ĐẤT NƯỚC LÂM NGUY (III)

III  A. Tình trạng bi đát của tộc Việt hiện nay

1) Hành trang nhược tiểu Việt Nam

Một Bách Việt phương nam, ngàn năm bị Tàu đô hộ, đã tiến (hay lui dần) về phương Nam tìm đường sống, chiếm đoạt đất đai của người yếu hơn, so với Tàu cũng đã phình ra sau vài trăm năm. Đây là cơ may để  tiến bộ của người Lạc Việt, nhờ sự pha trộn với lãnh thổ và cư dân bản địa, giống gien Đông Nam Á hoà trộn lại với con cháu những tổ tiên của các đợt di dân nghìn xưa, rửa bớt văn hoá và gien Hán của một nghìn năm đô hộ. Vận may thứ nhì đến lần nữa qua trăm năm thuộc Pháp. Một lần nữa, tộc Việt bị buộc phải quay nhìn về phương khác, học hỏi, hoà hợp, khẳng định lại bản sắc (mới). Chỉ một phần mười thời gian chịu ảnh hưởng Tàu, nhưng giá trị rất lớn, trong khi tộc Bách Việt còn lại tại chỗ, bị Hán hoá đến tận cùng xương tuỷ.

Sau thế chiến hai, như đa số các nước trên thế giới, đất Việt nhân/chia đôi thành hai nước, nói theo kiểu lạc quan. So với các nước bị thần phục như Tây Tạng, Tân Cương, Mông Cổ, hoặc các quốc gia bị băm vằm chia cho bên thắng cuộc, người Việt nghĩ mình còn may mắn. Đi tản lạc ra khắp thế giới, học và áp dụng song song chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản và mang kết quả cùng hệ luỵ tất nhiên của các chủ nghĩa này.

Nhưng với quyết tâm giải phóng miền Nam, chỉ cần nhờ người Tàu giúp (khí giới ?), miền Bắc cộng sản đã toại nguyện sau 20 năm nội chiến. Mỹ Ngụy nhào và cút, trong hơn 10 năm, 17 triệu người miền Nam mất đi 3 triệu vì cuộc chiến, 3 triệu bỏ nước ra đi, hơn phân nửa ở lại, (hoà ?) hợp với người Việt miền Bắc, cùng xây dựng lại đất nước. Tưởng rằng từ đó (1975) nước Việt sẽ phát triển trong tự do, độc lập, dưới (chế độ xã hội chủ nghĩa), và thêm sự giúp đỡ của hai đàn anh cộng sản đồ sộ Nga, Tàu. Thế nhưng bây giờ hơn 85 triệu dân, mà vẫn như các nước trong liên bang Xô viết cũ : nghèo đói chậm tiến, bị xếp hạng bét hay áp bét về lợi tức trung bình đầu người (thu nhập hàng năm) trong khối Đông Nam Á, đứng đầu trên vài ba chục nước …nghèo kém nhất thế giới, lại thêm mối nguy mất tên, mất nước vì đàn anh Trung Quốc.

Như vậy tự hỏi hay vô cùng nghi ngờ về phương cách giúp đỡ cũng như tình nghĩa vô sản của các nước lớn này là điều hiển nhiên. Riêng người Tàu, còn kể ơn và muốn người Việt trả nợ đạn bom và hợp tác “toàn diện” với họ trong chiều hướng họ quyết định.

Môi lưỡi tay chân anh em xã hội chủ nghĩa đã thực hiện tình hữu hảo huynh đệ thế nào để nước Việt ra như thế ?

Ra khỏi cuộc nội chiến, Việt Nam thống nhất dư thừa ngạo mạn hân hoan nhưng kiệt quệ về mọi mặt. Hay nói kiểu ba phải thì nửa vui, nửa buồn. Nửa giàu lên, nửa nghèo đi. Nửa ăn mừng chiến thắng, nửa ngậm đắng nuốt cay. Nửa mạnh (dẹp Khmer đỏ) nửa yếu ( bị Tàu san bằng vùng biên giới). Nửa cộng nửa tư bản …đỏ. Nên lạ lùng chẳng giống ai. Cho nên chỉ 10 năm sau trận đánh tàn khốc vùng biên giới, Tàu khuất phục được (tinh thần ?) nước Việt.

