CHIẾN TRANH VÀ TÌNH YÊU

         VĂN NGUYÊN DƯỠNG

Một giai nhân trí thức công giáo, vừa trên ba mươi tuổi, giáo sư Trung học, tha thiết yêu một học sinh tỉnh lẻ mười tám, chất phác. Một cuộc tình lãng mạn, đậm đà, say đắm. Hai kẻ yêu nhau biết sẽ không ai trong xã hội đương thời chấp nhận tình yêu và hôn phối giữa những người tình chênh lệch tuổi tác nầy, nên quyết định âm thầm kết hôn trước Thiên Chúa trong Nhà Thờ Đức Bà ở Sài-Gòn. Người vợ đóng cửa… dạy chồng thành người trí thức. Nhưng chiến tranh đẩy người thanh niên nầy vào cuộc chiến đầy phẫn nộ. Tình yêu của người khuê phụ thục nữ nầy là tình yêu chung thuỷ, biến cô thành một Pénélope của Việt Nam, hay như người thiếu phụ Nam Xương. Hằng ngày, cô giáo buồn bã nhìn những bóng nắng  tan dần, hằng đêm thao thức chờ ánh sáng bình minh, chỉ mong đợi một người, trong năm mươi năm liền. Tấm tình chung thuỷ nầy hợp với đức tin tôn giáo, hợp với đạo lý của dân tộc. Nhưng đẫm lệ…

Tác giả chống chiến tranh, ca ngợi tình yêu và lòng dạ kiên trinh, vợ hiền của các chiến sĩ Miền Nam Việt Nam trong cuộc biển dâu thế kỷ vừa qua.

———–oooOooo———-

CHƯƠNG I:  CÔ GIÁO SƯ THÁI HÂN

Mùa thu năm đó, không phải mùa Thu năm 1945, mà là mùa Thu năm 1948, Pháp đã trở lại Việt Nam. Ở Sài-Gòn có Dinh Norodom là Phủ Toàn Quyền Pháp, còn có Phủ Thủ tướng Chính phủ Quốc gia Việt Nam. Ở Miền Bắc, Việt Minh và Chính phủ Kháng chiến của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã bỏ Hà-Nội rút lên Mạn Ngược Việt Bắc trường kỳ kháng chiến từ cuối năm 1946. Việt Minh ở miền Nam và miền Trung cũng rút vào bưng biền đánh du kích từ mùa Thu năm trước. Nhiễu nhương đã bắt đầu từ nhiều năm qua, nay càng thê lương hơn. Nhưng người ta vẫn sống, và tôi vẫn phải lên Sài-Gòn tiếp tục đi học… vì vừa đậu xong bằng Tiểu học. Tôi đã bắt đầu đọc truyện Tàu, truyện trinh thám, đọc thơ, đọc văn… Cậu mục đồng ở một làng quê nhỏ bé đã biết đôi chút mùi vị chữ nghĩa.

Không biết từ lúc nào tôi đọc và nhớ mấy câu thơ…“Từ độ vào Thu đến nay, sương Thu lạnh, trăng Thu bạch, khói Thu xây thành, gió Thu đưa lá lìa cành, sông Thu mang lá rời ngành biệt ly…”

Tôi biết, không phải như vậy đâu. Miền Nam không có mùa Thu đẹp như Thi sĩ Tản Đà tả cảnh miền Bắc khi vào Thu. Thật ra, là một cậu bé sinh ra ở vùng đất mũi Cà-Mau, từ nhỏ tôi không hề biết mùa Thu là mùa nào trong năm, nếu không có mùa… Thu năm 1945. Năm đó, học trò lớp nhì, lớp nhất đều vào đội ngũ Thiếu Niên Tiền Phong, học hát các bài ca kháng chiến như “muà Thu nầy ngày hăm ba ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến.” Rồi giặc giã nổi lên. Rồi bỏ học, tản cư. Rồi hồi cư, đi học lại. Từ đó tôi mang nhiều kỷ niệm về mùa Thu.

Thật ra Miền Nam chỉ có hai mùa mưa, nắng.

Mùa thu của miền Nam đâu có sương thu lạnh trăng thu bạch, nhất là ở các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long, mà là mùa mưa liên miên, tầm tã, lầy lội, ngập lụt ngày này qua ngày khác.

Cư dân ở các tỉnh có sông ngòi nước ngọt không thích mưa cho lắm, nhưng ở xứ Cà-Mau nước sông mặn chát, thì cư dân dường như thích trời mưa hơn là trời nắng. Nhà nào khá giả mua lu, mua khạp, mái vú, xếp từng hàng quanh nhà, trong vườn, trên sân, hay xây hồ xi-măng để hứng nước mưa, chứa cho gia đình uống cả năm bảy tháng mùa nắng năm tới. Nhà nào nghèo hơn, phải “đổi” nước ngọt ở các ghe lường chứa nước đi “đổi”, thay vì nói đi “bán”. Đổi được một vài đôi thùng hai-mươi-lít nước ngọt để uống và nấu ăn cũng được vài ba ngày.

Mùa nắng, nước sông mặn đến đổi đêm tối trời, đám trẻ con ra bờ sông chơi, lấy miểng sành ném cho chạy trợt trên mặt sông sẽ thấy một làn lửa nổi lên chạy dài theo. Hoặc đứng cả đám trên cầu tàu… tè xuống nước cho nổi các tia lửa giống như cả bầy đom đóm bay tung toé trên mặt nước, hay giống như đốt pháo bông, rồi cười la vui vẻ. Những đêm tối trời như vậy, mấy chị, mấy cô xuống mấy cái cầu tiêu công cộng trên ven sông để đi vệ sinh, cũng không lạ với các đốm lửa toé dưới mặt nước, như pháo bông nổ. Thành ra ban đêm, khi rủ nhau đi… cầu, họ thường nói với nhau là “mình đi đốt pháo bông đi”.

