Duyên Anh ( II)

Dấu Móng Chim Hồng ( II )

 

image002

Duyên Anh (19351997) là nhà văn, nhà báo, nhà thơ hoạt động ở Miền Nam Việt Nam trước năm 1975 và ở hải ngoại sau năm 1981.

Duyên Anh tên thật là Vũ Mộng Long, những bút hiệu khác của ông là Thương Sinh, Mõ Báo, Thập Nguyên, Vạn Tóc Mai, Lệnh Hồ Xung, Thái Anh, Nã Cẩu, Bếp Nhỏ, Bếp Phụ và Độc Ngữ. Ông sinh ngày 16 tháng 8 năm 1935 tại làng Tường An, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Ông học tiểu họctrung học ở Thái Bình và Hà Nội.

Năm 1954, ông di cư vào Nam và từng làm đủ nghề: bán thuốc sơn đông mãi võ, theo đoàn cải lương lưu diễn, quảng cáo cho gánh xiếc rong, giữ xe đạp hội chợ, dạy kèm, dạy đàn ghi-ta, dạy sáo.

Năm 1960, được sự nâng đỡ tận tình của nhà văn Nguyễn Mạnh Côn, Duyên Anh bắt đầu sự nghiệp văn chương và nổi tiếng ngay với tác phẩm đầu tay Hoa Thiên Lý. Tiếp theo đó là một loạt tác phẩm tiểu thuyết Thằng Côn, Thằng Vũ, Con Thúy…. viết về những kỷ niệm ấu thơ tại miền quê Bắc Việt, giọng văn tha thiết, nhẹ nhàng và tình cảm.

Sau đó ông trở thành ký giả, chủ bút, chủ báo, giám đốc nhà xuất bản. Duyên Anh đã cộng tác với hầu hết những tờ báo lớn ở miền Nam trước năm 1975 như: Xây Dựng, Sống,Chính Luận, Công Luận, Con Ong, Tuổi Ngọc

Có một dạo, Duyên Anh viết về giới giang hồ, bụi đời trong xã hội trước năm 1975. Trong một số tác phẩm Duyên Anh ca ngợi lối sống phóng khoáng, bất cần đời của giới trẻ bị bế tắc trong xã hội. Tuy nhiên những tác phẩm ấy vẫn thấm đậm một tính cách nghĩa khí và các nhân vật của Duyên Anh đều sẵn sàng chết vì tình nghĩa và chữ tín của mình. Ngoài ra, ông cũng viết nhiều truyện ngắn và truyện dài cho thiếu nhi.

Sau sự kiện 30 tháng 4, 1975, cùng với Doãn Quốc Sĩ, Dương Nghiễm Mậu, Nhã Ca, Phan Nhật Nam, Thanh Tâm Tuyền, Duyên Anh bị VC gọi là một trong 10 nghệ sĩ nêu danh là „Những Tên Biệt Kích của Chủ Nghĩa Thực Dân Mới Trên Mặt Trận Văn Hóa – Tư Tưởng.“ Tất cả những tác phẩm của Duyên Anh đều bị cấm lưu hành.

Ngày 8 tháng 4 năm 1976, Duyên Anh bị bắt đi tù cải tạo trong Chiến dịch bắt văn nghệ sĩ miền Nam (tháng 4, 1976). Ra khỏi trại cải tạo vào tháng 11 năm 1981 ông vượt biên đến Malaysia. Tháng 10 năm 1983 Duyên Anh sang định cư tại Pháp. Một số tác phẩm ông viết ở hải ngoại được dịch ra tiếng nước ngoài và dựng thành phim, như Đồi FanTa, Một Người Nga ở Sài Gòn. Thời gian này, ông có làm thơ và soạn nhạc.

Năm 1985, ông bắt đầu cộng tác với tờ Ngày Nay và trở thành một trong những cây bút trụ cột của báo này.

Ngày 6 tháng 2 năm 1997, Duyên Anh mất vì bệnh xơ gan tại Paris, Pháp.

