Bờm vẫn là .. thằng Bờm(I)

thang bom

Nguyễn Văn Lục

Tôi đã có dịp so sánh và nhận xét hai tập san Sử Địa của hai miền Nam Bắc vào trước 1975.

Bài viết sau đây, xin được nhấn mạnh và nhận xét về các câu truyện huyền thoại, truyện cổ tích của dân tộc VN đã bị các nhà phê bình văn học, các nhà viết sử miền Bắc bôi bác như thế nào?

Hẳn nhiên, bây giờ họ đã đã không nghĩ và viết như thế nữa. Hẳn nhiên, nhiều người cũng không còn muốn nhìn nhận những điều “ tồi tệ” mà họ là tác nhân, đã xảy ra cách đây hơn nửa thế kỷ. Có thể họ đã có cái nhìn khác và không khỏi hối tiếc cho cái thời đen tối của một thòi kỳ văn học đã qua.

Tưởng rằng thời kỳ đen tối ấy sẽ qua đi và không bao giờ trở lại.

Nhưng cho đến bây giờ, cả nước dù có 634 cơ quan báo chí, có 68 đài phát thanh với tổng số 15000 nhà văn, nhà báo.

Nó vẫn chỉ có một tiếng nói duy nhất, một thông tin đồng dạng, đại diện cho 15000 nhà báo. Nói ngoa ngôn, nhưng thực tiễn thì người ta chỉ cần một tờ báo, một bộ biên tập là đủ.

Cho 83 triệu dân.

Và chủ nhân ông là hai người: Ông Đỗ Quý Doãn{ ông ĐQD ngồi được vào chức vụ này đã phải xầy da tróc vẩy do cánh bảo thủ treng đảng đưa vào}, đại diện chính quyền và ông Trương Tấn Sang, đại diện đảng.

Hiện nay, đảng và chính quyền đã đề ra một nguyên tắc bất di bất dịch cho tất cả báo chí: “Báo chí, xuất bản nước ta đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật.

Nguyên tắc này như một cái rọ hay như một cái thòng lọng lúc nào cũng sẵn sàng thắt cổ báo chí.

Nguyên tắc này áp dụng năm 2008 cũng là những nguyên tắc được áp dụng hơn nửa thế kỷ trước.

Chỉ cần nêu ra trường hợp mới đây như tin ông Võ Văn Kiệt từ trần đã 24 giờ, nhưng các báo VN đã im lặng. Ngoài nước, chỉ cần sau 5 phút. Mọi người đều biết tin. Trong nước không ai biết.

Chỉ trường hợp báo mạng duy nhất là tờ Vietnamnet đưa tin: Được tin buồn nguyên thủ tướng Võ Văn Kiệt đã từ trần hồi 6 giờ 40 sáng ngày 11/6/2008, Vietnamnet xin trân trọng giới thiệu bài viết. Nhưng chỉ mấy giờ sau, lời loan tin đã trở thành: Vietnamnet xin trân trọng giới thiệu bài viết. Bỏ hẳn đoạn loan tin ông Kiệt từ trần ..

Tình trạng thông tin báo chí của VN là như thế. Nó sẽ tiếc tục như thế mãi bao lâu mà chính quyền cs còn tồn tại.

Như chỉ thị mới đây của ban bí thư trung ương đảng csvn, mang chữ ký của ông Trương Tấn Sang quy định rõ: Tổng biên tập và cơ quan chủ quản của mỗi tờ báo phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về những bài báo liên quan tới các đề tài “nhạy cảm”. Đề tài nào là nhạy cảm? Và khi gọi là nhạy cảm thì phải viết như thế nào? Phải tự mình kiểm duyệt, tự mình phải cắt bỏ.

Nghĩa là biết làm báo sạch. Thứ báo mà các người làm báo chỉ là chuyên viên chùi đồ đồng hay những đứa trẻ đánh giày có bổn phận đánh bóng đôi giày chế độ. Đất nước hiện nay đang trên đà tụt dốc suy thoái, lạm phát mà lý do chính là tình trạng tham nhũng thất thoát hàng vạn tỷ đồng mà vẫn không thể kiếm ra được một thủ phạm tham nhũng. Cuộc sống vẫn tiếp tục một cách bình thường như không có chuyện gì xảy ra cả.