Tôi có cô bạn học cạnh nhà, những đêm tối như vậy, đôi khi nhờ tôi… hộ tống cho cô xuống cầu bờ sông đốt pháo bông vì cô sợ… ma. Đứng đàng xa cũng đủ thấy cả bầy đom đóm bay túa trên mặt nước. Người tỉnh khác đến buôn bán thương hồ trên các sông rạch quê tôi rồi cũng biết điều nầy. Vậy nên có tiếng đồn rằng ở Cà-Mau con gái đái… ra lửa. Đây không hẳn là lời khen chê. Mà nói theo nghĩa bóng thôi. Vì thật ra, mấy chị ở thị trấn quê tôi, nhất là ở xã Thới Binh, nước da trắng ngọt, mặt sáng, răng trắng nên nụ cười có duyên, có lẽ nhờ nước sông ngòi mặn nên phần đông răng chắc, đẹp, lại ăn nói mềm mỏng, dáng điệu gọn gàng, nên trai xứ lạ đến, nhất là lính tráng, nếu gặp một trong các cô thương yêu thì, sau đó dù có vác súng đi nơi nào khác, nhưng vẫn… bỏ quên trái tim ở lại. Chết vẫn nhớ… em.

Mùa thu năm đó tôi cũng rời xa quê nhà, nhưng may quá còn giữ được trái tim mình đỏ tươi chưa bầm giập với cô nào, dù là cô hàng xóm bạn học thân nhất. Tôi lên Sài-Gòn học, sẽ khá lâu mới về gặp lại cô. Chỉ thấy hơi buồn buồn thôi.

Cô bạn học nầy cũng trạc tuổi tôi, mười bốn hay mười lăm gì đó, học giỏi nhất lớp và hình như có cảm tình với tôi nên thường cho tôi mượn bài vở cô làm xong, nhất là các bài giải toán, để… tôi cóp, rồi nộp cho thầy. Tôi rất dốt toán, vật lý và hoá học. Vậy mà tôi cũng thi đậu mùa hè năm đó. Cô học trò xinh xinh, có duyên, má lúm đồng tiền, tóc chảy xuống vai, trao cho tôi một tập vở để viết bài lưu niệm. Vì tôi đi học xa. Còn cô sẽ ở lại, học lớp Tiếp Liên, là lớp của những cô cậu đã đậu bằng Tiểu học, nhưng hoàn cảnh gia đình không cho phép học tiếp Trung học, hoặc không thi đậu có học bổ̉ng vào các Trường Trung học công lập Cần-Thơ, Mỹ-Tho hay Pétrus-Ký ở Sài-Gòn.

Ba tôi thì muốn cho tôi học Trường Dòng La-San Taberd ở Sài-Gòn. Trước ngày lên đường, tôi bí quá, không biết viết cái gì, bèn phết luôn mấy câu thơ trên của cụ Tản Đà mà tôi nhớ lõm bõm vào quyển lưu niệm của cô bạn học. Bề nào cũng là… biệt ly mà. Thơ lại đẹp, buồn, gợi cảm. Tôi còn nhớ loáng thoáng thêm mấy câu nữa, “nhạn về, én lại bay đi, đêm thì vượn hót ngày thì ve ngâm, cánh sen tàn tạ trong đầm, nặng mang giọt lệ âm thầm khóc hoa…” Tôi đọc đi đọc lại, cố sửa sao cho đúng, nhưng vẫn còn phân vân, không biết đúng hay sai, thôi cứ chép thêm mấy câu nầy vào quyển lưu niệm, rồi… ký tên. Cũng may, vừa xong thì, nàng tới. Nàng là bàng lân, nhà ở chỉ cách một khu vườn cây nhỏ, quen biết thân mật với các chị tôi, qua lại nói năng cười giỡn là chuyện thường.

-Anh Út, sáng sớm ngày mai Anh đi, phải không? Ráng lên Sài-Gòn học cho giỏi nghen! Mai mốt về em thưởng…

-Thôi đi, ngộ học dốt, nị biết quá mà, làm sao học giỏi được. Còn chọc quê người ta nữa!

Tôi vẫn xưng hô với Mỹ bằng các đại danh từ Chệt, ngộ, nị, vì không biết xưng hô bằng tiếng Việt như thế nào cho phải. Gọi bạn, xưng tôi thì cũng được, nhưng có vẻ không thân. Còn anh, em thì hổng được rồi. Đâu biết ai lớn hơn ai. Cô đứng ngang đầu với tôi, lại vừa trổ mã con gái dậy thì, trông đẹp và lớn xộn, lại học giỏi, nên tôi hơi… nể kể từ hai năm học chung lớp. Hay đúng ra kể từ khi gia đình tôi hồi cư về thị trấn Cà-Mau, ở gần nhà Mỹ cho đến hôm đó.

-Không phải mà, em nói thật đó!

-Khổng tin, chắc nị cho ngộ ăn trái cây vườn nhà nị gãy răng luôn phải không?

-Không phải, thưởng cái khác mà…

-Cái gì vậy?

-Không nói, bí mật. Hỏi Chị Hai đi… Nói xong Mỹ dường như bẽn lẽn, dợm thối lui.

-Khoan đã, lấy quyển lưu niệm rồi hãy đi.

-Vậy hả, em quên!

Mỹ cầm quyển lưu niệm lật ngay trang tôi vừa viết mấy câu thơ, đọc rồi la nho nhỏ:

-Anh Út, sao chép lại bài thơ “Cảm Thu, Tiễn Thu” của cụ Tản Đà cho em chi vậy? Bài nầy lúc trước em thấy hay quá nên chép lại trong một tập san rồi tặng cho anh xem mà, anh quên rồi sao? Anh chép trả lại cho em trong quyển lưu niệm nầy làm chi, em thuộc lòng nguyên bài rồi mà, còn dài hơn nữa!

Tôi nghe xong, như bị mắc nghẹn, hai tai nóng bừng. Nhưng cũng nói bừa…

-Ờ, thì… nhớ rồi. Chớ không phải vì hay quá nên ngộ học thuộc lòng mấy đoạn đó sao? Thì mai ngộ đi xa rồi. Thì… sông thu đưa lá rời ngành… biệt ly mà. Không phải sao, người đi để kẻ ở lại mà, không phải biệt ly sao? Vậy mà nị còn trách ngộ. Thì thôi, đưa lại đây, để mua quyển lưu niệm khác mắc đền cho.