Gần như có hai con người đối lập trong ông. Một Duyên Anh nhà văn có lối viết nhẹ nhàng, trong sáng, mơ mộng, đầy ấp tình người. Và một Duyên Anh nhà báo ngổ ngáo, tai tiếng, lắm kẻ thù với những bài viết sống sượng và cay độc. Ông được đánh giá là một nhà văn, nhà báo có chỗ đứng cao trong văn học nghệ thuật Việt Nam, sức sáng tạo dồi dào: ông có 34 năm cầm bút với 101 tác phẩm được viết và xuất bản.

Duyên Anh viết trong Lời Tựa Hồi Ký Nhà Tù

Tôi không có ý định viết hồi ký về những năm tù đầy của tôi khi tôi trở lại đời sống bình thường. Con người sinh ra là để chịu đựng mọi hệ lụy. Từ đầu đường oan nghiệt, tôi khởi sự khóc và tôi sẽ gục ngã ở cuối đường oan nghiệt. Từ đấy, theo tôi, là những cái mộ u cao hơn, nhiều chông gai hơn những cái mộ u khác dốc dài sau đó. Vượt qua hay chẳng vượt qua thì rồi cũng chết. Có những cái chết thật vô tích sự và mục rã như có cây tàn tạ. Có những cái chết được phục sinh. Chinh ý nghĩa của sự sống đã phục sinh sự chết. Ý nghĩa ấy nảy mầm trong lòng những cái mộ u cao nhất của sầu đạo và mầm ấy chổi lên mặt đất, chổi lên mãi thành cây nhân sinh xum xuê lá cành xanh mướt, trĩu nặng trái chín vàng mộ bằng sự phấn đấu can đảm của con người vượt qua mộ u. Nhà tù nào cũng chỉ là một xã hội thu hẹp. Nó nhỏ bé nên nó sinh động vô cùng. Nó gần gũi nên nó lột trần muôn mặt. Nó đầy rẫy ti tiện bẩn thỉu. Nó cao thượng và nó thấp hèn. Nó phản phúc đáy tim và nó sắt son đầu lưỡi. Nó đố kỵ ban đêm và nó hòa hoãn ban ngày. Nó anh hùng trong bóng tối và nó khiếp nhược ngoài ánh sáng. Nó tạo dựng ngộ nhận, vu khống, chup mũ và hành hạ lẫn nhau, bởi quan điểm cũ kỹ, bởi lập trường sắt máu, bởi sự ngu xuẩn, bởi máu lãnh tụ và bởi cả một điếu thuốc lào, một cục đường hay một miếng thịt chia chẳng đồng đều! Nhà tù không dạy con người một bài học cao quý nào cả. Con người đã tự học ở sự tủi nhục, ở nơi cay đắng trong nhà tù. Để biết chịu đựng. Để biết coi thường tất cả. Để biết thương xót.

Không ai thích vào tủ, dù chết trong tù sẽ thành liệt sĩ hoặc ra khỏi tù sẽ thành dũng sĩ. Sát nhân cũng sợ tù. Vĩ nhân cũng sợ tù. Đại đức cũng sợ tù. Linh mục cũng sợ tù. Các nhà cách mạng càng sợ tù hơn. Bởi thế, nguc tù không bao giờ là thành tích vĩ đại để khi thoát khỏi nó, người ta vỗ ngực khoe khoang, người ta quảng cáo nó như một món hàng thương mại, người ta xử dụng nó như một phương tiện bước vào chính trường. Như những người thật thà với chính mình, tôi rất sợ tù đầy. Tôi ở lại Việt Nam vì vụng về trong mưu toan chạy trốn. Tôi không bao giờ có ý ở lại để làm chứng nhận lịch sử. Công việc phi thường nầy dành cho người khác. Tôi ở lại và tôi bị bắt bỏ tù. Tôi thành người tù. Khi được thả về, nghĩa là khi biết mình chưa chết, tôi mới dám nghĩ tới những năm tù đầy bất hạnh của tôi là hạnh phúc cho riêng tôi, cho những cuốn tiểu thuyết tôi sẽ viết mai nầy.

Tôi xin nhắc lại: Tôi không có ý định viết hồi ký về những năm tù đầy của tôi khi tôi trở lại đời sống bình thường. Nhưng tại sao tôi lại viết?