Tinh thần, tâm thức của người Việt phải chăng đã bị bào mòn qua ba mươi năm chiến tranh gần như không ngưng nghỉ ?Hai mươi năm nội chiến từng ngày, bom tấn, bom bi, bom napalm, lựu đạn, mìn claymore, Ak 45, 47, M16, CKC, pháo kích, không kích, oanh kích, B52, B40… Rồi sau tháng tư 1975, Bắc (tự nguyện) vào nam, Nam (bị lôi) ra Bắc. Kẻ mất cha, mất chồng, con, anh, chị em, mất nhà cửa, tài sản, nơi chôn nhau cắt rún, kỷ niệm….

Chúng ta khác “thường” , bệnh hoạn, bị tổn thương  mà không nhận ra. Từ ngày ngưng chiến, không có một cuộc chữa bệnh nào hay một hành động an ủi, cử chỉ hào phóng đến từ giới lãnh đạo, không một trấn an tập thể nào cho những người sống sót sau cuộc cuộc chiến và hai lần chia tay xé ruột ? Chỉ có : trả thù và tự thưởng công khi lao mình vào cuộc sống. Đến ba đời con cháu. Của cải, tinh thần nào không kiệt quệ ?

Người ta có nghĩ đến người chết, nhưng đa số là để tự trấn an lương tâm, tự biện hộ, tạo ảo ảnh để kể công, để duy trì miếng ăn, quyền lợi cho kẻ sống.

Hai mươi năm hoà bình mà bảo thanh niên hát đường ra trận mùa này đẹp lắm, để cho nhân dân tiếp tục làm anh hùng cày sỏi đá và con quan thì lại làm quan?

Hai mươi năm hoà bình mà còn mời sư cô cải trang mặc áo bà ba đen cầm súng vác mã tấu hân hoan hát bài em đi làm nữ du kích ?

Hai mươi năm sau khi đã chia chác hết mọi thứ chiến lợi phẩm lớn nhỏ, bây giờ vẫn tiếp tục lấy đất nông dân xây cất đủ thứ trừ tương lai nông dân. Việt Nam xứ nông nghiệp lâu đời, chưa kịp chuyển hướng công nghiệp kỹ thuật, mất đất rồi nông dân biết gieo hạt lúa vào đâu ? Ta lại không/chưa giỏi buôn bán, thương mại hàng hải mà cứ cắm đầu giao khoán, giao thương ký hợp đồng với kẻ (thù truyền kiếp) mạnh bạo[58] thì đúng là tự sát chứ không phải bỏ điều 4 hiến pháp mới là tự sát.

Hai mươi năm hoà bình thống nhất mà phải hàng năm sang Tàu, quỳ lạy tượng Mã Viện, tên tướng Tàu đã bức tử hai nữ anh hùng nước Việt ?

Trong chúng ta có người may mắn tự vượt lên, tự chữa, để tiếp tục cuộc sống. Vì cuộc sống tiếp tục, dù ta có muốn hay không. Tiếp tục nơi quê người, tiếp tục mưu sinh, nuôi con, dưỡng cha mẹ vân vân …

Mà bệnh có khỏi chưa ? Vết thương trong lòng trong tim, óc đã khép lại, đã thành sẹo, đã lành lặn chưa ?

Cách trả lời tốt nhất là nhìn lại lối sống, phương hướng ứng xử với nhau và với người khác của chúng ta hiện nay. Ở ngoài nước, chúng ta luôn nhớ về quá khứ, nhớ lại những kỷ niệm êm đềm hay đau thương để …đau đớn kết án, căm hờn. Dưới mắt chúng ta Việt Cộng có bàn tay lông lá khắp nơi (mà thật vậy, họ thò bàn tay chia rẽ trong khắp các hội đoàn, tổ chức văn hoá, tôn giáo, xã hội người Việt hải ngoại. Tại sao họ không thò bàn tay thò tim óc nhìn vào những lấn lướt gian manh, âm mưu của người Tàu trên đất nước VN. Đánh nhau cho Tàu, cho Nga xong rồi, nợ kia đã trả rồi mà) nhưng ta chỉ biết chửi nhau, kiện cáo nhau, hành hạ nhau. Thì câu hỏi đặt ra thêm nữa là có phải cộng sản VN tiếp tục thi hành lệnh cộng sản Tàu để chia rẽ tiếp tục làm suy yếu tộc Việt ?