Tôi thấy mắt Mỹ đỏ, sắp chảy nước mắt, nhưng nghe câu chót, Mỹ hoảng hốt nói:

-Không phải, em có trách anh đâu, em không biết hết ý của anh mà, em xin lỗi. Cho em giữ quyển lưu niệm nầy nghen, nghen anh…

Nói xong, Mỹ dông tuốt ra cổng rào. Tôi nhìn theo, còn thấy Mỹ ôm chặt quyển lưu niệm trước ngực chạy về nhà, vừa lau nước mắt, vừa cười mỉm.

Vậy đó. Ôi cảnh chưa… biệt ly sao mà… lạ thế! Mỹ đầy chân tình. Còn tôi? Đúng là tôi làm bộ thản nhiên, như không biết gì. Sau này, nghĩ lại, tôi thấy hối hận về chuyện này. Rõ ràng là Mỹ yêu tôi, với tình yêu con gái tuổi học trò. Vậy mà tôi tỏ ra thờ ơ với Mỹ.

Tôi thường nghe người lớn nói con gái ở tuổi mười bốn, mười lăm dậy thì, thường lớn khôn hơn con trai ở lứa tuổi đó. Mỹ là cô gái thông minh, giỏi giang, chẳng những giỏi trong lớp học mà còn giỏi việc nhà. Ngày thứ bảy, chúa nhật thường ra phố giúp mẹ buôn bán. Mỹ có người anh cả ra bưng biền kháng chiến, một em gái học cùng lớp với cô, và một em trai nhỏ. Ba cô bệnh, yếu, vì trước bị mật thám Tây bắt, tra tấn thành tàn phế, nên cô phải giúp mẹ cáng đáng chuyện gia đình kể cả chuyện buôn bán ở tiệm vàng gia đình khá lớn trong thị trấn. Đó là lý do mà Mỹ không thể theo học tiếp cao hơn.

Sáng sớm hôm sau, trời mưa to, nặng hột. Con đường từ nhà tôi ra bến xe lầy lội. Giữa lòng đường, nước mưa cuốn mất bùn bẩn trôi đi tự lúc nào, chỉ thấy mưa rơi trắng, nước trong veo tràn mặt đường chảy xuôi. Ngược lại, trên lề đường không tráng nhựa, đất vàng nhầy nhụa. Chị em tôi vẫn phải lội mưa ra bến xe để lên Sài-Gòn. Hai chị em chỉ đội chung một áo mưa. Chị Hai tôi mang guốc sơn, quần lãnh đen, áo bà ba lãnh đen, cái xách da đen có quai đeo trên vai, một tay túm hai ống quần, một tay bận che áo mưa cho tôi. Còn tôi, mặc quần tây dài màu trắng, săn ống quần cao tới gối, áo sơ-mi trắng tay ngắn, bỏ vạt vào lưng quần, thắt dây lưng da. Hai tay đều bận. Tay phải xách chiếc va-li nhỏ đựng mấy bộ quần áo mới và đôi giày ba-ta mới. Tay trái ôm cái nón cối màu trắng của học trò, mới được Chị Hai mua cho mấy hôm trước. Lại còn phải cầm thêm đôi dép da có quai, cũng mới toanh. Chị Hai nói:

-Chị em mình đi trên mặt lộ đi, nếu đi trên lề lấm lem hết.

Vậy là chị em tôi bước xuống đi giữa đường. Vừa qua trước nhà của Mỹ, đã thấy Mỹ chân trần vừa chạy ra, tay cầm cây dù đàn ông, lớn, giương lên, vừa nói:

-Chị Hai, để em che cho Anh Út, chị đội áo mưa đi, không thôi ướt hết bây giờ.

Và, không đợi trả lời, Mỹ chen vào giữa, che dù cho tôi. Chị Hai đội lại áo mưa, vừa nói vừa cười, có vẻ hài lòng:

-Cái con nhỏ nầy, làm tài khôn không hà!

Đáp lại là một nụ cười trong mưa ướt át của Mỹ.

Vậy là Mỹ cùng tôi… sánh vai lội nước. Chị Hai đi một mình. Tôi  sượng trân, nín khe, chịu cảnh…“đường trường xa, muôn vó câu bay chập chùng…” Làm bộ ngó lơ, kỳ thật đang vẩn vơ nghĩ về Mỹ. Phía bờ sông, nước sông chảy cuồn cuộn, mưa bay trắng xóa mờ ảo không nhìn thấy bờ sông bên kia. Tôi bỗng chợt nghĩ ra một câu hát nháy, và để phá tan sự im lặng không biết do đâu mà có, tôi hát lớn…“trời mưa to, nên nước mưa bay chập chờn…”

Chị Hai và Mỹ bật cười to.  Chị Hai nói bông đùa:

-Tức cảnh sinh tình rồi há. Hát nữa đi Út, cho em Mỹ nghe… mà nhớ, nha. Mỹ chen vào:

-Thôi chị Hai ơi, ảnh hát một hồi chữ nghĩa của người ta lộn tùng phèo hết. Ảnh không hát, em… cũng nhớ mà!

Chị em tôi quên cơn mưa, vì nó cũng vừa dứt hột, và đã đến bến xe đò. Bến xe cũng đã đông người. Mua vé xong, hai chị em lên xe ngồi. Mỹ đứng lẻ loi. Chị Hai ngồi băng ghế ngoài, ngó xuống, nói với Mỹ:

-Chị cám ơn Em, thôi về đi kẻo trời mưa lớn nữa bây giờ.

