ĐẤT NƯỚC LÂM NGUY ( II)

II- Đừng ham thân phận chư hầu

A.Tấm gương Tạng Hồi Mông Mãn trong các vùng tự trị Trung cộng

Các cường quốc khi xâm lăng nước nhỏ và nghèo trong thế kỷ 16 đến 20 thường dùng chiêu bài : Mượn đường buôn bán, thám hiểm, đem văn minh văn hoá tiến bộ, phát triển tôn giáo, nhưng mục đích tối hậu chẳng hề khác nhau từ Âu sang Á tới Mỹ [39] : các đế chế xưa Hoà Lan, Tây Ban Nha, Pháp, Anh…

image005

Hình 4 : Bản đồ Tàu đời nhà Qing (Thanh) do Pháp vẽ năm 1735.

cướp tài nguyên, dầu hoả, vị trí chiến lược, hải cảng bán buôn giao dịch. Nhưng hai thế chiến đã xảy ra để họ điều hoà vị thế và chia nhau chiến lợi phẩm trong chừng mực nào đó. Đồng thời những ánh sáng lương tâm và tâm thức, nhân cách con người cũng trưởng thành sửa đổi…

Riêng mưu đồ bành trướng có từ thời…cổ đại của tộc Hán, ở thế kỷ 21, với hành trang chế độ cộng sản, hậu quả của chủ nghĩa tư bản đế quốc, vẫn sống hùng sống mạnh và cũng chẳng đưa ra bài bản gì mới. Giải phóng ra khỏi tay xâm lăng. Mượn đường đánh kẻ thù, giúp đỡ, hứa hẹn mang lại văn minh, cho phép tự do tôn giáo, tôn trọng văn hoá. Ý định tốt đẹp hữu hảo này thật ra cũng bởi tại láng giềng tuy nhu nhược, kém cỏi, nhưng lại có đất rộng, lắm tài nguyên, quặng mỏ, lại thêm dân thưa, không thể tự vệ.

Đó là chính sách nước Tàu tuyên bố và ghi rõ trên giấy trắng mực đen dành cho các vùng tự trị Tibet, Hồi (Tân Cương), Mãn Châu, Mông Cổ và Ninh Hạ mà đa số bị Tàu chính thức hoá ngay sau đệ nhị thế chiến.

Người Tàu áp đặt chánh sách Hán hoá khắt khe trong thời gian đầu tại các nước này, tàn sát tiêu diệt kẻ chống đối, vô hiệu hoá các tiềm lực phản kháng. Dân gốc Hán, đủ loại đủ cỡ tràn ngập đè bẹp dân tộc vùng tự trị . Một số nhỏ dân bản địa được o bế, dụ dỗ, cho hưởng quyền lợi, bổng lộc để tiếp tay người Hán bình định đối kháng, chiếm giữ những địa vị chủ chốt quan trọng về ngoại giao, quân sự, kinh tế, nhưng cho dù địa vị có cao sang quan trọng đến đâu cũng vẫn thua kém dân Tàu gốc Hán một bậc. Kết quả nhãn tiền hiển nhiên là đa số này quên hết cội nguồn, chỉ nói được một thứ tiếng Tàu chính thống vào bốn mươi, năm mươi, sáu mươi năm sau.

Khi Mao, Deng (XiaoPing), Xi (JingPing) giả vờ hay thật sự nới tay (cho thêm quyền tự trị, ngôn ngữ, đi lại…) thì dân Tibet, Tân Cương, Mông Cổ…đã trở thành thiểu sổ trong chính quê hương mình; những thế hệ trẻ được Bắc Kinh nuôi dưỡng giáo dục từ nửa thế kỷ về trước, lần lượt trở lại quê cha đất mẹ (như/với bọn hồng vệ binh Hán và em cháu tương đương) đốt chùa phá tự viện, quên hết văn hoá tiền nhân, quên cả tiếng mẹ, và nhất là vô tôn giáo. Gien Hán được cấy vào cuộc sống và trên giấy tờ cho những dân bị trị này. Để rồi khi nước Tàu lâm chiến với các lân bang mới, tạo biên giới mới, thì chính những công dân hạng hai này sẽ là đội quân tiên phong làm sát thủ, đi làm cả bia thịt, tưởng mình mang sứ mạng bảo vệ quê hương và chủ nghĩa xã hội trong khi tộc Hán được an lành làm rốn vũ trụ, lưu truyền gien Hán, giữ địa vị then chốt, nắm quyền quyết định tối cao trong guồng máy cai trị trung ương lẫn địa phương.

Người Tàu đã hát ru, hứa hẹn cho dân chúng, nhất là người lãnh đạo các nước Tây Tạng (Tibet Hiệp định 17 điểm[40]), Tân Cương, Mãn Châu, Mông Cổ ..trước khi dùng thủ đoạn và bạo lực tiến chiếm các nước này. Với mức độ khó khăn khác nhau, nhưng họ luôn thành công.

Thành công này chỉ có thể trọn vẹn khi họ chiếm cả vùng Đông Nam Á, bắt đầu là Việt Nam (và Lào, Kampuchia). Tiến chiếm cả thế giới, làm chủ trái đất này có lẽ là mục đích tối hậu, khi đó mới đáng gọi là Trung Hoa. Nhưng nghĩ cho cùng, mục đích tối hậu của họ mai kia phải là chiếm cả vũ trụ !

Ngày ký hàng ước mật Thành Đô, các ông lãnh tụ Việt ấy, chưa hình dung được vai trò cửa ngõ Đông Nam Á, chứ nếu không đã dám cả tiếng hơn, xin được làm vạn miles trường thành Đông Hải…Tạng vùng tự trị thứ sáu thuộc …Hán tộc miền nam cho oai.[41] Nhưng thâm tâm họ, phải thấy là sai nên không dám công bố cho nhân dân, hay theo lời cam kết với chủ, giữ bí mật, bỏ lũ ếch vào nồi nước ngọt, chất củi than, đợi đến 2015 khi ông Xi sang châm ngòi, mới nổi lửa ?