Phải nhìn kỹ những biện pháp do nhà cầm quyền tại các nước tân tiến  áp dụng cho các nạn nhân mỗi khi có tai ương xảy ra bất ngờ với số đông người, chúng ta mới hiểu được kích thước những tổn thương tồn tại nơi dân Việt từ hàng chục năm qua.

Tại Mỹ, sau cuộc khủng bố september 11 năm 2001, phim ảnh báo chí nhắc nhở đến tùng nạn nhân, từng hành động cứu người, nhắc nhở để vuợt qua đau đớn và tìm lại ôn định tâm lý (chưa nói đến việc đem quân đi trừng phạt).

Tại Pháp, gần đây nhất là khi ba đứa trẻ đạo Do Thái, mười một nhân viên toà báo nổi tiếng, 130 khán giả bị khủng bố bắn chết…. Các nhà tâm lý đi thăm hỏi gia đình, báo chí ghi lại từng tiểu sử, phỏng vấn người thân cận. Tất cả những cái chết tức tửi, oan uổng, bất thường, thảm khốc đều là biến cố kinh hoàng cho tuyệt đại đa số con người bình thường, nên cần những phương cách trị liệu nhằm hàn gắn vết thương, ổn định tâm lý người thân, kẻ sống sót.

Đã hiểu được nguyên nhân, cuộc chữa trị tâm thần sẽ dễ dàng hơn. Nhưng cơn bệnh trầm trọng nhất cần giải quyết trước mắt là đoàn kết để cứu đất nước. Thoát khỏi lưỡi dao Tàu đang nằm trên đầu cổ đã rồi ta sẽ tính sau.

Cuộc di tản lớn lao lần này đã là lần cuối cùng, may ra rồi sẽ còn một nơi nương náu tâm linh, một chỗ đi về. Còn đất nước còn tiếng nói, còn quyền tự định đoạt cho chính mình. Đừng để muộn màng chúng ta sẽ không bao giờ gượng dậy được nữa.

Thử kiểm điểm lực lượng, tiềm năng và tìm sách lược kháng cự.

Vì ngày nay chúng ta đông dân hơn thời Bách Việt xưa và chúng ta may mắn tiếp xúc và học với các nước phương Tây, chúng ta cũng sống trong thời đại thông tin cực kỳ nhanh chóng, chúng ta nhìn rõ tật bệnh để chữa lành và tiến tới.

2) Gien Bách Việt ?

Về nguồn cội, người Hán phong gốc Hán cho tộc Bách Việt ở phương Nam. Họ gọi những dân tộc Bách Việt xưa là anh em của họ ở phương Nam, tộc Hán ở phiá nam. Gốc Nùng, gốc Đại Lý, gốc Việt xưa kia đều là con cháu nhà Hán, theo họ. Xưa là Nam man với cấu tặc, bị đè đầu làm tướng làm quân đi đánh anh em tộc Việt vì không nhớ cội nguồn xưa cổ. Chỉ còn biết ngôn ngữ chữ viết Tàu, chỉ biết Thủy Hử với Tam Quốc Chí Đông Châu Liệt Quốc, sử ký Tư Mã Thiên, lấy làm hãnh diện làm con cháu Lưu Bị, Quan Công.

Tiếng nói tập tục đã quên, cổ sử mơ hồ[59], mà phe chiến thắng thì lại viết sửa lịch sử. Cho nên nếu ta để ý xem, hầu như các dân tộc Tàu (mới) này, như người Việt, đều có (truyền thuyết về) tổ tiên, nhưng các tổ tiên  này đều…lấy cháu của ông (vua) tàu nào đó. Lâu ngày thì tộc Hán đều là ông …cố nội của các tộc khác. Nên ta không ngạc nhiên khi nhiều người Việt cam đoan tổ tiên mình là người tàu. Thì bởi tại bà Âu Cơ là cháu Đế Lai, mà ngược lại cũng có người Việt xem dân mình là …ông cố nội của người Tàu. Nghĩa là có bà con.

Điều quan trọng là cuộc sống chung hoà bình và bình đẳng, chứ không phân định anh em, bà con để ức hiếp những thân phận em nhỏ và họ hàng xa theo kiểu giai cấp phong kiến…Tàu. Nếu trở lui về thời tiền sử và kính lão đắc thọ hay ngàn vàng mua lấy láng giềng thì mọi người phải tôn kính hậu duệ tiên tổ loài người là người Phi Châu, đa số nghèo không thể có ngàn vàng để mua lân bang hữu hảo.