Tôi cũng nhìn xuống gặp đôi mắt ướt sũng của Mỹ, không biết vì nước mưa hay vì nước mắt… Rồi mưa lại đổ hột lớn nữa. Xe bắt đầu rời bến. Hai chị em vẫy chào Mỹ. Mỹ chỉ ngó theo với dáng buồn bã. Lúc đó tôi mới nhìn thấy cô mặc bộ bà ba đen, làm nổi làn da mặt trắng nõn. Rồi bóng Mỹ đẹp, buồn, cũng khuất dần dưới cơn mưa trắng xóa mịt mờ…

**

Xe Thiên Tân là hãng xe mới nhất có xe máy nổ dầu, còn nhiều hãng khác chở hành khách cũng chạy đường Cà-Mau lên Sài-Gòn, có hãng còn có xe chạy máy nổ bằng than đá, như hãng Đại Trung.

Xe mới, xe cũ, chạy trước, chạy sau từ bến xe Cà-Mau, đều phải dừng lại nối đuôi nhau ở Cua Trưởng Toà, cách Cà-Mau trên một cây số. Họ chờ lính bạt-ti-dăn và xe thiết giáp nhẹ, bánh cao-su, của quân đội trấn đóng Pháp mở đường xong mới được tiếp tục chạy lên Quận Giá-Rai rồi lên tỉnh lỵ Bạc-Liêu. Có ngày lính mở đường suôn sẻ vì Quốc Lộ 4, trên đoạn giữa Cà-Mau lên Bạc-Liêu này, không bị du kích đào đường, đấp mô gài mìn, hay phục kích bắn sẻ. May mắn là buổi hành trình đầu tiên của tôi lên Sài-Gòn hôm đó không bị trở ngại hay nguy hiểm, vì đoàn xe đã bắt đầu chạy, như Chị Hai nói:

-“May quá Út ơi, lính mở đường xong rồi, yên nên họ mới cho xe đò chạy. Lúc trước, có lần chị đi Bạc-Liêu, phải chờ đến trưa vì du kích giật mìn, phục kích ở gần Hộ-Phòng, lính mở đường bị chết mấy người. Xong rồi phải phá mô, lấp đường lại, xe mới qua được. Giặc giã, khổ lắm. Mỗi lần đi xa là mỗi lần sợ…”

 

Chiếc xe Thiên Tân mà chị em tôi đi, mới tinh nên máy nổ rất êm. Tuy vậy, cũng không chạy nhanh hơn các xe khác. Vì đoạn đường tráng nhựa từ Quận Cà-Mau lên Bạc-Liêu từ mùa Thu năm 1945 trở đi, gần như bị bỏ hoang, không ai tu bổ. Mặt đường loang lổ, chỗ còn nhựa đường, chỗ không, sỏi đá lòi lên lởm chởm, nứt nẻ. Thêm nạn bị du kích Việt Minh đào nhiều đoạn dài cả năm bảy thước. Lính Tây bắt dân sống ở thôn xóm dọc đường đắp lại, đất đá lẫn lộn. Có chỗ xe phải thận trọng lắm mới qua được. Nhưng hành khách phải xuống xe lội bộ, để xe nhẹ bớt sức nặng.

Mỗi lần hai chị em theo hành khách khác lội bộ như vậy chị Hai lại lầm bầm, “lạy Chúa tôi… qua được rồi!”

Chị mới gần ba mươi, từ trước chiến tranh cũng đã học Trường Nhà Trắng Sài-Gòn, lúc ba còn làm việc trong quân đội Pháp. Năm bảy năm trước khi Nhật đảo chánh, ba nghỉ việc về Thới Bình, chị ở lại Sài-Gòn tiếp tục học, thi đậu tú tài toàn phần Pháp, rồi đi dạy học mấy năm. Nhưng từ khi Nhật đảo chính Pháp, ba má tôi dời lên thị trấn Cà-Mau ở, chị từ Sài-Gòn cũng về đó. Vì sợ quân Đồng Minh đánh nhau với quân Nhật ở Biển Đông. Họ có thể dội bom thành phố Sài-Gòn.

 

Không bao lâu Việt Minh cướp chính quyền. Rồi tuyên bố độc lập, lập chính phủ ở Hà-Nội. Việt Minh ở Cà-Mau lập Ủy ban Hành chánh Kháng chiến Huyện. Pháp mang quân trở lại Việt Nam, đánh gần xuống Sóc-Trăng. Ba đi Tây Ninh, quê của má, mua gỗ, còn kẹt chưa về kịp. Má và Chị Hai đưa gia đình tản cư trở về xã Thới Bình. Rồi hồi cư, má bệnh, Chị ở nhà thay má trông nom các em và quán xuyến chuyện gia đình. Nên chưa chồng mà như đã trở thành một bà mẹ non, lúc nào cũng lạy Chúa tôi, mỗi khi có chuyện làm Chị lo sợ. Nhất là lo sợ không bảo vệ hay lo lắng được cho các em. Sợ các em ăn không no. Sợ các em dầm mưa dãi nắng, nhức đầu, xổ mũi. Sợ đủ thứ.

Chị Hai là chị cả, hai người anh thứ Ba và thứ Tư của tôi chết khi còn nhỏ, tôi không biết mặt. Anh Năm đã bỏ vợ, làm việc ở Quận Giá-Rai. Anh Sáu theo kháng chiến từ năm 1945, còn ở trong bưng biền, không có tin tức gì. Chị Bảy, mười tám hay mười chín, vừa đậu bằng Thành Chung ở Cần-Thơ về cả năm nay chưa làm việc gì. Ba bảo chị xin dạy Tiểu học, nhưng cả năm qua má trở bệnh nặng hơn, nên chị Bảy vẫn còn ở nhà, giúp chị Hai. Từ dạo hồi cư về, ba mở trại cưa, thường đi Tây Ninh, quê của mẹ tôi để chọn đặt mua gỗ súc cho trại cưa. Thời gian từ cuối năm 1946, dân chúng bắt đầu hồi cư, nhà cửa trong thị trấn bị du kích huyện đốt gần hết để tiêu thổ kháng chiến, nên khi trở về, nhiều gia đình phải cất lại nhà cửa. Cây, ván, cột gỗ, lá dừa nước, đinh ốc, xi-măng, gạch, ngói còn khan hiếm lắm.