Đó là bi kịch của Việt Nam hiện nay. Thản nhiên sống, sống bình thường như thể không có chuyện gì xảy ra cả.

Thế cho nên hiện nay, cung cách làm văn học, cung cách phê bình, cung cách thông tin, cung cách viết bài theo chỉ thị đã một thời ngự trị tại miền Bắc trước đây như thế nào, nay nó trở lại nguyên hình.

Thật khổ cho người làm báo VN quá. Bởi vì không có tự do báo chí, không có tự do con người. Nên không có tất cả.

Nhớ lại thời ấy, những Trần Đức Thảo, Nguyễn Đổng Chi, Đào Duy Anh đã phải cúi mình làm tôi tớ cho bọn người không có văn hóa mà trình độ có thể vừa ra khỏi tiểu học, ép mình viết ra những điều đáng nhẽ họ không nên viết.

Vậy mà họ đã phải viết. Trần Thanh Mại yêu cầu gọi Thằng Bờm là em Bờm, Trần Đức Thảo cũng không làm khác được, cũng một điều em Bờm. Nào ai dám gọi khác? Bây giờ, không cần bom đạn hủy diệt của Mỹ, đất nước VN đã bị một bọn người tham lam kéo giật lùi hàng nửa thế kỷ của tiến bộ và phát triển so với bất cứ láng giềng nào của mình. Góc tối văn học với bao nhiêu che khuất phiền lụy đến giờ phút này cũng chưa mở ra hết. Một số nhà văn trước khi chết đã dám viết ra.

Nhưng vẫn chưa đủ. Góc sáng thì chưa thấy đâu. Đốm sáng thì có, vụt lên rồi tắt cứ như người chạy đua yếu sức. Cứ cung mực này, văn học trong nước khó có cơ hội vươn lên cùng người khác.

Không có tự do thì không có sáng tác văn học, cứ tiếp tục chìm đắm trong mê sảng về những hào quang không có thật và bằng lòng tự mãn với những cảm quan thư lại kiểu Hội Nhà Văn, thiếu chất sáng tạo với một thứ ngôn ngữ văn học đã được sàng lọc, được chưng cất kỹ càng.

Nghĩ mà giật mình. Càng nghĩ càng ngao ngán. Đất nước nay do một tập đoàn những người lãnh đạo như một thứ bày kên kên sâu xé xẻ thịt.

Vậy mà xem ra, giai cấp lãnh đạo vẫn chưa chịu mở mắt ra mà nhận ra những sai lầm nghiêm trọng của họ.

Thời nay, nhất là trong giai đoạn hiện nay. Kinh tế đã phát triển, xã hội đã thay đổi. Tình trạng mất tự do trong giới nhà văn, nhà báo xem ra không có mấy thay đổi và không có dấu hiệu cải tiến gì.

Cũng may là hiện nay còn có hệ thống báo điện tử nhờ đó, một số nhà văn, nhà báo trong nước có chỗ xả”xu páp”.

Bài viết này hóa ra vẫn cần thiết như một nhắc nhở. Cần thiết như một cảnh báo.

1.-Tham vọng dùng chủ nghĩa Mác Xít để giải lý lịch sử, văn học

Đây là tham vọng có thật, xảy ra thật. Rất máy móc và rất thô kệch trì độn, ít lắm từ 1955 đến 1975. Là hễ nói đến văn học hay chính trị là phải chèn cho bằng được hai chữ Mác Xít vào. Mác nói thế này, Mác bảo thế kia.

Mác như một thứ bảo kê kiến thức.

Nói theo Mác là đúng. Nói khác là có “vấn đề”.

Rồi dùng mũi nhọn chủ nghĩa Mác đề cắt nghĩa lịch sử. Cắt nghĩa thế nào, ngay cả vo tròn bóp méo cốt làm sao cho đúng khuôn thước của Mác. Đó là một hiện tượng Mác học rất thịnh hành sau 1954. Nhưng đó chỉ là thứ Mác để sơn phết bên ngoài, bên trong rỗng tuếch.