Xem bản đồ dưới đây[60].

image012

   Hình 9: Hướng thiên di của người hiện đại từ Phi Châu đến dần Đông Á 65 000 năm trước

Huyết học và di truyền học dựa trên đặc tính sinh học máu và trên di tích trong gien con người đã đi ngược đưọc hàng ngàn, hàng chục ngàn năm, thì gốc con người, đường địa di, hải di đã được thiết lập dần từ vài thập niên gần nay, nhất là từ lúc chương trình phân tích  gien “thô” và giải mã gien con người Hugo (Human Genome Project)  encode  lần lượt được phát động năm 1990 và 2003.

Đường đi của người hiện đại từ châu Phi, nơi họ sinh ra từ hai trăm ngàn năm trước, đi đến sống ở Á, Úc và Mỹ châu càng ngày càng rõ ràng hơn. Dù còn nhiều chi tiết cần được soi sáng cho tỏ tường gốc gác mỗi tộc người địa phương, con người thiên di theo các ngã chính đến các vùng lớn trên thế giới đã được định  rõ. Nói khác đi, con người cổ đã đến một nơi nào đó theo thứ tự thời gian, nói chung đã được đa số các nhà khoa học chấp nhận. Những tranh cãi về chi tiết sở dĩ có là do có sự liên tục pha trộn giữa gien người đi, người ở, người trở về…Nhiều đợt lớn nhỏ, đi về, pha trộn đan xen với nhau. Mỗi khoảng thời gian đi (về) là hàng trăm hay hàng ngàn năm, lớn nhỏ tuỳ thuộc vào điều kiện khí hậu và môi trường sống.

Từ thời sơ khai, giống người hiện đại sau khi rời Phi Châu, qua tới bán đảo Ả rập, họ đi/sống dọc theo biển cùng tên, xuyên qua Iran, Pakistan Ấn Độ bây giờ để đến vùng Đông Nam Á (ĐNÁ) khoảng 50 – 60 ngàn năm trước đây. Một nhóm tiếp tục theo ven biển trên thềm lục địa ĐNÁ có tên Sundaland lúc đó chưa bị ngập bởi hiện tượng “biển tiến” (khi trái đất nóng lên làm tan băng). Nhóm này qua quần đảo Indonesia đến nơi xa nhất của đất liền, rồi vượt biển vào châu Úc. Nhóm ở lại quần đảo Indonesia sinh sống một thời gian mười, hai mươi ngàn năm ở ĐNÁ, sinh sôi con cháu đông đúc. Nhưng khi đời sống trở nên khó khăn trong các nhóm định cư tại ĐNÁ, hàng đoàn người đi ngược lên phía Bắc. Tùy theo nơi họ ở lúc khởi hành, họ lên phía bắc qua ngả Nam Trung Hoa vùng ĐNÁ lên quá khỏi Hoàng Hà vào vùng Đông Á, hoặc đi vòng phía bên trong, qua cao nguyên Tây Tạng lên đến phía Đông vùng Trung Á.

Kết quả phân tích gien truyền qua người mẹ, mt DNA, hay người cha (qua sắc thể Y) cũng đưa đến cùng kết luận, là các bà mẹ ông cha  tổ của người Đông Á đều là dân ĐNÁ thiên di lên phương bắc, mặc dù đường thiên di phía mẹ không trùng với cha. Phải chăng đây là cuộc chia tay rồi trùng phùng của nhiều Lạc Long Quân với Âu Cơ, huyền thoai chia tay mẹ cha rồng tiên, kẻ lên núi, người xuống biển (nhiều lần) của các tộc thời tiền Bách Việt ?