Tôi mãi nhớ chuyện cũ nên xe đã lên đến thị xã Bạc-Liêu mới hay là trời đã trưa. Mưa hình như cũng chạy dài theo xe từ Cà-Mau lên Bạc-Liêu, nên hành khách người nào người nấy lấm lem vì mấy lần lội bộ ở mấy chỗ đường bị đấp mô, lại đói bụng. Tài xế hình như biết rất rành điều này nên cho biết sẽ ngừng lại bến xe tỉnh lỵ trong một giờ để bà con rửa mặt, rửa chân tay, cơm nước, cho khoẻ rồi sẽ đi tiếp.

Khi vào một tiệm ăn, rửa mặt, tay chân xong, ngồi vào bàn ăn ở một góc, Chị Hai coi tấm thực đơn để gọi thức ăn. Tôi nhìn chị. Và lần đầu tiên tôi mới nhận thấy chị vừa đẹp lại vừa có vẻ học thức với đôi mắt trong sáng lướt nhanh trên thực đơn. Tóc bới hơi cao, búi tóc đẹp vắt một cây trâm đồi-mồi, như kiểu của cô Thiều, sinh viên ở Hà-Nội về, vợ của Bác sĩ Nguyễn Tú Vinh. Tôi buột miệng hỏi:

-Chị Hai à! Chị đẹp như Cô Thiều. Sao đẹp vậy mà chị… không có chồng?

-Chúa ơi! Em hỏi chuyện gì lạ vậy cà! Không có là không có, làm sao ai biết mà hỏi. Có ai thương đâu mà có chồng… Chị Thiều nhờ đi ra Hà-Nội học cô-mụ chung trường Y khoa với Bác sĩ Vinh, nên họ… thương nhau trước rồi khi ra trường, về quê, mới làm đám cưới. Còn cứ ở nhà tối ngày như chị, có biết ai đâu?  Ba má lại khó nữa. Bây giờ… già rồi.

-Thiệt hả chị, đẹp vậy mà không có ai thương sao! Mà hồi chị còn trẻ, dạy ở Sài-Gòn, cũng vậy sao?

-Thì hồi đó cũng có quen biết ai đâu. Khi ra trường đi dạy thì ba má đã về Cà-Mau. Ở trọ nhà của Thái Hân, bạn học cùng lớp, dạy chung cùng trường. Cũng đâu có đi đâu mà quen biết ai. Mỗi sáng anh Hai của Thái Hân, làm kỹ sư ở Sở Trường Tiền, chở hai chị em đến trường bằng xe Traction nhà của ảnh. Bỏ Hân và chị ở đó. Trưa dạy xong, ở lại trường, ăn trưa, nghỉ trưa rồi dạy nữa. Chiều, ảnh đi làm về ghé rước hai chị về nhà. Nhiều lắm thứ bảy, chúa nhật hai chị em đi ciné, mua sách, dạo phố mua sắm chút ít gì đó. Rồi về nhà. Hết chuyện. Nếu có gặp ai ở ngoài phố để ý, thì họ cũng nhìn Thái Hân, vì nó đẹp, đâu có nhìn chị. Thôi bỏ chuyện đó đi, ăn cho xong còn đi nữa, chị gọi bánh tầm xíu mại Bạc-Liêu cho chị em mình. Ngon lắm. Ăn đi, cho kịp với người ta.

-Thái Hân là ai vậy chị? Phải cô giáo Ba không? Em lên nhà chỉ ở, đi học hả chị?

-Phải rồi. Cô gíáo Ba đó. Em lên ở đó đi học. Lên gặp thì gọi bằng chị Ba nghen.

-Dạ… Ờ, mà còn ba má và anh hai cô giáo còn khoẻ không chị?

-Tội nghiệp, hai bác và anh hai mất trước tản cư. Anh Hai cũng lái chiếc xe Traction đó, chở hai bác đi Đà-Lạt có chuyện gì không biết. Bận về, trời mưa, đường trơn trợt, qua cua thắng không ăn, xe tông xuống đèo, chết hết… Lạy Chúa tôi. Chị khóc hết nước mắt. Thôi, ăn đi, đừng hỏi nữa.

Tôi bỗng thấy chị rơm rớm nước mắt. Tôi hiểu được một phần nào về Chị Hai tôi.

 

Chị em tôi lại cùng hành khách lên xe. Xe rời bến, lại ra Quốc Lộ 4. Đoạn đường từ Bạc-Liêu lên Sóc-Trăng, lên thị xã Cần Thơ, còn khá tốt, xe chạy nhanh hơn. Đến bến bắc Cần-Thơ, mọi người phải xuống xe đi bộ qua phà. Xe đậu xếp hàng dài, chờ hàng giờ, mới đến phiên xuống được phà để chở qua sông, thường gọi là Sông Bassac hay là Sông Hậu. Hành khách mua trái cây, xoài, ổi, vú sữa, mận, đủ thứ, trước các dãy nhà lá lụp xụp ở hai bên lề đường trước khi xuống bến bắc. Mỗi căn của dãy nhà là một quán ăn, cũng bán đủ thứ thức ăn bình dân miền Tây. Ai thấy đói ghé vào ăn uống. Ai muốn mua trái cây, mặc sức mà chọn. Chị em tôi xuống bắc qua sông trước, chiếc xe Thiên Tân còn xếp hàng đợi ở bên nầy sông. Mưa vẫn rơi nặng hột. Đợi cho đến bao giờ mới dứt cơn mưa. Thôi qua phà trước cho xong.

Trên phà, đầy xe, đầy người. Tôi nhìn dòng sông rộng lớn, nước đục ngầu chảy cuồn cuộn. Bèo, lục bình trôi nhấp nhô dưới cơn mưa lớn phủ mờ trên sóng. Bỗng tôi nhớ lại buổi sáng sớm khi ra bến xe, nhìn mưa rơi trắng xóa trên sông Cà-Mau. Tôi nhớ Mỹ và nhớ lại câu nói của cô… “bí mật, hỏi Chị Hai đi”! Chị Hai tôi đang đứng sát bên, tay cầm chiếc áo mưa che cho cả hai chị em. Tôi hỏi:

-Chị Hai, Mỹ và chị có gì bí mật về em phải không?