Chẳng hạn trong suốt gần 50 số báo Tập San Sử địa miền Bắc, tôi không thấy một bài nghiên cứu tìm hiểu, phê bình nghiêm chỉnh nào về học thuyết Mác về phương diện lý thuyết, về lịch sử hay về lý thuyết kinh tế của Mác.

Nhưng chỉ thấy người ta trưng dẫn Mác để giải thích truyện này truyện kia một cách tùy tiện.

Lại phải mất bao nhiêu năm tháng chữa căn bệnh Mác học này?

Chế độ miền Bắc cs là chế độ quanh năm ngày tháng lo sửa sai. Nhưng hết sửa sai, rồi lại sai, tiếp tục sai, tiếp tục sửa sai, sửa mãi và cứ thế tiếp tục sai mãi? Sửa sai lả một cách bào chữa, che dấu tội phạm mà không có kẻ tội phạm, không cần pháp luật hay công lý.

Tôi lần đọc lại Nghị quyết của Hội Đồng chính phủ về kết quả sửa sai cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức như sau:” Hội đồng chính phủ trong phiên họp tháng 6-1958 đã nghe Ủy Ban cải cách ruộng đất Trung ương báo cáo về việc căn bản hoàn thành công tác sửa chữa sai lầm trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức.

Hội đồng chính phủ đã nhận định rằng:

Hiện nay công tác sửa sai đã căn bản hoàn thành và có kết quả tốt, căn bản đạt yêu cầu. Kết quả tốt của công tác sửa sai có tác dụng xác định và củng cố thắng lợi của cải cách ruộng đất. Những xích mích tạm thởi trong nội bộ nhân dân đã được giải quyết một cách thỏa đáng. Tình hình nông thôn đến nay căn bản đã được ổn định”.

Đọc đọan văn trên cho thấy chính sách cải cách ruộng đất có sai lầm. Sai lầm thế nào không ai biết và cũng không có một ai trách nhiệm về sai lầm ấy.

Đó là chính sách Huề cả làng.

Tham vọng Mác xít hóa về văn học diễn ra như sau:

-Về lịch sử:
Người cộng sản có tham vọng” làm cho mọi người thấy rõ được cái dĩ vãng vẻ vang của dân tộc, giúp cho nhân dân thấy rõ tổ quốc của mình là vĩ đại, dân tộc mình là anh hùng “. Vì thế, họ đã biên soạn: Sơ thảo lịch sử Việt Nam, trọn bộ. Lịch sử 80 năm chống Pháp, Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh, Tìm hiểu lịch sử phát triển xã hội Việt Nam, Tài liệu tham khảo về Cách mạng cận đại Việt Nam, 12 quyển, Cách mạng Tây Sơn.. Kể như họ đã viết lại lịch dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác. Chẳng hạn các cuộc nổi dậy thời phong kiến hay thời thực dân đều gài đặt giới nông dân là nguyên nhân khởi phát và chủ động như các bài viết: Phong trào nông dân hay phong trào dân tộc, Lịch sử Thủ đô và lịch sử dân tộc.

Trong bài Lịch sử Thủ đô kết thúc cuối cùng của bài viết là: Ngày 19-8-1945, giữa nhà Hát Lớn Hà Nội, trung tâm của thủ đô yêu quý, dựng lên lá cờ đỏ sao vàng năm cánh ghi ngày độc lập đầu tiên của đất nước sau ngót 100 năm bị thực dân Pháp đô hộ.. Thủ đô tưng bừng trong rừng cờ đỏ sao vàng thì giặc Pháp gây sự ngày 19-12-1946. Lịch sử đã bị bóp méo..

{Trích thư của Ban nghiên cứu Văn Sử điạ Việt Nam ở Hà Nội, ngày 25 tháng 7 năm 1958, Tập san Sử địa số 48- tháng 8-1958}.