Rõ ràng khoa sinh học di truyền và ngành khảo cổ đã chứng minh dân Tàu có tổ tiên phía bên cha lẫn phía mẹ là cư dân vùng ĐNÁ, tức là vùng của nước Việt và các nước ven biển đông nam lục địa này. Và bởi vì con người sống trên toàn thế giới đều có cùng chung tổ tiên, từ Đông Phi đã thiên di tuần tự đến các nơi chưa từng có người ở. Vì Hy Mã Lạp Sơn ngăn trở, muốn đi đến phía bắc Tàu, tổ tiên chung của toàn người Hán và Bách Việt từ Phi Châu bắt buộc phải qua ngõ ĐNÁ. Vừa đi qua, vừa ở lại sinh sôi tại ĐNÁ, cho đến lúc quá đông so với nguồn lương thực có tại chỗ, họ lại phải thiên di đến miền đất chưa có người ở bắc Đông Á, vì nếu gặp Thái Bình Dương và về phía nam thì coi như trở về đường cũ, sẽ lại gặp các nhóm cư dân đi trước. Ngành di truyền học cho phép tính “tuổi” các gien. Người Hán gốc bắc có cùng một số gien với Bách Việt nhưng là gien trẻ hơn. Họ, Hán- phương- Bắc, có thêm gien khác vì khi lên đến vùng bắc Hoàng Hà vì hoà huyết (lai) sau đó với những người cũng đến từ ĐNÁ nhưng bằng đường phía trong đất liền. Tức là người Tàu bắc và nam đều có tổ tiên là người xuất phát từ ĐNÁ. Tuy có sự pha trộn gien trong các cuộc di dân, bành trướng, nhưng gien gốc vẫn chỉ ra ai là ông cha ai là cháu chắt. Và gien chúng ta gần với gien hậu duệ Trăm Việt khác hiện nay trong vùng ĐNÁ hơn gien Hán.

Nhắc lại, người Tàu cộng, kể cả khoa học gia, thường phải ép mình theo quan điểm chính thống của nhà nước Tàu hiện nay, tức là xem dân Hán là một dân tộc đồng nhất (về tiếng nói) quan trọng về số lượng nhất thế giới …nhưng chia làm hai nhóm có cấu tạo gien khác nhau: Hán- phương- Nam và Hán- phương- Bắc. Người Việt hiện nay là Hán- phương- Nam cùng các dân  trăm Việt khác ở nguyên vùng ĐNÁ. Nhiều khoa học gia khác nói lên sự mâu thuẫn và khiên cưỡng trong quan điểm này, nhưng nhà nước Tàu hiện nay để phục vụ cho chính sách bành trướng người gốc Hán, vẫn không muốn những người Hán phương Nam đòi ly khai khỏi gia đình “ruột thịt”. Thử tưởng tượng nếu đoàn quân Nam Hán này sửa soạn sang đánh bọn Việt Nam cứng cổ con hoang, thì biết rằng họ là anh em với người Việt nhiều hơn là anh em với người tộc Hán, họ sẽ nghĩ sao, buông súng “tìm về cội nguồn xưa ” ? Đòi ly khai để tự mình quyết định một cuộc sống êm đềm, thanh bình hơn ?

Nhưng chúng ta chớ nên mơ màng ảo tưởng, ông Xi phải lo nuôi họ, phải đưa cuộc sống của họ lên ngang bằng tộc Hán như đã hứa, nghĩa là tiến về phương Nam, lập vòng đai mới, biên giới mới và lời hứa hẹn mới!

Nhìn anh em để làm anh cả, đem ông Khổng Tử ra để đòi có quyền huynh thế phụ, kêu gọi trung hiếu với thiên triều thì thấy ông quả là người…Tàu.

Chúng ta nhìn bà con Bách Việt, chẳng phải để đòi hỏi một kiểu ly khai hay chiêu hồi nào đó, chúng ta chỉ muốn họ được thật sự tự do và sánh bước với thế giới về lương tâm và tri thức, không mù quáng nghe theo lời đường mật, tự hào một cách quá bộ lạc và ấu trĩ về sức mạnh phải có của một dân tộc có tầm vóc quốc tế. Một dân tộc lớn không nhất thiết phải chiếm hết đất đai của cải thiên hạ, một dân tộc có tầm vóc phải được lân bang và thế giới nhìn bằng con mắt thân thiện anh em.

Cơn đau thập tử nhất sinh Việt kéo dài và dồn dập suốt thế kỷ vừa qua.