Nhưng thử nhìn lại tình trạng kinh tế các nước chư hầu hiện nay nơi các vùng tự (bị) trị của Tàu, thuộc Tàu và các tiểu quốc thuộc Liên Xô cũ, đa số đều nghèo, mức sống thấp, khác xa với trường hợp các nước tự trị trong Khối thịnh vượng chung Vương quốc Anh (commonwealth realm)[42] tuy xưa vốn là thuộc địa nhưng đa số thịnh vượng, tự do, dân chủ như Úc, Gia Nã Đại, Tân Tây Lan…

image006

Nhưng không biết vì muốn thoát nghèo nàn hay vì thèm khát tự do mà ngay khi xã hội chủ nghĩa sụp đổ tại châu Âu, các nước trong khối Liên Xô lập tức tung cánh ra khỏi vòng tay xã nghĩa, xô viết.

Chuyện này không xảy ra cho các nước chư hầu Tàu, có phải vì các thuộc địa cũ hoàn toàn bị đồng hoá, hay vì Tàu dùng bạo lực đè bẹp những cuộc nổi dậy lớn nhỏ đòi lại độc lập. Các cuộc nổi dậy được chính quyền trương ương Tàu gọi là phản động đòi ly khai, tuy xảy ra trong suốt thời gian từ ban đầu đến nay nhưng không nhiều tiếng vang và kết quả ít ỏi. Các nước Tây Tạng, Tân Cương và Mãn Châu, nay chỉ còn là những dân tộc thiểu số, bị Hán hoá, mất cả tiếng nói, quyền tự chủ, chỉ còn là một thứ folklore địa phưong, mỗi năm vài lần, áo mão đẹp đẽ múa men hát hò than van trước ông kính thế giới hay sung sướng cưỡi ngựa tranh cầu. Đa số đều nghèo kém hơn người tộc Hán, đôi chút thay đổi có được cho vùng Tân Cương, ngày nay trở thành vựa rượu[43], Tibet vựa nước, Mông Cổ mỏ vàng mỏ uranium, Ningxia gương mẫu …và trong lãnh vực sông Hoàng Hà trở xuống cực nam, là vùng Bách Việt ngày xưa [44] thì sự đồng hoá đã đến tận xương tuỷ, đa số đều quên ngọn nguồn Bách Việt hay không Hán. Những người dân hạng hai ấy, triền miên bị đè đầu đè cổ, tuy luôn luôn có những cuộc vùng dậy trong suốt quá trình “ tự trị “ này, bởi vì họ góp phần làm giàu cho tộc Hán mà không hề được hưởng, nhưng đồng thời, ý chí tìm lại tự do, tự chủ và bản sắc sẽ lụi tàn biến mất theo thời gian.

Họ là những “gương tày liếp “ cho chúng ta nhìn vào, trước khi mọi sự trở nên muộn màng, xin đừng chờ nước sôi lên mới nhảy, xin hãy lắng nghe lời các bô lão, trí thức, sinh viên, nhà báo…những người hiếm hoi này sẽ cứu nguy dân tộc nếu chúng ta cùng ủng hộ, tiếp tay, đồng lòng tham gia thứ hội nghị Diên Hồng dân dã ngàn năm một thuở để giải cứu đất nước, vì giặc dữ đã vào nhà mà chúng mạnh hơn ta cả trăm, ngàn lần.

image007

Họ là dân Ouighur, Tây Tạng, Choang- Hmong- Mèo…, Mãn Châu, Hồi, Mông Cổ sống ở vùng đất biên thuỳ mới (tân cương) được gọi là tự trị. Người Tàu đặt tên cho các vùng tự trị theo tên các dân tộc thiểu số, trừ vùng người Hồi ở Ninh Hạ.

1) Người Duy Ngô Nhĩ ( Ouïghour/Uyghur ) của vùng Tân Cương (Khu tự trị dân tộc Duy Ngô Nhĩ Tân Cương)

Các hình ảnh thuyền nhân bị đắm tàu được cứu vớt ở Ý hay các di dân nhập lậu qua đường bộ bất chấp hiểm nguy được đưa ra thường xuyên trong thời gian gần đây trên các mạng lưới truyền thông khiến dân Âu Châu xúc động. Các chính phủ trong cộng đồng này phải tìm cách giải quyết khẩn cấp.

Người tỵ nạn chạy trốn đàn áp, chạy trốn chiến tranh chết chóc. Đa số dân chúng, và người trách nhiệm tuần tra biên giới các nước đều thông cảm và nhiều khi phải làm ngơ cho qua, hay ra tay cứu vớt người vượt biên vì họ hiểu được nguồn cội, nguyên nhân của những quyết định vượt biên tưởng như điên rồ này.

Và đa số người Việt chúng ta không khỏi quặn thắt cõi lòng, nhớ lại những chuyến vượt biên gian nan của chính mình hay của người thân, của bạn bè, hàng xóm trong những năm 75, 80, 85, 90.

Từ vài năm gần đây dân Uyghur (Ouïghour/Duy Ngô Nhĩ) được cộng đồng mạng nhắc đến trong tình trạng khốn khó, hiểm nguy mà đất nước gây hoạ cho họ là Tàu: dân Uyghur bị mổ lấy nội tạng, bị truy đuổi, bắt giết ở vùng biên giới các nuớc láng gièng của Tàu như Việt Nam, Thái Lan và cả Cam Bốt nữa. Những hình ảnh đàn bà trẻ con bị truy đuổi này khiến thế giới chấn động, và …rơi vào quên lãng ?