Tháng 10 năm 1983, tôi đến Paris như một thuyền nhân buồn.. Nhiều bạn tôi, những người đã cứu tôi thoát khỏi ngục tù cộng sản, hay tin tôi có mặt tại Pháp, tới thăm tôi, chia nỗi vui mừng với tôi. Tất cả các bạn đều hỏi tôi về đề lao Gia Đình, về Sở Công An, về khám Chí Hòa, về các trại tập trung và những hình phạt mà những tù nhân phải chịu đựng năm nầy qua năm khác, và suốt một kiếp người. Họ hỏi tôi về những người trí thức Việt Nam vì đấu tranh cho nhân quyền mà bị tù, lưu đầy, phát vãng. Họ hỏi tôi về những nhà văn, nhà thơ, nhà báo, những tù nhân tư tưởng của thời đại khốn kiếp của chúng ta. Tôi bỗng thấy tôi có bốn phận viết hồi ký. Hồi ký của tôi sẽ không phải chỉ là bản báo cáo những nỗi khổ lê thê và riêng tư trong số phận văn nghệ sĩ, trí thức Quốc Gia VNCH. Cũng không phải là những trang ngục sử ca ngợi các vị anh hùng không bao giờ có trong những nhà tù cộng sản. Tôi có tham vọng, trong hồi ký của tôi, diễn tả cái thủ thuật gian ác và hèn mọn của chủ nghĩa cộng sản là triệt để khai thác sự yếu đuối của con người, đe dọa, khủng bố để con người khiếp nhược, đánh vào dạ dày con người bằng roi gạo để con người thành đê tiện và tạo mâu thuẫn để con người thù hằn con người. Những tù nhân Việt Nam, đã chết, sắp chết hay sẽ chết vẫn tồn tại với định nghĩa làm người rực rỡ. Trong thống khổ và cô đơn.

Hồi ký của tôi gồm 2 cuốn. Cuốn thứ nhất mang tên NHÀ TÙ.

Cuốn thứ hai mang tênTRẠI TẬP TRUNG.

Như đã trình bày, nhà tù là một xã hội thu hẹp, nó gần gũi nên nó tự lột trần muôn mặt.

Tôi có gắng ghi chép thật trung thực cái muôn mặt đỏ của Nhà Tù.

Montreuil, Tháng Giêng, 1984.

Duyên Anh

Yêu thương tặng Nguyễn Ngọc Phương, nhà tôi, người đã tốn nhiều nước mắt nuôi chồng tù

Duyên Anh

CTHĐ: Xin quí vị bạn đọc có ý kiến về Duyên Anh qua những dấu chân chim Duyên Anh để lại trên đây. Tôi viết thêm:

Tổ chức phản gián của Cộng Sản Hà Nội tìm ra mối liên lạc giữa ông Trần Tam Tiệp ở Paris và một số văn nghệ sĩ ở Sài Gòn. Duyên Anh không dính líu gì vào vụ này. Duyên Anh đi chui thoát khỏi Sài Gòn năm 1983. Nếu DA đi không thoát, anh đã bị bắt Tháng 4-1984 cùng với Dương Hùng Cường, Doãn Quốc Sĩ. Ra tòa anh có thể bị tụi CS phang án tù 10 năm khổ sai. Và nếu năm 1984 anh bị án tù 10 năm khổ sai, tai họa anh bị đánh đến liệt nửa người ở Cali năm 1988 đã không xẩy ra.

Duyên Anh không có tội gì trong cái chết trong tù của anh Nguyễn Mạnh Côn. Anh Côn chết ở Trại Tù Khổ Sai Xuyên Mộc vì anh đòi được trả tự do, anh tuyệt thực, bọn Cai Tù giam anh riêng một nơi, chúng không cho anh uống nước.

Duyên Anh là văn nghệ sĩ Việt Nam duy nhất bị người Việt Nam đánh đến bại liệt nửa người. Tai họa đến với Duyên Anh trên đất Hoa Kỳ. Không biết, không tìm ra ai đánh Duyên Anh trên đường phố Cali.