Khi xem lại những hình ảnh do người Pháp chụp thuộc địa Đông Dương, chúng ta ý thức được tình trạng lạc hậu nghèo nàn của người Việt. Thoát được gọng kềm của Tàu xưa kia không phải chỉ nhờ vào sức mạnh nội tại của tộc Việt mà còn là nhờ vào khí hậu đường xá hiểm trở. Cha ông ta đã từng nhận định như thế, rõ ràng là sáng suốt và khách quan. Ngày nay tuy vẫn nghèo, yếu kém so với thế giới nhưng ý thức về bản sắc dân tộc được rõ nét và lớn mạnh hơn. Giòng máu Việt là máu Âu Lạc đã pha trộn với máu các tộc Việt khác và có khi cả Hán (và Mông, Mãn là các tộc từng chiếm Tàu và di dân sang Việt Nam) và người Chiêm Thành, Chân Lạp. Chúng ta ngậm ngùi cho các đất nước đã mất tên này, nhưng linh hồn, bản sắc, màu da, nước tóc đã hòa lẫn để chúng ta là người Việt Nam, gốc Đông Nam Á. Không cần leo lên Thái Sơn ngạo mạn nhìn xuống “một con đường, một vành đai, hay xin chút gien Hán, không cần “mượn sông”, mướn mỏ, cướp biển, hay phải nắm tay TQ mới nghe mình lớn mạnh, chúng ta chỉ cần đi ngược thời gian, chỉ cần nhìn lại kết quả phân tích DNA để nói rằng nếu Trung cộng đưa cổ sử thì ta (mà họ cũng đã biết) cũng nói được rằng tộc Việt đã có mặt từ cổ đại, năm mươi ngàn năm trước trên vùng đất họ ngày nay, lâu hơn và cũng là gốc của tộc Hán trước khi Hán pha trộn với di dân phương bắc Đông Á. Nhưng người Việt nói con hơn cha là nhà có phúc. Người Việt không giết con gái sơ sinh, người Việt thờ mẹ như thờ cha, không bắt phụ nữ bó chân từ hàng ngàn năm trước. Người Tàu nói nhứt sĩ nhì nông, người Việt nói hết gạo chạy rông nhất nông nhì sĩ.

Không có lý do chính đáng trọng đại (lý do của cải vật chất còn tệ hại hơn) để quỳ gối dưới chân người Tàu để làm gạch xây tường thành che chắn bảo vệ họ, xây đường cho họ đi.

B. Chúng ta phải thay đổi thế nào, cải tiến làm sao cho qua khỏi cơn nguy này ?

Chỉ mới vài năm dân Việt gửi con gái đi làm dâu Hán ( và tộc Việt phương Nam cũ) tuy chưa hòa huyết, chưa mất tiếng nói mà đã mất lòng tự hào “nghèo cho sạch rách cho thơm”, ăn cắp, xảo quyệt, lường gạt thiên hạ hơn cả người Tàu. Phải nói là có gien Hán trong hành động nhiều hơn cả người Hán!

Nhìn lại thực tế trước mắt, trong chừng mực nào đó những người con gái nghèo đất Việt bỏ xứ đi lấy chồng Tàu, trong nhờ đục chịu. Đục hơi nhiều vì đa số anh Tàu ế vợ đều là nông dân dốt nát, bệnh tật. Những người con trai Việt bỏ gia đình cha mẹ vợ con nai lưng đi làm công nhân, thứ công dân nô lệ mới cho các hãng xưởng lớn, mang nhãn…Tàu. Nhưng không lẽ gái Việt đi lấy chồng Việt, tuy …dễ thương, biết ngâm thơ Kiều, ca Lục Vân Tiên, vọng cổ, biết chiều vợ thương con, nhưng lại…thất nghiệp? Nào phải ai cũng được là con cháu đảng viên đi du học Âu Mỹ Úc hay đủ điểm (thi vào trường dạy làm công an ?) Nào phải ai cũng muốn đi làm CSGTchận xe thu tiền phạt hoặc làm an ninh, trà trộn với du côn đi đánh bắt mấy đứa “phản động” trốn thuế lại ưa nhóm họp biểu tình đả đảo chặt phá cây xanh, đả đảo Trung Quốc xâm lược ?

Nhưng trời hỡi sao không gởi gấm ước ao, hy vọng vào chính mình hay ai khác mà lại nhằm tướng cướp mà trao duyên ? Đâu rồi kinh nghiệm ngàn năm tiên tổ ? Đâu rồi quả báo, kinh nghiệm nhãn tiền trơ trơ trước mắt ?