Khi biết người Duy Ngô Nhĩ chính là hậu duệ của Tây Độc Âu Dương Phong, có lẽ các thế hệ sinh ra trong những năm 1980, 1990 mê phim Tàu, phim Đại Hàn, nhất là người thành thị miền Nam (trước 1975) sẽ lưu ý đến số phận của người Duy Ngô Nhĩ. Vâng, chính người Duy Ngô Nhĩ là đồng bào của tác giả thế Hàm Mô Công vô cùng quen thuộc với người xem truyện kiếm hiệp Kim Dung[45]. Trên mạng nhiều blogger phân tích truyện, ý nghĩa và cá tính các tay giang hồ giỏi võ tuyệt vời độc đáo, tung hoành (một thời tại Sài Gòn, Chợ lớn) trong Võ lâm ngũ bá, Anh hùng xạ điêu…. Và « nỗi băn khoăn » của chúng ta bây giờ, giản dị, không mang màu triết lý, khác với Nguyễn Mộng Giác cách đây gần nửa thế kỷ[46], ta chỉ hỏi tại sao những người này mang gia đình con cái, vượt biên Tàu, trốn qua Việt Nam, Thái Lan để bị công an, quân đội Tàu truy nã, bắt bớ, bắn giết ?

Họ là người Hồi nói tiếng Thổ đến từ vùng tự trị Tân Cương trong nước Tàu. Là ngôi sao Hồi trong cách diễn dịch thứ hai về ý nghĩa các sao trên cờ Trung Cộng : Hán (sao to nhất )Tráng Mãn Hồi Tạng là bốn sao nhỏ xung quanh để chỉ 4 vùng tự trị lớn nhất[47]

Từ thời lập quốc ở vùng Tây Vực, nay là Tân Cương, như các tiểu quốc khác, dân Ouighour đã có mối giao hảo sóng gió và an lành với Tàu, xưa kia quê hương họ mang tên Tây vực đô hộ phủ và từ đời Đường An tây đô hộ phủ và Bắc Đình đô hộ phủ : như nước Việt thời xưa, người Ouïghour cũng từng nhận sắc phong của đế quốc Tàu, thời ấy nước Việt đã thuộc Tàu (Bắc thuộc lần thứ 2 : An Nam đô hộ phủ ), cũng như nước Cao Ly (Triều Tiên, Đại Hàn bây giờ) lúc đó là An Đông đô hộ phủ. Nhân đây xin nhắc là trong các nước chư hầu cổ xưa của Tàu chỉ có Đại Hàn sau này dù chia đôi nam bắc, trở thành nước độc lập hùng mạnh, cho nên Xi chưa đòi đứa con (giàu có này) trở về với Hán tộc.

Cho nên lưu ý đến họ thật ra không chỉ vì lý do hời hợt liên quan đến cảm tính như nói trên và cũng không chỉ vì nỗi ngờ vực : có phải họ mang hình ảnh của số phận người Việt trong tương lai -từ sau năm 2020- ? Thật vậy, như người Việt, họ cũng nhiều lần nổi dậy chống Mông Cổ, chống Tàu dành lại độc lập, lần sau cùng chưa xa lắm, khi họ đẩy được người Mông Cổ để rồi rơi vào tay của MaoTrung Cộng.

Thật khó lòng không liên tưởng đến hiệp ước mật Thành Đô với những câu chữ u ám lường gạt đã được nhân dân sửa lại cho đúng hơn[48].

Ai, nhất là người trải qua gian khổ vượt biên hay tị nạn chính trị, khi xem qua các hình ảnh phóng sự, cũng phải chua xót trước cảnh người Ouïghour bị quân Tàu truy nã, rượt đuổi từ đất Tàu qua đến tận đất Việt và bị bắt/ giết trước sự thờ ơ của những người lính Việt gác biên giới. Người lính Việt vùng này không biết hay đã quên rằng có một thời một số đồng bào cha anh hắn đã bỏ nước, vượt biên, bị truy nã. Như trước đó lính gác Việt đã vô cảm và bất lực trước cảnh du khách Tàu tự do tràn qua đất Việt, ngạo mạn cười giỡn chụp hình, làm selfie nơi các cột mốc mới?

Người Ouïghour đi trốn với từng nhóm phụ nữ, trẻ con, ai nấy mặt mày tốt đẹp phương phi, trẻ con bụ bẫm. Điều đó muốn nói họ đi trốn khỏi nước Tàu không vì lý do kinh tế, họ chỉ giống Tây Độc, chủ nhân xấu xí tàn ác của món võ ghê gớm Hàm Mô Công ở chỗ khăn quấn đầu tóc của người Hồi giáo, và vô cùng giống mọi con người ở một chỗ khác là tình gia đình. Âu Dương Phong nhớ thương vợ, ôm đàn luyện khúc Lục chỉ và ngày nay ta biết thêm da họ không đen đúa như Kim Dung đã tả. Có thể trắng thêm ra, phương phi ra vì đã qua gần 1 thế kỷ bị Hán hoá ?

Họ là những người Tàu trên giấy tờ, nhưng bị truy nã vì thuộc gốc Duy Ngô Nhĩ. Vì sao có những người Hồi không thích làm công dân Tàu, dù đã hơn nửa thế kỷ nếm mùi tự trị ? Vùng Tây vực, hoang dã Tân Cương, quê hương của họ bao la hơn 1 triệu cây số vuông, nằm cực tây bắc nước Tàu hiện tại, chứa nhiều khoáng sản, mỏ, đất đai trù phú. Những kẻ tuyên bố và tin chắc như bắp rằng tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân làm sao có thể cho nhân dân, nhất là nhân dân hạng hai thuộc giống nam man, tây khuyển, đông di, bắc địch/cẩu tặc vân vân… được bình đẳng và tự do tôn giáo[49] ? Một người trí thức ly khai gốc Ouïghour [50] đã tố cáo nhũng hứa hẹn giả dối này. Và ngay từ thế kỷ 19, họ đã từng trốn chạy ra khỏi vùng Tân Cương qua các nước khác, như người Tây Tạng.