-Bí mật gì cà, ai nói với em vậy?

-Mỹ chớ ai. Hôm qua cổ nói, em đi học giỏi về cổ thưởng. Em hỏi thưởng gì, Mỹ nói… bí mật, hỏi chị Hai đi!  Bí mật gì hả chị Hai?

Chị Hai tôi bật cười:

-Bí mật gì đâu… Nó thương em rồi đó. Ba, má có bàn với chị là con nhỏ đó đẹp nết, đẹp người, giỏi giang và để lòng thương em, nên khi em học xong hết tú tài phần hai, gia đình sẽ đi hỏi cưới nó về cho em trước. Rồi em muốn bay nhảy làm gì đó thì làm. Nó phải làm dâu nhà mình. Có gì đâu mà bí mật. Cả thị xã đều biết hết mà.

Chúa ơi, nghe chị nói, tôi sửng sốt. Tôi có biết ất, giáp gì đâu.

-Thiệt không chị?

-Sao không thiệt! Chịu Bội Mỹ không, nói đi?

-Sao em không biết? Tôi nói giọng chững chạc. Làm chị ngạc nhiên.

-Cả nhà ai cũng tưởng tụi em… thân thiện với nhau mà. Trao đổi sách vỡ, đi học cặp kè với nhau. Ăn nói thì… nị, ngộ… còn hơn thân thiện nữa. Thân mật lắm mà. Sao vậy? Bộ em không thương Mỹ à?

-Dạ, thì cũng có… chút chút.

-Vậy, còn hỏi gì nữa. Đầu tiên thì chút chút, rồi sau đó thì… nhiều nhiều. Phải không cậu Út?

-Không phải mà, không phải mà… Chị Hai!

-Phải, không phải gì. Còn chối nữa hả? Thôi đi lên, phà cặp bến rồi kia.

**

Trời đã xế về chiều khi xe đến Bắc Mỹ-Thuận, trên sông Tiền. Bến bắc Mỹ-Thuận có cùng một lối kiến trúc nghèo nàn như bến bắc Cần-Thơ trên sông Hậu. Xe lại chờ ở bến bắc. Trời vẫn chưa hết mưa. Chị em Thuỷ, Út Dân, lại qua phà trước.

Đứng trên phà với đứa em út, một cậu học trò sắp bước chân vào Trung học, Thủy ngán ngẫm nghĩ đến bước tương lai lâu dài của em. Là chị cả trong gia đình, với người cha thường bôn ba chật vật để lo cho cuộc sống chung, và người mẹ bệnh hoạn, Thuỷ đã phải dìu dắt các em vừa trải qua một cuộc chiến tranh mà chính Thuỷ không phân định được sẽ đưa đất nước đi đến đâu.

Thuỷ đã từng khóc khi thấy hai cơ ngơi đẹp đẽ của gia đình bị thiêu đốt trong ngọn lửa chiến tranh. Một bị tiêu huỷ bởi lệnh tiêu thổ kháng chiến khi du kích Việt Minh rút khỏi thị xã Cà-Mau để chống Pháp. Cơ ngơi khác ở làng quê Thới Bình, công trình gầy dựng lâu dài của Ông Một, ba Thuỷ, bị du kích chiếm làm trụ sở, sau đó lính người Miên, gọi là lính Thổ, của Pháp hành quân vào, đốt sạch ngày Tết Nguyên đán, đầu năm 1946.

 

Cư dân Xã Thới Bình và thị trấn Cà-Mau vẫn gọi ba Thuỷ là Ông Một. Vì lúc còn trẻ, ông tham gia Đệ I Thế Chiến ở Âu-Châu, lập được chiến công gì đó trong quân đội Pháp nên được phong cấp Thiếu úy. Ông hồi hương, cưới vợ, ở Sài-Gòn làm việc nhiều năm. Sau đó hai vợ chồng về xã Thới Bình lập nghiệp. Trở thành điền chủ. Trước chiến tranh ông bà lên thị xã Cà-Mau ở. Xây nhà mới. Ba có vựa cây, xưởng cưa. Má ở nhà dạy làm bánh khéo và nấu ăn cho các cô gái trong thị xã. Nay… đã trắng tay.

Bây giờ gia đình Thuỷ đang bắt đầu một hành trình mới, một công cuộc xây dựng mới. Thật là gian nan, khốn khổ vô cùng. Tội nghiệp nhất vẫn là ba Thuỷ. Một đời ông đả trải qua không biết bao nhiêu cuộc chiến. Chết sống trong gang tấc, mà rồi ông vẫn còn mãi bền tâm, bền chí, vượt bao nhiêu gian khổ, lo tìm lối thoát cảnh khó khăn cho gia đình. Không biết có bao giờ ông tìm được hạnh phúc, cỗi nguồn của cuộc sống và chơn lý của cuộc đời hay không? Hay hạnh phúc và chơn lý phải chăng là tình yêu mãnh liệt của ông đối với gia đình? Thuỷ nghĩ như vậy. Còn tổ quốc nữa… Ba đôi khi cũng kể cho Thuỷ nghe về tâm tình của ba. Ông bảo ông luôn luôn đi tìm cỗi nguồn của cuộc sống.

Thuỷ cũng tự hỏi mình, phải chăng hành trình của con người đi tìm cỗi nguồn của cuộc sống là hành trình đi vào chiến tranh và tình yêu?

Cậu bé nông dân của thị trấn nhỏ nhoi mới lớn lên sau cơn binh lửa tàn phá vừa qua, biết đâu rồi sẽ phải dấn vào những cơn binh lửa rộng lớn hơn sẽ diễn ra, như ba vậy? Út Dân lên Sài-Gòn học hay Út đang bước vào cuộc phiêu lưu vô định nào đó trong tương lai?