Về Văn học cổ:
Có Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, quyển 1 và 2. Tục ngữ và dân ca Việt Nam, quyển 1 và 2, Lược khảo về thần thoại Việt Nam, Truyện cổ Việt Nam, Văn học trào phúng Việt Nam, Truyện tiếu lâm Việt Nam, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Nguyễn Trãi Quốc âm thi tập, Khảo luận về truyện Thạch Sanh. Cạnh đó còn không biết bao nhiêu bài viết tham luận chung quanh các giá trị văn chưong cũ như các bài của Trần Thanh Mại: Bài giảng ca dao cổ kéo theo các cuộc tranh luận chung quanh truyện Thằng Bờm, truyện Trê Cóc, truyện Thạch Sanh, truyện Tấm Cám, truyện Chử Đổng Tử, truyện Lục súc tranh công, truyện Trạng Quỳnhvv..

Bên cạnh đó còn có những bài viết liên quan đến Truyện Kiều của Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm, Trần Tế Xương vv.. Chẳng hạn bài: Đoàn Thị Điểm với chinh phụ ngâm hay là tác phẩm văn học chống chiến tranh của Văn Tân {Tập san Sử Điạ số 19}.

Ngoài ra Họ còn lên án những tác giả có tư tưởng hữu khuynh như Trương Tửu, Phan Khôi, Trần Trọng Kim, Trần Đức Thảo vv..

Tất cả các loạt bài phê bình trên đều dựa trên quan điểm Mác Xít như Văn Tân viết:” Ở đây cũng như ở nhiều chỗ khác, bao giờ chúng tôi cũng coi công tác vận dụng quan điểm, phương pháp chủ nghĩa Mác vào việc nghiên cứu và biên soạn lịch sử văn học là một công tác khó khăn và phiền phức…Những luận điểm phản động, xuyên tạc chủ nghĩa Mác-Lê Nin cuả Trương Tửu trong Mấy vấn đề Văn học sử Việt Nam chỉ mới là những luận điệu phản động lộ liễu nhất ở phần ấy.Tư tưởng phản động của Trương Tửu cũng biểu hiện trắng trợn hơn ở phần thứ hai quyển Mấy vấn đề ăn học sử Việt Nam.{ trích Văn Tân, Tập san sử điạ, tháng 9-1958}

Việc phê bình các nhân vật lịch sử hay các sự kiện lịch sử, người cộng sản có thói quen sai lầm là tách rời sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử và cả người viết sử ra khỏi hoàn cảnh lịch sử. Thậm chí còn đưa ra những tiêu chuẩn quá cao về sự hy sinh, về lòng yêu nước của nhân vật lịch sử.

Chẳng hạn phê phán Phan Thanh Giản đầu hàng Pháp, họ cho Phan Thanh Giản là một người yếu hèn, biểu tượng của giai cấp phong kiến, vua quan triều đình. Mà không xét đến điều kiện lịch sử khách quan của thời kỳ đó.

Thời đại nào thì đẻ ra nhân vật lịch sử thời đó.

Một thời đại lịch sử do những điều kiện khách quan chi phối chỉ có thể đẻ ra những nhân vật lịch sử nhất định, biểu tượng cho thời kỳ đó. Như Lỗ Tấn viết:” Sinh ra ở thời này mà muốn viết tác phẩm cho thời sau, con người như thế chỉ tạo ra cho mình một ảo ảnh không thể thực hiện được trong thế giới hiện tại”

Cho nên, không thể đem tiêu chí, con mắt của người bây giờ để suy đoán truyện đời trước một cách áp đặt được. Nhận xét về sự thắng bại của Quang Trung, họ dễ dàng suy diễn rằng do các phong trào nông dân nổi dạy đã góp phần trực tiếp vào cuộc chiến thắng Đống Đa của người anh hùng áo vải.

Cứ như thế mà họ viết lịch sử. Cứ như thế mà lịch sử bị bóp méo, xuyên tạc.

Cứ như thế mà dùng văn hóa như một công cụ cho một chính quyền, cho một thể chính trị. Tình trạng văn học như thế chẳng khác gì một canh bạc văn học, chơi xong rồi dẹp bỏ, bày canh khác. Canh bạc ấy vẫn đang tiếp diễn và còn tiếp diễn mãi…

2.- Tham vọng giải thích Huyền thoại, truyện cổ tích dưới lăng kính chủ nghĩa Mác.