2) Người Tây Tạng (nước Tibet cũ)(vùng tự trị dân tộc Xizang)

Thực hiện cuộc xâm lăng, người Tàu viện cớ giải phóng dân Tibet, vốn “thuộc Tàu từ đời cổ đại” [51]. Số người Tây Tạng (Tibet) bị ngưòi Tàu sát hại trong cuộc kháng chiến chống Tàu trước khi bị sát nhập vào Tàu rất lớn so với tổng số dân ít ỏi. Những người trí thức yêu nước, hay dân thường ái quốc, nhanh chóng bị loại ra khỏi chiến trường và chính trường. Để chỉ còn lại nhũng người hoàn toàn bị khuất phục. Và sau mấy mươi năm bị Hán hoá, bị tràn ngập lấn áp bởi người gốc Hán, người Tây Tạng trở thành thiểu số trên chính quê hương của mình.

Người Tàu đã ồ ạt đưa dân gốc Hán vào Tây Tạng và chiếm lĩnh các vai trò lãnh đạo từ địa phương đến trung ương. Những điều luật ban hành cho vùng tự trị Tây Tạng chỉ có giá trị trên giấy tờ. Người gốc Hán được khuyến khích lấy vợ Tây Tạng, được giúp đỡ trợ cấp nhiều hơn người bản xứ. Các thành phố chính đều tràn ngập người Tàu gốc Hán. Trẻ con được học tiếng Tạng trong thời tiểu học hoặc sau này trong cấp phổ thông, nhưng các cơ quan hành chính, nhất là thủ đô hay tỉnh lớn đều dùng tiếng Tàu. Dân Tạng muốn kiện cáo, việc hành chánh quan trọng phải dùng tiếng Tàu vì chánh án, quan toà lớn, cán bộ gộc trong các bộ máy đều là gốc Hán và không cần phải học tiếng Tạng.

Thứ ngôn ngữ Tàu áp đặt dùng khắp nơi trong các tổ chức hành chánh, khiến Tạng ngữ, dù mãi về sau này được cho phép dạy nhiều hơn trong các trường, đã bị lép vế dần và trở nên mai một.

Thiểu số người Tây Tạng theo Tàu làm tay sai được o bế hứa hẹn một tương lai sáng sủa, dù muốn cũng không đủ khả năng và sáng suốt để lật ngược tình hình. Là một dân tộc thấm nhuần đạo Phật không hề bạo động, người Tây Tạng thà tự thiêu hơn là đi giết quân Tàu. Nhưng trong suốt hơn 60 năm bị cai trị, bị giết hại, trấn áp, họ vẫn nổi dậy và chống đối. Ngày nay số người Tibet (tên Tàu đặt là Xizang) 6 triệu bị pha loãng trong hơn 10 triệu người Tàu và chỉ tiêu của nhà cầm quyền trung ương (Tàu) là gởi thêm 5 triệu người Hán nữa vào đây trong vòng 5 năm tới.

image008
Hình 5 : người Tàu và người Hồi bán hàng trên đường phố vùng Lhassa

(photo Trọng Tuyến)

Tây Tạng với vùng cao nguyên trên 4000m chứa lượng nước ngọt khổng lồ, với diện tích nguyên thuỷ khoảng 2 triệu rưỡi km2, nhưng bị cắt xén sát nhập vào các tỉnh tàu lân cận như vùng Qinghai.

Vùng tự trị dân tộc Xizang ngày nay chỉ còn 1 221 600 km², tuy là 40 % đất thuở ban đầu, và mất tên Tibet, vẫn còn là nơi chứa nhiều (nhất nước Tàu) nguyên liệu và quặng mỏ đất hiếm, là tiền đồn nhìn về Ấn Độ, là nơi Tàu đặt hoả tiễn và vũ khí nguyên tử “ phòng vệ ” chống xâm lăng.

3) Vùng Nội Mông (khu tư trị dân tộc Mông Cổ)

Đất rộng ( 1.280.000 km2) nhưng người thưa, nếu gộp luôn nước Cộng hoà nhân dân Mông Cổ phía bắc, chúng ta hình dung được đất nước mênh mông của đại đế Thành cát Tư Hãn vào thế kỷ 13, và các thủ lãnh của “rợ” Hung Nô, khiến người Tàu (đời Tần) phải xây vạn lý trường thành hòng ngăn bước chân xâm lược đe doạ hàng mấy trăm năm.

Thế kỷ 13 – 14 là thời kỳ huy hoàng của họ. Người Mông Cổ chiếm nước Tàu và đoạt được hầu hết các nước ngoại biên kể cả Tây Tạng, chỉ chịu thua Việt Nam và Đại Hàn (trước khi Kubilai lên ngôi). Người Đại Hàn gốc Việt do hoàng thân triều Lý thống lĩnh là Lý Long Tường đã có đóng góp quan trọng trong chiến tranh Cao Ly ( Koryo) chống Mông Cổ. (hình 6)

image009

Hình 6 : đất Tàu dưới đời nhà Nguyên -Wikipedia –

Chỉ qua thế kỷ 14 đế quốc này bị người Mãn Châu chiếm, thôn tính nhà Minh lập thành nhà Thanh. Vào năm 1911, khi triều Thanh sụp đổ, Mông Cổ được độc lập nhờ Nga hoàng ủng hộ.

Sau đó, Mông Cổ bị chia đôi, phần phía bắc bị Nga liên xô bảo hộ từ 1922 đến 1992 trở thành nước “cộng hoà nhân dân”. Phần phía Nam bị Nhật cai trị cùng với Mãn Châu đến khi Nhật thua trận năm 1945.