Cơn mưa lớn còn mờ mịt trên dòng sông CửuLong, làm mặt nước sôi trào cuốn băng đi hàng trăm mảng bèo, lục bình và những xác cây khô, cành đổ, ra vùng cửa biển mênh mông. Con người trong cơn binh lửa phải chăng cũng như những thứ vật chất hữu hình mà vô nghĩa kia, bị định mệnh kéo băng đi, vô định. Thuỷ nghĩ rằng chiến tranh sẽ còn đến, chẳng khác nào những cơn sấm sét nổ lớn với những tia lửa chớp sáng mang theo tiếng rền vang động, chợt tắt ngấm rồi chợt nổi lên nữa. Chiến tranh cũng vậy, chợt đi rồi chợt đến. Đâu biết được!

Nếu người ta muốn tìm lại sự thật của chiến tranh chẳng khác nào như đi tìm những làn chớp ngoằn ngoèo của sấm sét đã lặn mất trong những áng mây đen kịt kia. Người ta phải vạch trời hay vạch đất để tìm ra cho được ngọn tầm-sét có bóng mà vô hình đây? Không hề tìm được sự thật đâu… Thuỷ tự nhủ.

Hoạ hoằn lắm mới có những người đã nhìn được sấm chớp, những người đã đi qua cuộc chiến, mới nói lên được một đôi nét kệch cỡm của những tia lửa chớp chợt hiện rồi chợt biến, như những chiếc tàu bay của Pháp trên sông Trẹm năm 1945. Hay như bóng dáng ghê rợn của những tên du kích, theo bóng đêm bắt dân đào đường đắp mô, gài mìn, trên quan lộ. Hoặc bắt cóc buộc đá thầy thông, chú lính và bất cứ ai bị nghi là Việt gian, cho đi mò tôm trên sông Cà-Mau. Chúng quăng cả người còn sống, buộc chặt đá lớn,  xuống sông. Rồi bóng đêm phủ kín mọi dấu vết.

Những chuyện như vậy đâu dễ gì nói ra cho rõ, vì nó chỉ diễn ra trong bóng tối. Nguyên nhân nào tạo nên cuộc chiến cũng bí ẩn như vậy?

Đôi khi người ta nói lên đôi mảnh của sự thật. Phần lớn là những câu chuyện nguỵ tạo. Đôi khi chỉ là những chuyện vẽ vời thêm bớt, hay hoang đường. Và rồi người ta vẫn phải tiếp nhận thứ định mệnh vô hình, riêng hay chung, trong những cuộc chiến tranh mờ ám đó.

Vậy mà, ai đó cũng cứ hỏi, tại làm sao có chiến tranh? Người ta cứ lặp đi lặp lại mãi câu hỏi nầy! Những kẻ tạo ra nó giấu kín nguyên nhân hay nguỵ tạo những nguyên nhân nào đó để giấu kín sự thật, chẳng khác nào những cô gái phải lòng trai, như chính Thuỷ, mang tình yêu giấu kín trong lòng, trong tim… Và rồi người ta vẫn muốn sống và sống với tình yêu trong chiến tranh  kéo dài.

Còn tình yêu? Làm sao định nghĩa cho rõ ràng được! Thương… chút chút hay thương… nhiều nhiều. Nói cách khác, yêu sơ sơ hay yêu đậm đà. Yêu thương thì cũng như nhau. Hành trình này sẽ đưa Dân vào cuộc tình nào đây? Thuỷ tự hỏi. Chị Hai của Út, cũng như Út thôi. Đầu tiên chị yêu Anh… chút chút, nhưng rồi dần dần chị yêu Anh đậm đà. Nhưng cuộc đời không chìu lòng người. Đời đã phũ phàng với chị. Chị đã giấu nhẹm tình yêu ấy, Út ơi! Chị cũng giấu luôn cả ba má và các em.

Chị ước mong rằng có một ngày Út sẽ yêu Bội Mỹ nhiều thêm và có hạnh phúc. Không đau khổ như chị. Đau lòng mà câm nín ôm chịu là sự tàn phá tinh thần trầm trọng. Người ta sầu não, điên loạn vì nỗi đau gậm nhấm trong lòng. Nhưng không đâu Út, trách nhiệm đối với gia đình của chị rất nặng nề. Chị dằn cơn đau cho đến cuối đời mà trả công ơn sanh thành của ba má, và làm tròn bổn phận với các em. Trời còn mưa to mà chị em vẫn phải đi, phải không em? Đó là hành trình của con người dù mưa hay nắng, cơ cực hay sung sướng. Thuỷ nói thầm.

Hai chị em cùng che áo mưa lên bến bắc. Mưa bay phơi phới. Vô tình Thuỷ bật miệng ca: “đường trường xa, muôn vó câu bay chập chùng… trời mưa to, nên nước mưa bay chập chờn…”

Út bật cười:

-Đó thấy không? Chị bị lây bịnh của em rồi đó! Ủa, mà sao chị nhớ giỏi quá vậy?

-Dễ ợt. Cô tú, giáo sư, mà lị! Thôi đi lẹ, chị còn mua ít trái cây cho Thái Hân nữa. Để lên bến bắc rồi mua.

Hành trình nào rồi cũng kết thúc. Mưa cũng không theo chị em Thuỷ nữa. Thuỷ đã mua xong mấy trái ổi xá-lị và hai trái xoài tượng to, xanh óng, thiệt tươi. Xe Thiên Tân đã chạy qua Cai Lậy rồi lên thẳng Sai-Gòn không rẽ vào tỉnh lỵ Mỹ-Tho. Qua Tân-An, qua Cầu Bến-Lức, qua Bình Chánh rồi vào Chợ-Lớn. Trời đã đổ về đêm. Đèn xanh đỏ chớp nhoáng. Út Dân hào hứng ngó ra ngoài, nhìn ngang nhìn dọc, qua khung cửa nhỏ của xe đò, nói:

-Sài-Gòn đẹp quá hả Chị Hai. Đèn nhiều ghê, người ta đi cũng đông nữa!