– Bài viết cuả cụ Nguyễn Đổng Chi: cụ Nguyễn Đổng Chi, một người viết rất có thẩm quyền về lãnh vực truyện cổ tích và huyền thoại. Nhưng qua bài: Ý nghĩa truyện Chử Đổng Tử. Cách viết của cụ đã khác.Thiếu khách quan vì viết về hùa. Xin tóm tắt câu truyện Chử Đổng Tử. Truyện này được trích dẫn trong sách Lĩnh Nam trích quái với đề mục Đầm một đêm, {nhất dạ trạch} do Trần Thế Pháp sưu tập, ông sống vào khoảng cuối đời Trần}. Cũng như đa số các truyện truyền kỳ khác, truyện này truyền lại từ thời cổ, không tránh khỏi bị nhiều lớp bụi thời gian phủ lấp, che mờ thực tại nội dung của truyện lúc ban đầu. Nó được truyền thừa kể lại, thêm bớt, gia giảm tùy thuộc người kể truyện. Chỉ biết rằng câu truyện xoay quanh công chúa Tiên Dung, con gái vua Hùng Vương thứ ba. Ở làng Chử Xá, có người tên Chử Đổng Tử, con Chử Cù Vân. Nhà bị một trận cháy mất sạch, hai cha con phải chung nhau một cái khố. Khi cha chết muốn nhường lại cái khố cho con. Chử Đổng Tử không chịu không nỡ để cha chết chuồng, dùng chiếc khố độc nhất đó liệm cha lại đề mà chôn. Ngày ngày đi bắt cá, ngâm mình dưới nước nửa người để bán cá hoặc xin ăn. Kịp khi công chúa Tiên Dung đi qua. Chử Đồng Tử sợ hãi chui vào bụi rậm, lấy cát mà phủ lên người. Công Chúa Tiên Dung lại muốn tắm nên sai người quây màn ngay chỗ bụi lau có Chử Đồng Tử. Khi công chúa dội nước, cát trôi đi để lộ thân hình trần truồng của Chử Đồng Tử. Công Chúa ngạc nhiên, hỏi cớ sự, hồi lâu mới rõ và bảo: Tôi vốn có ý định không lấy chồng, nay bỗng nhiên gặp anh như thế này, chắc có trời xui khiến, bèn cho áo quần và tính làm vợ chồng. Vua Hùng nghe tin nổi giận nói với mọi người rằng: con gái ta không kể danh tiết, hạ giá với kẻ nghèo hèn, còn mặt mũi nào trông thấy ta nữa. Từ nay mặc kệ nó muốn đi đâu thì đi, không cho về cung. Tiên Dung không dám về cung bèn cùng chồng mở chợ sinh nhai về buôn bán.

Câu truyện kể là đẹp, lãng mạn và không thiếu tính cách nhân bản.

Đọc truyện này nhắc nhớ tới truyện Trương Chi. Nó bày ra nghịch cảnh, trớ chêu, khúc mắc mà thực tế trên đời vị tất đã là có thật.

Dù khúc mắc, nhưng nó lại đơn thuần, tự nhiên và rất người. Nhưng dưới mắt của cụ Nguyễn Đổng Chi thì đây là: sự xung đột giữa tình yêu và quan hệ giai cấp, của hai giai cấp cực đoan. Lý giải đi xa hơn thế nữa: Tình yêu đã thắng quan hệ giai cấp. Thật là một cuộc nổi loạn, một hành động “cách mạng”… Biên giới của giai cấp đã phân định rõ không thể nào vi phạm đuợc. Và cụ Nguyễn Đổng Chi kết luận:“ Truyện Chử Đổng Tử là một công trình sáng tác có giá trị của nhân dân lao động. Nó được tô điểm sửa chữa lần cuối cùng trong giai đoạn xã hội phong kiến. Nó có một giá trị nhân đạo sâu sắc: thù ghét lễ giáo đạo đức của giai cấp thống trị xâm phạm đến quyền sống của con người. Và cụ khẳng định: Ý nghĩa của truyện Chử Đổng Tử là tình yêu đã thắng quan hệ giai cấp. Tháng 10/1956.

