi còn thấy các phiên chợ nhằm mục đích trao đổi là chính}chế độ tư hữu tài sản còn yếu mọi sinh hoạt đều đượm tính tôn giáo, ngành nghề chưa phát đạt {Nơi các dân tộc Tây nguyên, một ngưòi thợ rèn chế ra được các vật dụng bằng sắt được coi là người anh hùng khai sáng {Xem them Miền đất huyền ảo của Jacques Dournes}

Các sắc dân Thượng, người Tây nguyên ở Việt Nam như người Bahnar, Rongao, Sêđăng, Giarai, Eđê, hay Noang khi một người thiếu nợ, khi phạm một lỗi lầm, khi đánh nhau bị thua có thể bị bắt làm “ nô lệ”. Nhưng ai cũng thích tự do nên trả hết nợ thì được tha, không còn bị bắt làm nô lệ nữa.

Nhiều khi, vị đứng đầu ấy cai quản” nô lệ” mang tính chất quyền uy tôn giáo hay luân lý hoặc tinh thần hơn là quan hệ kinh tế như trong các xã hội có chế độ nô lệ thực sự La Mã, Ai Cập vv…

Các gia đình Việt nam nghèo đói thường cũng phải mang bán con cho các gia đình giàu có. Như thế có thể hiểu là có chế độ nô lệ không?

Cũng không nữa. Nếp sống khó nghèo, nhưng sự sống thì chất phác, đơn thuần, mộc mạc, thô ráp gần bản năng sinh tồn không cho phép người ta nghĩ đến một ý thức về bóc lột giữa chủ và “nô lệ”. Thằng Bờm là thằng Bờm sống gần bản năng sinh tồn hơn bất cứ thứ gì khác. Những điều gán ghép cho Bờm như ý thức về giai cấp, ý thức về bóc lột là những giải thích vô bằng.

Tương quan giữa họ với nhau vẫn là tương quan ân huệ, biết ơn giữa kẻ thi ơn và người được thi ơn. Sự nghèo đói đến cùng cực, sự thiếu học thức, xã hội nông nghiệp trong tình trạng sản xuất thô thiển không cho phép người ta nghĩ xa hơn cái bụng đói, nói chi nghĩ đến truyện bóc lột. Trong Ba người khác của nhà văn Tô Hoài, ông nói đến cái cảnh:” Ngoài chợ tỉnh cũng bày bán trẻ con nhan nhản như bán chó. Tôi dự một cuộc đấu địa chủ. Có người rễ {để chỉ bần cố nông coi như rễ chính trong việc cải cách ruộng đất} bị đói đã lâu quá, đúng lảo đảo, hét một tiếng rồi lăn ra chết” { trích Ba người khác, Tô Hoài trang 30}

Cho nên, dùng học thuyết Mác để cưỡng ép cho rằng ở VN có chế độ nô lệ là thiếu kiến thức văn hóa, hồ đồ và nông cạn.

Chế độ phong kiến

Đây cũng là cái đích nhắm của người cộng sản mà tôi có cảm tưởng bất cứ cái gì không phải cộng sản thì là phong kiến. Phong kiến trở thành một danh từ “ khung“ trong xã hội để chỉ thị cái gì xấu xa, độc ác, bóc lột, gian xảo, giàu có, nịnh bợ, hách dịch, ra oai, bắt nạt, dâm loạn, vô luân vv..

Chế độ phong kiến là một thứ ngôn ngữ khẩu hiệu bao gồm tất cả tính chất lạc hậu xấu xa vừa kể trên.

Như trong bài viết : Truyện Thạch Sanh, Trương Tửu viết: Dưới hình thái thần thoại, nó đã phản ảnh được khá chân thực và sâu sắc nhiều nét sinh hoạt cốt yếu của xã hội phong kiến. Đây là quá trình đấu tranh không ngừng của hai lực lượng xã hội đối kháng nhau: quý tộc và bình dân..
. Chúng ta kết luận rằng: Truyện Thạch Sanh là tiếng nói của nhân dân lao động Việt Nam thời phong kiến…
(Còn tiếp)

Advertisements

Hãy ghi ý kiến, thắc mắc của bạn vào đây:

Trage deine Daten unten ein oder klicke ein Icon um dich einzuloggen:

WordPress.com-Logo

Du kommentierst mit Deinem WordPress.com-Konto. Abmelden / Ändern )

Twitter-Bild

Du kommentierst mit Deinem Twitter-Konto. Abmelden / Ändern )

Facebook-Foto

Du kommentierst mit Deinem Facebook-Konto. Abmelden / Ändern )

Google+ Foto

Du kommentierst mit Deinem Google+-Konto. Abmelden / Ändern )

Verbinde mit %s