*

Nguyễn Du làm thơ vịnh Văn Thiên Tường, tác giả “ Phi hồng đạp tuyết nê.”

Độ Hoài hữu cảm Văn Thừa Tướng

Sơn hà phong cảnh thượng y nhiên,

Thừa Tướng cô trung vạn cổ truyền.

Nhất độ Hoài Hà phi cố vũ.

Trùng lai Giang Tả hựu hà niên?

Ai trung xúc xứ minh kim thạch.

Oán huyết qui thời hóa đỗ quyên.

Nam Bắc chí kim vô dị tục,

Tịch dương vô hạn vãng lai thuyền.

Dịch nghĩa:

Qua sông Hoài nhớ Văn Thừa Tướng

Quang cảnh núi sông vẫn như xưa.

Lòng cô trung của Thừa Tướng truyền la6i vạn năm.

Qua sông Hoài là không còn đất nước cũ.

Biết bao giờ trở về Giang Tả?

Nỗi thương cảm thốt ra thành thơ như tiếng vàng đá.

Máu oan lúc trở về hóa thành chim đỗ quyên.

Ngày nay phong tục Nam Bắc không còn khác nhau nữa.

Dưới bóng chiều tà, thuyền ngược xuôi tấp nập trên sông.

Hoàng Hải Thủy phóng tác:

Nhớ Văn Thừa Tướng

Núi sông, trời đất vẫn xanh ngời.

Thừa Tướng lòng trung sáng vạn đời.

Giang Tả đi rồi, hồn trở lại.

Sông Hoài qua đó, đất xa khơi.

Ngậm máu bay về, chim gọi nước.

Thơ vàng thương cảm tiếng vang trời.

Nam Bắc bây giờ không khác nữa,

Bóng chiều rơi xuống mũi thuyền người.

Văn Thiên Tường – 1236-1263 – Thừa Tướng triều Tống. Quân Nguyên vào chiếm miền Bắc Trung Hoa, triều đình Tống chạy xuống miền Nam Trung Hoa. Văn Thiên Tường cầm quân chống cự. Ông thua trận, bị quân Nguyên bắt sống. Vua Kim muốn ông đầu hàng, muốn dùng ông, ông không chịu hàng. Bị giam bốn năm ông vẫn không chịu hàng.

Ông bị giết năm ông bốn mươi bẩy tuổi.

*

Ở đời ta nên sống như thế nào?

Nên như chim Hồng đi trên tuyết.

Chim để dấu chân chim trên tuyết.

Chim bay đi không cần biết sang đông hay về tây.

Chiều cuối năm Ta, đầu năm Tây, người viết thấy lạnh và cô đơn.
Lạnh trong không gian, lạnh trong lòng.

Cô đơn trong không gian, cô đơn trong hồn.

Chuyện xưa quá là xưa. Nguyễn Mạnh Côn, Duyên Anh, Trần Tam Tiệp, Dương Hùng Cường

như những cánh chim đã bay đi, chỉ còn những nét chữ của họ để lại trên mặt giấy.

Thơ Văn Thiên Tường;

“ Nhân sinh tự cổ thùy vô tử?

Lưu thử đan tâm chiếu hãn thanh.”

Xưa nay có ai là người không chết?

Hãy để lại tấm lòng son trong sử xanh.

Ta không phải là chim Hồng, ta là chim Sẻ, ta để lại những chữ viết của ta trên trang giấy này.

Cảm khái cách gì!

CÔNG TỬ HÀ ĐÔNG

Advertisements

Hãy ghi ý kiến, thắc mắc của bạn vào đây:

Trage deine Daten unten ein oder klicke ein Icon um dich einzuloggen:

WordPress.com-Logo

Du kommentierst mit Deinem WordPress.com-Konto. Abmelden / Ändern )

Twitter-Bild

Du kommentierst mit Deinem Twitter-Konto. Abmelden / Ändern )

Facebook-Foto

Du kommentierst mit Deinem Facebook-Konto. Abmelden / Ändern )

Google+ Foto

Du kommentierst mit Deinem Google+-Konto. Abmelden / Ändern )

Verbinde mit %s