Sau 1945, phần nam Mông trở lại thuộc Tàu theo sự phân chia giữa các cường quốc ở hội nghị Yalta và trở thành vùng tự trị đầu tiên (1947), được Tàu Mao khánh thành sớm nhất (1947). Thật ra thì năm 1947, người Mông Cổ phù Hán đã nhờ quân Mao giúp lấy lại độc lập, nhưng khi chiến thắng, Mao trở mặt, dựa vào sự ngây thơ và thần phục Tàu của thanh niên và trí thức Mông, cuối năm 1949, nam Mông Cổ trở thành Khu tự trị dân tộc Mông Cổ thuộc nước Tàu, chuyên chính cộng sản thay thế chính thể quân chủ lập hiến của Nội Mông. Chùa chiền bị phá bỏ, những vụ án xử tử người Mông Cổ “phản động và phản cách mạng” tiêu diệt nốt những người Mông Cổ yêu nước sau cùng. Mông Cổ là dân du mục truyền thống, người Tàu đã chỉ cần giết các đại thảo điền chủ, tịch thu những đàn thú thảo nguyên khổng lồ, tập thể hoá của cải này là thừa sức phá tan truyền thống du mục.

Năm 1954 hiến pháp TQ ghi nhận quyền cho phép nói và dạy tiếng Mông Cổ, nhưng qua 1957 thì lại cấm dạy ở tiểu học. Vào năm 1958 trong bước đại nhảy vọt, để cả nước tiến như nhau, phong tục, tập quán, tôn giác khác biệt các vùng tự trị đều bị trừ bỏ.

Dân số nội Mông trên 20 triệu, trong đó chỉ có 17 % là người Mông Cổ, phần còn lại là người gốc Hán, và dân các vùng tự trị khác. Nguồn gốc, tập tục, văn hoá, tiếng nói, ngôn ngữ của từng dân tộc trở nên mờ nhạt xa vời. Những biện pháp nới tay, mở rộng thêm chút quyền tự do, dân chủ v..v..đều được ban hành muộn màng, khi người dân đã hoàn toàn bị Hán hoá. Dĩ nhiên ban hành là một chuyện, trên thực tế có áp dụng không lại là chuyện khác.

Từ những năm 80 ( 1987, 1990 …) đã có những cuộc biểu tình nổi dậy, nhưng tất cả đều nhanh chóng bị đè bẹp. Ngày nay, đọc sử hay đi viếng đất (Nội) Mông Cổ, du khách học rằng Thiết Mộc Chân Thành Cát Tư Hãn Nguyên Thế tổ, đại đế Mông Cổ tung hoành thế giới xưa kia, nay là anh hùng người …Tàu[52] !

Ngoại Mông vẫn giữ chính thể độc lập và cố gắng chống sự Hán hóa từ phía Nam. Tuy nhiên, sự yếu kém về kinh tế trước nước Tàu cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 khiến Ngoại Mông đã bị tràn ngập bởi hàng hóa Tàu, người Tàu. ngày nay họ cũng phải bỏ Nga quay về cầu cạnh người (phía) Tàu…

Vùng ngoại Mông này cũng đất rộng (1.564.116 km2) người thưa, nhiều mỏ, nguyên liệu quý báu như đồng, vàng, sắt, kẽm, molybden, nhôm, khí đốt tự nhiên, dầu mỏ… Mông Cổ có trữ lượng uranium hơn 1 triệu tấn. Nước này đất rộng với chỉ 3 triệu dân hiện đang lâm vào tình thế lệ thuộc Tàu, nguy nan hơn cả nước Việt Nam.

Sau những năm lệ thuộc khối cộng sản, Mông Cổ Nam lẫn Bắc, dù đất giàu tài nguyên, mênh mông thảo nguyên, sa mạc vẫn là dân tộc nghèo nhất trong vùng, nghèo nhất nước Tàu. Người gốc Hán tràn ngập đất Nội Mông, nắm hết mọi quyền hành và quyền lợi. Người Tàu mua rác- thải công nghệ hạt nhân đem đổ tại đất nước này. Tương lai Mông Cổ bây giờ là một khúc vạn lý trường thành bảo vệ tộc Hán khỏi cái nhìn xâm lăng của …Putin.

4) Vùng Quảng Tây : khu tư trị dân tộc Zhuang (Choang hay Tráng)

Cuối tháng 9 qua đầu tháng 10, hàng loạt vụ nổ xảy ra tại vùng Quảng Tây, vùng tự trị của dân tộc Tráng (Choang hay Nùng) bên Tàu gây chú ý trên thế giới. Cùng với Quảng Đông, đây là vùng Lưỡng Quãng, có giáp ranh với Việt Nam, ngày xưa có liên quan quen thuộc với Âu Lạc và Tây Âu thời cổ đại[53]. Thuộc ngôn ngữ Thái -Kadai

Người Tráng chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ bên cạnh người gốc Hán, chỉ đông hơn các dân tộc thiểu số khác như Mèo, Lô Lô, Thái… Sự phát triển kinh tế khá chậm so với toàn thể nước Tàu nhưng dân số đông nhất so với các khu tự trị khác, gần 50 triệu dân cho một diện tích gần bằng nước Việt 237 693 km2. Ta có thể xem như vùng này thuộc tộc Bách Việt, khoảng thế kỷ 1 trước công nguyên đến thế kỷ 3 sau CN không ngừng bị người Tàu, hết Tống đến Nguyên[54] xâm chiếm, cai trị. Dân Choang đã từng ủng hộ cuộc nổi dậy của hai bà Trưng chống nhà Đông Hán. Về sau một người Choang là Nùng Trí Cao[55], một thời làm run sợ nhà Tống, đánh nhau ngang ngửa với tướng Tàu Địch Thanh, xưng đế lập quốc giữa thế kỷ 11, đánh chiếm một vùng rộng lớn thuộc Quảng Châu, Quảng Tây.

Qua đời nhà Minh, người Hán giúp khí giới cho người Choang đánh nhau với người Mèo. Năm 1912 khi nhà Thanh mất, họ cũng muốn vùng lên đòi độc lập nhưng không thành, đến năm 1927 khi họ nổi dậy thì bị Tchang Kai Chek đè bẹp. Họ hoàn toàn thần phục người Tàu, từ năm 1949, và trở nên vùng tự trị vào năm 1958 dù không hề đòi hỏi. Gien Hán của nhiều người Choang chắc là nhiều hơn gien Bách Việt và xa hơn người Việt hiện tại qua hơn hai ngàn năm bị Hán hoá!