Chúng ta cần thức dậy mà đi. Chúng ta cần nhớ đến tiền nhân, tiên tổ, rũ sạch cái áo Tàu, bụi Tàu, nhìn ra thế giới để học hỏi bắt chước cái hay, cái tốt. Chúng ta cần lấy đạo lý con người nói chung chớ đừng ca tụng cái đạo lý Tàu mà chính họ đã từng phá vỡ. Chúng ta cần hướng về Chân Thiện Mỹ của con người, không phải chỉ của Tống Nho mà Trung Cộng dùng để mỵ  dân gạt người.

Có người đòi thoát Việt cộng trước khi thoát Trung Cộng. Có người đòi hợp tác với Việt Cộng mới đủ sức thoát Trung Cộng. Đòi là một chuyện, thực hiện được không mới đúng là câu hỏi phải đặt ra với tất cả những hệ luỵ đến với câu trả lời.

Thoát Việt cộng cách nào đây, khi ta biết rằng Trung cộng đã giăng bẫy, mai phục khắp nơi sẵn sàng tiếp tay Việt cộng bắn giết dân Việt. Chúng sai côn đồ (thất nghiệp, du đảng, tội phạm hình sự vùng biên giới nam Tàu sang trà trộn với đoàn quân cảnh sát công an bản xứ) đánh bắt tất cả những ai dám lên tiếng chống đảng, chống xâm lược. Chưa bị ngưng trả lương thì họ sẽ tiếp tục làm lá chắn, làm gươm đao, thiết bảng, dùi cui. Chưa nói đến việc cùng là cộng sản như nhau, có khi gien cộng sản tàn ác kiểu Stalin này mạnh hơn cả gien…phát xít.

Cho dù Việt Cộng tuy sắp hết tiền để trả lương cho đảng viên, công chức, nghĩa là guồng máy sắp hết chạy, nhưng họ nắm trong tay bảng điều khiển vận hành guồng máy. Phải nghĩ là còn rất nhiều người còn tin tưởng ở tài năng …đột biến đột xuất của đảng vào giờ phút này.

Một cơ hội để ông Xi ra tay nghĩa hiệp cứu vớt lãnh tụ Việt ? Coi chừng ! Bán luôn cho Tàu, đảng viên và công chức kỳ này là hết còn gì để bán ! Phải cần nhớ đất nước đi đến tình trạng nguy nan ngày nay cũng là do lỗi đảng bị kẻ thù ru ngủ, quá tin vào anh em không cùng họ, cùng gien, quá tin vào chủ nghĩa cộng sản, quá tin vào bàn tay và bộ óc của mình, quá ngạo mạn, tham lam.

Nhưng cũng là một cơ hội để (một số) đảng (viên) suy nghĩ tìm giải pháp cứu nguy đất nước, đặt quyền lợi quốc gia dân tộc lên trên lòng sợ hãi và quyền lợi riêng tư của đảng. Những người ký mật ước hay công hàm bán nước không phải là họ bây giờ mà là những người đi trước. Tội lỗi những người này, dân sẽ biết, sử sẽ ghi chép. Có nên hy vọng là, nếu làm được như… Yelsin của Nga thuở nào, người Việt tạo được cơ hội giúp đảng (mới, lãnh tụ mới ?) lấy công chuộc tội,…ra tay lật đảng cộng sản, lập thể chế mới, dân chủ, đa nguyên, chắc chắn nhân dân sẽ đồng lòng ủng hộ và hy sinh nếu đảng này hô lớn : toàn dân nghe chăng sơn hà nguy biến ?Và hẹn thề đưa dân tộc trở lại thời huy hoàng độc lập tự chủ 800 năm về trước như những Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão xưa kia ?

Giấc mơ này coi bộ khó đạt hơn nhưng đỡ tốn hao xương máu và dễ làm đối với đảng mới thoát thai  : thử tưởng tượng không những có tên ghi vào lịch sử, mà họ sẽ còn được dân biết ơn, ca tụng và yêu thương thật sự, có thể ra ứng cử vào những vị trí quan trọng và được toàn dân bỏ phiếu thuận để còn quyền điều khiển vận mạng đất nước mà không cần dùng bạo lực. Nhưng đây là lý luận ngây thơ bởi vì kẻ bán nước, muốn giàu sang cho bản thân và gia đình đổi lại thân phận nô lệ cho cả một dân tộc thì cách nào mà lay động tự tình dân tộc, lòng yêu quê hương nơi người không có tim óc ? Trái lại sẽ có lý hơn nếu tin tưởng mãnh liệt rằng đa số người Việt, hay đúng hơn đa số con người đều lựa chọn những nhân cách tốt đẹp hướng thượng.  