Một vài nhận xét;

– Nhận xét thứ nhất: Đây không phải là một sáng tác của một cá nhân nào. Cho dẫu do một cá nhân đi nữa thì truyện đã thay đổi từng thời kỳ, đã được cải biên tùy thuộc vào người kể hơn là người sáng tác ra câu truyện. Cho nên gọi là một công trình sáng tác tác tập thể cũng không hẳn là sai.

Cụ Nguyễn Đổng Chi căn cứ vào nội dung câu truyện giả thiết rằng người sáng tác phải thuộc thành phần nông dân, không thể thuộc giai cấp quý tộc, quyền quý đuợc:” Nó là của nhân dân lao động vì một lẽ rất dễ hiểu là suốt truyện..nó phản kháng chế độ xã hội đã kìm hãm con người.”Đó chỉ là một suy luận giả định, không đủ thuyết phục. Việc sáng tác vì vậy có thể do giới quan quyền, giới quý tộc đã sáng tác. Bằng chứng là Lĩnh Nam trích quái là do một người có tên tuổi, thuộc giới có ăn học, có chức phận là Trần Thế Pháp sưu tập.

– Nhận xét thứ hai là cụ Nguyễn Đổng Chi đã dùng những chữ của thời đại bây giờ như Cách mạng, xung đột giữa quan hệ giai cấp, nhân dân lao động, văn học của quần chúng, giai cấp đối lập để giải thích nội dung truyện. Những thuật ngữ này chỉ có thể hiểu được trong bối cảnh của cuộc cách mạng tháng 10 ở Nga Sô mà thôi. Đưa nó ra khỏi bối cảnh xã hội ấy, nó không có nghĩa gì nữa. Ý thức về giai cấp và về giai cấp đấu tranh chỉ có thể hiểu được trong một xã hội phát triển về kinh tế, về kỹ nghệ từ thế kỷ 19 và không thể áp đặt xa hơn nữa.

– Nhận xét thứ ba là cần căn cứ vào chính nội dung, căn cứ vào lời nói của công chúa Tiên Dung để hiểu câu truyện như thế nào? Việc găp gỡ Chử Đổng Tử trong một hoàn cảnh éo le được công chúa chấp nhận dễ dàng chỉ vì:” Nay bỗng nhiên gặp anh thế này, chắc có Trời xui khiến. Anh hãy dậy tắm rửa đi “. Chử Đổng Tử sợ, từ chối thì công chúa nói:’ Đây là do Trời tác hợp sao anh lại từ chối? Và rồi hôn lễ cừ hành ngay trên sông. Đã do Trời xui khiến thì còn e ngại gì đến phân biệt giàu nghèo, truyện danh tiết, truyện tiếng tăm, truyện lễ nghi phép tắc rườm rà hay lời thị phi của người đời. Câu truyện tưởng chừng như khó gỡ, khó giải quyết, nhưng nay đã vịn vào lý do Trời định thì mọi chuyện được hoá giải.

Và đó chính là tâm thức người xưa cũng như lối hành xử, tin vào Trời của họ. Khi bị vua cha vây hãm, công chúa cũng chỉ có một lối hành xử duy nhất là tin vào Trời. Công chúa nói: Tất cả mọi việc đều do Trời chứ không phải ta. Ta đâu dám cự lại phụ vương. Sống và chết đều nhờ Trời. Ta có bị phụ vương giết cũng không oán hận.

Chủ nghĩa Mác Xít xuất hiện chưa đầy một thế kỷ, đem chủ nghĩa ấy nhằm giải thích truyện đời xưa là một cưỡng đạt thô bạo khó chấp nhận được.

Câu chuyện thằng Bờm

Không hiểu sao, câu truyện thằng Bờm trở thành câu truyện tranh luận sôi nổ, ngay cả triết gia Trần Đức Thảo cũng nhập cuộc.

Bài phê bình câu truyệnThằng Bờm do Trần Thanh Mại khai pháo trong một bài viết: Giảng văn về ca dao cổ của nông dân tranh đấu, trong đó Trần Thanh Mại phân tích ba bài: Con mèo mà trèo cây cau, Thằng Bờm và Mười cái trứng. Riêng bài Thằng Bờm gây được một dư luận khá sôi nổi. Nhưng trước hết xin đăng lại toàn bộ bài thơ Thằng Bờm cho tiện theo dõi.