Chút xíu dấu vết còn lại của tộc Bách Việt nơi này hoạ chăng là ở câu ca dao rất giống người Việt Nam. Ếch nhái là con gái nhà trời. Coi ếch là con gái của thần sấm sét, dân Choang nhảy múa điệu ếch để cầu mưa. Người Việt mình thì nói con cóc là cậu ông trời, hễ ai đánh nó thì trời đánh cho. Chắc chưa đủ để nhìn bà con tộc Việt? Nhưng khoan lo, xin xem hồi sau sẽ rõ.

5) Khu Ningxia (Ninh Hạ) khu tư trị dân tộc Hồi

Khu tư trị Ninh Hạ có gần 7 triệu người, tôn giáo chính là đạo Hồi. Với diện tích 62 818 km2, Ningxia là khu nhỏ nhất trong các khu tự trị của Tàu và cũng là vùng có tổng sản lượng quốc gia thấp nhất nước Tàu. Nằm giữa phía bắc nước Tàu, nơi có Hoàng Hà chảy qua, giáp giới các tỉnh Thiểm Tây, Cam Túc và khu Nội Mông. Thủ phủ là Ngân Xuyên, xưa là thủ đô nước Xixia (Tây Hạ) của các bộ tộc Đảng Hạng, Thổ Phồn sau một thời lập quốc xưng đế, từ thế kỷ thứ 9, từng dựa Đường, nhờ Tống giúp đỡ chống cự hay xâm chiếm các nước lân cận (Liêu, Mông Cổ…) trở nên hùng mạnh vào thế kỷ 11.

Nhưng rồi cũng như các nước phương Nam thời đó (phía nam Dương Tử giang), vùng Tây Hạ lệ thuộc tộc Hán trong nhiều giai đoạn, tù đời nhà Tần, và sau cùng hoàn toàn bị Hán hoá. Gọi là dân tộc Hồi nhưng họ chỉ có 20% còn tộc Hán chiếm 79% dân số!

Sau khi bị Mông Cổ thống trị thế kỷ 13, người Đột Quyết theo đạo Hồi di chuyển dần vào Ninh Hạ từ phía tây vùng này mới trở thành vùng Hồi giáo. Như vậy, mặc dù có sự pha trộn với người Hán, vùng này là cát địa của nhiều bộ tộc phương bắc khác với tộc Hán cho đến gần đây. Như người Hồi đến từ Trung Á, họ có màu da sậm và mắt màu nhạt hơn dân Hán, cũng như có y phục, tập quán, tôn giáo của người Hồi. Trước đó dân Tây Hạ theo đạo Phật, ngày nay còn nhiều di tích, lăng mộ ở đó.

Kim Dung đã đưa vào Lục Mạch Thần Kiếm nhân vật Tiêu Phong. Tiêu Phong gốc Liêu[56] và Cưu Ma Trí người Thổ Phồn làm quốc sư nước này là những người võ công thật cao, một chính một tà. Truyện cũng có một đoạn dài xảy ra ở thủ đô Tây Hạ, với mối tình đẹp giữa Hư Trúc và công chúa Tây Hạ Ngân Xuyên. Như vậy qua Kim Dung ai cũng biết có nhiều người tài giỏi trong nước độc lập ven biên Tàu mà ngày nay đã bị Tàu sát nhập.

B. Nhìn người lại ngẫm đến ta

Trong lịch sử thế giới, các đế quốc hùng mạnh nhất, hung dữ nhất từ đế quốc Hy Lạp cổ đến La Mã đều không thoát được vô thường.

Khi liên bang Xô Viết sụp đổ, khối này vỡ tan thành 13 quốc gia độc lập. Riêng nước Tàu vẫn đứng vững và tiến triển cực kỳ nhanh chóng. Tại sao ?

1) Sức mạnh chủ lực :

Sức mạnh Trung cộng đến từ khối đông đảo người Tàu. Tàu chính gốc Hán và Tàu…gốc Bách Việt (và gốc khác từ các vùng bị Hán xâm chiếm từ xưa). Sức mạnh của Trung cộng là sức mạnh của Hán ngữ, có hệ thống chữ viết hoàn chỉnh, giàu có, thêm bạo lực vào nên sức bành trướng mãnh liệt. Sức mạnh ngôn ngữ này ta đã thấy nơi vùng nam Mỹ với Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha.

Người Tàu được (nhà nước Tàu) gọi là tộc Hán phương nam và Hán phương bắc, nói chung là tộc Hán nhưng sống tại hai miền nam bắc chia cách đại khái bởi sông Trường giang hay Dương Tử giang. Nhưng đa số dân Hoa nam tại hạ lưu Trường giang xưa kia rất có thể là dân tộc Bách Việt (xem phần sau).

Người Hán thời đó đặt tên các nhóm khác nhau của Bách Việt là: Dương Việt, Tây Âu, Lạc Việt, Ư Việt, Điền Việt, Dạ Lang (xem bản đồ hình 7) Phần lớn vùng này bị mất vào tay quân Hán phương bắc vào cuối đời nhà Tần bên Tàu, rồi trở thành nước Nam Việt của Triệu Vũ Vương, chư hầu phía Nam của nhà Hán.

Các nước cũ, nay là vùng tự trị, đều ở vùng ven biên, làm tường thành che chắn cho tộc Hán và đều là những vùng nghèo so với thủ đô và các tỉnh lớn khác.