Ôi, khó như đòi phép màu huyền diệu, như đòi gặp rồng tiên nguyên thuỷ. Nhưng quyền quyết định và sức mạnh trong tay 85 triệu người Việt chứ không phải đảng và vài ba triệu đảng viên. Sức mạnh của tuổi trẻ và tâm thức, tinh thần Việt này còn tiềm tàng, lẩn khuất, con dân Việt nào chưa bi quan tuyệt vọng phải biết cùng nhau khơi dậy, nuôi nấng để tìm ra giải đáp.

Cùng một lúc phải tìm cách làm sao cho càng nhiều người Việt ý thức rõ ràng về bản sắc, vị trí, lòng tự hào dân tộc, biết tình hình đất nước trong quá khứ cùng hiện tại, thấu hiểu hậu quả tai hại cực kỳ của sách lược chính trị của các lãnh tụ Việt qua hàng ước bí mật này, về tính mạng ngàn cân treo sợi tóc, về cơn nguy thập tử nhất sinh, cận kề của nước Việt ngày nay.

Trong khi chờ đợi những người con Việt, chuyên gia về giáo dục, luật lệ, khoa học, kinh tế, quân sự, xã hội, chính trị cùng nhau soạn thảo những giải pháp, sách lược cụ thể[61], tìm cách liên kết với lương tâm thời đại cùng bạn hữu khắp nơi trong nước và thế giới, kể cả con cháu dân tộc Hán biết suy nghĩ, có tâm thức lương tri của con người hiện đại sống trong thế kỷ 21.

Chúng ta phải biết tự đổi thay và chuyển hoá để cùng nhau đoàn kết, yêu thương nhau, chung lòng nghĩ đến quê hương và đặt sự sống còn đất nước lên trên tất cả tị hiềm khác biệt về mọi phương diện giữa chúng ta. Đó là điều kiện quan trọng nhất và đầu tiên để tiến tới một hội nghị Diên Hồng. Không có vua, không cần vua. Bởi vì sẽ không còn một cơ hội nào khác nữa đâu.

Phan Thị Trọng Tuyến

14/12/2015 mừng Việt Khang mãn hạn tù, về với chúng ta.


—————————————————–

CHÚ THÍCH

 [58] Xem Đề cương của Lê Duẩn : dẩy mạnh cách mạng công nghiệp, nông nghiệp, kỹ thuật bla bla …

[59] Nhiều vùng phía Nam Tàu như Quế Châu, thủ phủ xa xưa của Nùng Trí Cao, còn đền thờ Hai Bà Trưng. Khi chúng tôi hỏi người guide gốc Thượng Hải về sự tích Hai Bà, cô ta bảo là huyền thoại về « bai bà phù thuỷ » ( witches)

[60] http://diendannguoivietquocgia.com/N…icle%20168.htm,http://kienthuc.net.vn/phong-thuy/tr…ba-120434.html http://www.nguyenthaihocfoundation.o…ngnuvuong4.php

[61] Thí dụ dùng tài liệu giáo khoa lịch sử do người Việt soạn thảo, xem xét luật lệ chính trị để : lập hồ sơ kiện Trung cộng ( luật sư Tạ văn Tài Harvard Law School ) xem 3 bài của ông ở thesaigontimes.vn.

Thí dụ kế hoạch tấn công/bao vây/cô lập các vùng người Tàu ( chiến lưọc gia quân đội ) vân vân và vân vân

Advertisements

Hãy ghi ý kiến, thắc mắc của bạn vào đây:

Trage deine Daten unten ein oder klicke ein Icon um dich einzuloggen:

WordPress.com-Logo

Du kommentierst mit Deinem WordPress.com-Konto. Abmelden / Ändern )

Twitter-Bild

Du kommentierst mit Deinem Twitter-Konto. Abmelden / Ändern )

Facebook-Foto

Du kommentierst mit Deinem Facebook-Konto. Abmelden / Ändern )

Google+ Foto

Du kommentierst mit Deinem Google+-Konto. Abmelden / Ändern )

Verbinde mit %s