Thằng Bờm

Thằng Bờm có cái quạt mo,

Phú ông xin đổi ba bò, chín trâu.

Bờm rằng, bờm chẳng lấy trâu,

Phú ông xin đổi ao sâu cá mè.

Bờm rằng bờm chẳng lấy mè,

Phú ông xin đổi một bè gỗ lim,

Bờm rằng bờm chẳng lấy lim,

Phú ông xin đổi con chim đồi mồi.

Bờm rằng bờm chẳng lấy mồi,

Phú ông, xin đổi hòn xôi, Bờm cười.

Bài thơ dễ hiểu và đơn giản chỉ có thế. Mục đích có thể chỉ để cười. Kể từ lúc có câu truyện Bờm, dân gian thêm một câu truyện cười, câu truyện giải trí. Nhưng dưới mắt ông Trần Thanh Mại, bài thơ đã trở thành:” Một bài thơ tiêu biểu cho tinh thần nông dân đấu tranh chống phong kiến, địa chủ áp bức, bóc lột, biểu lộ rõ rệt lòng tin tưởng của giai cấp ở một thắng lợi hoàn toàn. Vì tên “địa chủ” phú ông đã thất bại trong âm mưu lừa bịp Bờm bằng nhũng lời hứa hẹn mơ hồ: ba bò chín trâu, ao sâu cá mè, một bè gỗ lim, con chim đồi mồi. Và sau cùng nó đã phải ngã gục, quỳ gối đầu hàng, tức là đưa hòn xôi thiết thực để lấy cái quạt mo. Nó còn biểu lộ rõ rệt ý thức của giai cấp bần cố nông về trí tuệ của mình, lực lượng của mình, lòng tin tưởng của giai cấp ở một thắng lợi hoàn toàn, thế nào cũng đến thắng lợi trong cuộc đấu tranh lâu dài, đánh đổ uy thế của địa chủ cường hào gian ác để tự mình giành nắm lấy ưu thế chính trị và kinh tế trong một xã hội công bằng, hợp lý hơn.

Xin trích đoạn tiếp sau đây về nhân cách, hình dạng Bờm và xin cố giữ nghiêm chỉnh.

Đừng cười. Nay ông đề nghị để trân trọng Bờm, không được gọi là thằng Bờm. Vì chỉ bọn địa chủ mới gọi nông dân là thằng mà phải gọi là anh Bờm, chú Bờm hay “Em” Bờm. Ông tán rộng thêm về cái bề ngoài của Bờm. Bờm là một em bé cố nông, 10, 12 tuổi, có một chòm tóc đặc biệt, “bất khuất” trên đầu, vòng lên như cái bờm ngựa. Theo ông, cái tên này, riêng nó đã bao hàm cả giai cấp tính ở trong: bình dị, thực tế.

Và ông Trần Thanh Mại đánh giá bài Thằng Bờm là:

” Một bài thơ kiệt tác của nông dân lao động, một hòn ngọc đẹp nhất, sang nhất của chuỗi ngọc thi ca Việt Nam. Nó là một quốc tuý văn chương.”

Lời nhận xét của ông Trần Thanh Mại thật là cường điệu.

Bao nhiêu chữ, bao nhiêu ngôn từ xa hoa vô nghĩa. Chỗ nào là đấu tranh lâu dài, chỗ nào là địa chủ bóc lột, chỗ nào là cường hào gian ác? Nó không còn là một bài phê bình văn học. Nhưng là một bản án địa chủ, phong kiến như trong thời kỳ cải cách ruộng đất. Nó toát ra ra một không khí đấu tranh một mất một còn giữa địa chủ và giai cấp nông dân qua nhân vật Thằng Bờm.

Câu truyện huyền thoại về Thằng Bờm đang tự nhiên, đang dí dỏm, đang vô tư của một đứa trẻ con biến thành câu truyện người anh hùng đấu tranh giai cấp.

Thằng Bờm bỗng chốc trở thành em Bờm ngọt xớt.

Tự nhiên mất vui, mất hết ý nghĩa.

Advertisements