Quyền hành gọi là tự trị được phân chia theo luật định trung ương, cho các nhóm dân thiểu số ít đông hơn nhóm dân chính. Như thấy ở trên, vùng Tibet, ngoài dân Tây Tạng chính cống, còn nhiều dân tộc khác nữa, không kể đến dân Hán chiếm đa số. Cho nên dù các đại diện mọi dân thiểu số có hợp sức lại, cũng không thể chống lại đa số Hán. Mỗi dân tộc thường chỉ có thể tranh đấu cho nhóm dân tộc mình. Chưa nói đến mọi quyết định quan trọng của chính quyền địa phương nằm trong tay đảng cộng sản, mà bí thư luôn luôn là người tộc Hán. Vô phương cục cựa ! Nhưng về mặt sinh tồn, sức sống của những trăm triệu người nơi vùng này vẫn tiếp tục và ít nhiều hoà lẫn, cho dù ta vẫn thấy Hán phương Nam nhỏ con, giống người Việt…ta, khác với Hán phương Bắc da trắng, mi mắt sưng mỡ, gò má cao, mũi cao. Khác nhau như hai người tình của Marguerite Duras[57]. Khác nhau như Deng và Xi.

2) Việt ở phương Nam

Thời chiến quốc (giữa thiên kỷ I trước công nguyên), cũng như các bộ tộc sống phía

Nam rặng Ngũ Lĩnh, Vương quốc Nam Việt mất vào tay Hán Vũ Đế năm 111 TCN. Từ lúc đó nhiều nước Bách Việt bị các vương quốc liên tiếp thuộc Hán tộc bắt làm thuộc địa (hình 8 ), các quận nhà Hán trong vùng Bách Việt ở đất Lĩnh Nam vào đầu Công Nguyên). Mãi đến khi Ngô Quyền phá tan quân Nam Hán dân Việt mới được độc lập từ năm 939 với triều Ngô, sau một ngàn năm lệ thuộc Hán tộc.

image010

image011

Hình 7 : Lạc Việt và Âu Việt

Hình 8. Các quận của Bách Việt ở Lĩnh Nam và Nam Việt vào thời Đông Hán

Các nước chư hầu Bách Việt khác ở đất Lĩnh Nam có lẽ đa số không còn nhớ gì về thời cổ đại, không còn nhớ cội nguồn văn hóa Hòa Bình rất cổ xưa. Thật ra cội nguồn nào kháng cự lại được các chính sách đồng hoá của các vua Hán từ trên ngàn năm nay, và nhất là ngày nay với bạo lực và tuyên truyền, bóp méo lịch sử của chế độ thực dân kiểu cộng sản Tàu ; từng giai đoạn, người tộc Hán, nắm giữ quyền trung ương lẫn địa phương đã lần hồi tiêu diệt các trí thức cũ và đồng hoá tối đa tuổi trẻ (Trăm hoa đua nở, cách mạng văn hoá ). Suốt hàng ngàn năm lệ thuộc, chắc chắn một số can cường đã ra đi tìm đất sống mới, nhiều đợt ra đi, tụ hội, hoà huyết với người bản địa lập thành bộ lạc mới, nước mới trên bước đường thiên di. Người ở lại, quên mối đau thương chia lìa, quên hận vong quốc, trở thành người…Tàu (phương nam).

Nhưng có dễ quên không ? Ngược dòng lịch sử người Tây Tạng, Tân Cương, và người Tráng ( Choang hay Nùng – Nông -) tuy bị Hán hoá đã lâu nhưng đến đầu thế kỷ 20, vẫn luôn có người nổi dậy, muốn ly khai Trung quốc, nhưng người Choang, người Mông, nằm giữa trùng vây Hán tộc, cho dù chỉ là Hán thiểu số, bên cạnh các dân tộc thiểu số khác, bất đồng ngôn ngữ và văn hoá. Và sắc tộc nào cũng là thiểu số trong đa số các sắc tộc ấy, muốn truyền thông, sống còn với nhau và với trung ương, chỉ còn một “lựa chọn duy nhất” : nhận lấy thứ ngôn ngữ, văn hoá áp đặt : chữ Hán của Trung quốc.

Đây chính là thượng sách trong phương cách rất thực dân chia để trị của Hán tộc.

—————-

CHÚ THÍCH

[39] Đế quốc Anh Pháp Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha (néerlandaise, portugale, espagnole) bằng đường biển, cướp nhiều vùng trên vòng đai Thái Bình Dương  tại các nước Nhật,Tàu,Tích Lan, Nam Dương, Ấn Độ, Nam Mỹ…

[40] Xem chú thích 8 trên đây

[41] Xin được nghi rằng :  biết đâu các vị này bắt chước Câu Tiễn ngàn xưa, khom lưng, nếm nhục chờ ngày thoát Trung ?

[42] 16 triệu km2, 16 quốc gia, hầu hết là thuộc địa, coi nữ hoàng  Anh cũng là nữ hoàng của mình, nhưng chỉ là vai trò tượng trưng. Họ hoàn toàn tự do tự chủ về chính sách kinh tế, giáo dục, quân sự văn hoá vân vân

[43] Đây cũng là con dao hai lưỡi cho Tàu : Vùng đạo Hồi và các dân tộc anh em bao quanh cũng cùng tôn giáo, trong hoàn cảnh Hồi giáo quá khích hiện nay, mọi hành động đàn áp người Hồi tại Tàu có thể được diễn dịch ngoài ý muốn người Tàu.

[44]  Nơi đây xin tỏ lòng biết ơn những bậc tiền bối cận đại, như Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh, Vương Hồng Sển, Nguyễn Hiến Lê… cho đến gần đây hơn Phạm Văn Sơn, Phạm Việt Châu, Tạ Chí Đại Trường…và những vị thầy cô không danh tiếng nhưng vô cùng gần gũi và có ảnh hương,  từ tiểu học qua trung học đã dạy chúng tôi lịch sử và văn hoá Việt Nam (ít ra từ quan điểm miền Nam, không hề sợ Tàu ?! ).

[45] Kim Dung, người vùng Triết Giang, vốn là một người Tàu Hoa Nam, đăc biệt « ưu ái » các dân tộc vùng Nam Dương Tử giang, nghĩa là thuộc Bách Việt xưa. Các nhân vật chính tà do ông dựng lên đều đến từ những tiểu quốc thuộc nhóm Bách Việt này, Khiết Đan, Đại Lý, Liêu vân vân đã bị nuốt và Hán hoá từ lâu, nay sống lại dưới ngòi bút Kim Dung, tuy cổ quái tính tình dị hợm nhưng ai cũng được độc giả lưu ý với ít nhiều cảm tình.

[46] Nỗi băn khoăn của Kim Dung, Tiểu luận, Nhà xuất bản Văn Mới, Sài Gòn 1972, http://nguyenmonggiac.info/noi-ban-khoan-cua-kim-dung.html

[47] Diễn dịch thứ nhất là đảng cộng sản Tàu lãnh đạo 4 “giai cấp” sĩ nông thương và binh(lính). Cộng sản mà chia giai cấp thì thiệt là vô lý/ vô duyên, nên xin tạm nhận cách thứ nhất, để làm trục xoay quanh cho bài viết này

[48] 16 chữ vàng và 4 tốt : nguyên văn không nhắc ở đây, chỉ ghi lại bản dịch đúng nghĩa Láng giềng độc ác. Cướp đất toàn diện. Lấn biển lâu dài.Thôn tính tương lai

[49] Hiện nay vì vấn đề Hồi giáo cực đoan, họ nới lỏng ràng buộc để không phải (mang tiếng) khiêu khích những quốc gia Hồi giáo tự do khác.

http://www.lhassa.org/histoire-du-tibet/accord-en-17-points.php

[50] Dr Rebihya Kadeer : « họ chiếm lấy truyền thống ẩm thực và âm nhạc của chúng tôi,  tuyên bố là của Tàu. Họ tuyên bố có lịch sử 5000 năm, chúng tôi có thể nói ngọn nguồn chúng tôi còn xưa hơn nữa »

[51] Tháng 10 năm 1949 vừa lập quốc, đầu năm 1950 Mao Zedong tuyên bố sẽ giải phóng Đài Loan, Tibet và Hải Nam ;  cuối năm Mao đưa 84000 quân vào Tibet. Quân đội Tibet phải 1 chọi 10, bị đạo quân nhân dân xâm lược và thiện chiến đè bẹp nhanh chóng

[52] Hốt Tất Liệt sau khi dẹp yên nhà Nam Tống, lập nhà Nguyên, cai trị trên toàn cõi Tàu thời đó, không gien Hán nhưng vẫn mưu toan chiếm  nước Đại Việt của nhà Trần để  trả thù lần đại bại trước. Như ta biết, quân Nguyên hai lần sau này cũng bị Hưng Đạo Vương của Đại Việt đánh không còn manh giáp thời Trần Nhân Tông, con Hốt Tất Liệt là Thoát Hoan chui vào ống đồng chạy về Tàu.

[53] Tượng Quận, Quế Lâm xưa kia bị nhà Hán cai trị chia thành quận huyện

[54] Kubilai (Hốt Tất Liệt) năm1257 chưa lên ngôi nhưng cũng đã cho Uriyangqadai (Ngột Lương Hợp Thai) đem quân đánh chiếm được Đại Lý,rồi tiện đường đánh Đại Việt lần thứ nhấtdưới thời Trần Thái Tông, với hơn 4 vạn quân trong đó có phò mã Hoài Đô 50 vương tướng Mông Cổ và 2 vạn người Đại Lý thống lĩnh bởi  hàng vương Đại Lý Đoàn Hưng Trí, bị quân tướng Việt đánh bại (theo wikipedia)

[55] Cha Nùng Trí Cao là Nùng Tồn Phúc bị vua Lý Thái Tông giết, nhưng vua tha mạng Nùng Trí Cao và mẹ, sau này lớn lên Cao chiếm Quảng Tây, Quảng Châu gộp với  Đại Lý  đổi tên thành nước Nam Thiên « dưỡng quân và làm các chiến thuyền sửa soạn đánh Quảng châu lần nữa và cương quyết lập một nước độc lập với tên hiệu là Nam Việt tại thủ phủ Quảng châu. Từ Việt đã cho thấy vẫn còn khêu gợi và hấp dẫn của các giống dân vùng Lĩnh Nam mà Nùng – Zhuang là một nhánh Bách Việt » Về sau con và mẹ Cao bị quân Tống giết chết. Còn Cao cũng chết nhưng không rõ vì sao. Ông được dân Choang sùng kính. Nhưng người Tàu không xem nước Nam thiên là một quốc gia độc lập, như đồng thời Đông Âu, Tây Âu ; Mân Việt và Nam Việt  nhưng ngàn năm sau,  năm 1997, Nùng Trí Cao được phong (« thần ») anh hùng …Trung Hoa chắc là để dân Choang càng mau quên cội nguồn Bách Việt, không lợi dụng đòi…ly khai. http://nghiencuulichsu.com/…/18/viet-bac-lich-su-va-con-nguoi…/

[56] vì thật ra vốn gốc người Liêu nên bị người Hán ghen ghét, Kiều Phong phải tự sát, thảm kịch gây xúc động mạnh nơi độc giả

[57] (L’Amant The lover) Người tình (miệt vườn Sa Đéc –Vĩnh Long gốc Chợ lớn) xuất bản năm1984 và Người tình Hoa Bắc ( L’amant du Nord ) Marguerite viết sau khi J. J Annaud thực hiên phim The lover với Jane March và Tony Leung

Advertisements

Hãy ghi ý kiến, thắc mắc của bạn vào đây:

Trage deine Daten unten ein oder klicke ein Icon um dich einzuloggen:

WordPress.com-Logo

Du kommentierst mit Deinem WordPress.com-Konto. Abmelden / Ändern )

Twitter-Bild

Du kommentierst mit Deinem Twitter-Konto. Abmelden / Ändern )

Facebook-Foto

Du kommentierst mit Deinem Facebook-Konto. Abmelden / Ändern )

Google+ Foto

Du kommentierst mit Deinem Google+-Konto. Abmelden / Ändern )

Verbinde mit %s