-Mới tới Chợ-Lớn thôi. Ban đêm Chợ-Lớn đông vui hơn. Nhưng Sài-Gòn đẹp hơn, đèn cũng nhiều hơn. Người ta nói, “đèn Sài-Gòn ngọn xanh ngọn đỏ, đèn Mỹ-Tho ngọn tỏ ngọn lu, anh về học lấy chữ nhu, chín trăng em cũng đợi, mười thu em cũng chờ.” Còn em, em lên Sài-Gòn lần nầy là đi học. Học lấy chữ chữ nhu mà thêm chữ thức nữa để không uổng công Bội Mỹ đợi chờ nghen.

-Em biết rồi… Nhưng thức là cái gì chị Hai?

-Vậy mà cũng nói biết rồi. Thức là trí thức, tri thức, kiến thức và ý thức. Có bằng cấp cao, có hiểu biết rộng và thấu lẽ hành xử phải trái, có lương tâm, không coi thường đạo lý. Ý thức là quí nhất. Người trí thức mà thiếu tri thức, nhất là thiếu ý thức là nguy hại vô cùng.

-Thì, làm gì cũng phải suy nghĩ chớ chị Hai.

-Ờ, vậy mà không dễ đâu em… Thôi tới bến xe Sài-Gòn rồi. Mình xuống. Cái nón đâu? Em nhớ lấy va-li. Còn chị xách giỏ trái cây này. Cái giỏ quần áo của chị đây, nhưng còn cái áo mưa đâu rồi?

-Đây nè, em xếp lại rồi nè.

-Ờ, thôi xuống xe đi.

Lấy hành lý xong, Thuỷ và Út đi bộ đến nhà Cô Ba ở đường Frère Louis, cách bến xe ở Ngã Bảy Sài-Gòn không xa. Đi chừng vài trăm thước, thì đến nhà Cô Giáo, gần nhà Thờ Huyện Sĩ. Ngôi nhà một tầng lầu, với sân thượng, lẻ loi một mình, nằm trong một khu vườn nhỏ. Phía trước là một sân tráng xi-măng khá rộng, có mấy chậu kiểng nắn hình rồng phượng, bên trong hàng rào sắt. Hàng rào cao chừng quá đầu, cặp theo lề đường. Phía trên cửa vào ở hàng rào có nút chuông bấm để gọi vào trong nhà. Chị Hai bấm vào nút chuông. Cửa sắt trong nhà hé mở, ánh đèn từ trong hắt ra sân. Một người đàn bà chừng năm mươi vừa bước ra, vừa hỏi:

-Phải Cô Hai Cà-Mau không?

-Dạ phải, phải Dì Năm, con đây, có thằng Út nữa.

-Chúa ơi, sao trễ vậy, Cô Hai. Xe bị kẹt bắc hả? Cô Ba chờ từ chiều đến giờ.

-Dạ tại ở dưới trời mưa lớn lắm, lính mở đường trễ. Đường xá lại xấu lắm Dì Năm ơi. Chúa ơi, lâu quá mới gặp lại Dì Năm.  Dì khoẻ không?

-Dì khoẻ… Thôi, hai chị em vào đi.

Vừa qua sân, gần đến cửa sắt nhà trước, Út bỗng thấy một cô gái mặc toàn đen từ trong chạy ra, ôm chầm lấy chị Hai, vừa nói:

-Mi đó hả Thuỷ. Thuỷ ơi, mình nhớ mi quá. Vô đi, vô nhà đi…

Chị Hai chưa kịp trả lời đã bị kéo vào trong cửa sắt. Dì Năm cũng đã bước vô. Út tần ngần đứng lại, chưa dám bước vào. Nhưng khi nhìn vào nhà, Út không thể tin ở mắt mình. Một cô gái gương mặt thiệt đẹp, hiền, dáng người thon thả, đôi tay trắng nõn đang vòng ôm vai Chị Hai. Mắt cả hai đều đẫm lệ. Họ ôm nhau khóc, vùi đầu, áp má nhau. Không ai nói lên lời. Bỗng Chị Hai buông tay, vuốt vuốt chiếc lưng ong của cô gái, nói:

-Bốn năm năm rồi hả cưng. Tưởng không còn gặp nhau nữa. Mình mừng quá Hân ơi. Mi có nhớ mình không, hả cưng? Cô gái cũng buông Chị Hai ra, vén cao vạt áo lau nước mắt. Làn da của chiếc lưng eo trắng ngần như đôi cánh tay tròn lẳn trong chiếc áo đen tay ngắn, làm Út chợt rung động, tim đập mạnh như chưa bao giờ có trong đời. Cô gái mặc bộ đồ Thượng Hải loại áo ngắn, quần dài mặc ở nhà, bằng lãnh đen, viền vàng ở cổ và lai áo, làm nổi bật làn da trắng trong. Đẹp quá… và cử chỉ vô cùng dễ thương khi kéo vạt áo lên lau má. Đẹp như một thánh nữ.

Chị Hai nói:

-Thôi mi đừng tủi thân nữa, Chị Hai từ đây không bỏ mi nữa đâu!

-Gớm, bây giờ mới chịu xưng Chị Hai. Sau hồi đó không xưng cho sớm đề người ta tính cho gọn. Bây giờ ảnh mất rồi… Bỗng cô gái ngồi xuống chiếc ghế xa-lông, hai tay ôm mặt…

-Thôi, thôi đừng khóc nữa. Thằng Út thấy, nó cười chết. Lớn xộn rồi còn khóc hoài như con nít sao?

Nghe đến đó, cô gái như chợt nhớ ra, đứng lên.

-Ờ, tự nãy giờ quên, Cậu Út đâu?

Cô ngó ra cửa, Út vội vàng núp vào chỗ tối. Không biết Út sợ… gì! Chị Hai bước ra cửa gọi:

-Út, sao đứng đó? Vào nhà chào Chị Ba đi. Coi kìa. Vào đi.

Cô gái cũng bước theo ra, nói:

-Út đâu, vào cho chị xem coi có đẹp trai không? Vào đi em.

Út Dân giở nón ra ôm trước ngực, cúi đầu:

-Thưa… Chị Ba.

-Chào Út, thôi vào nhà đi em.

Út Dân tay ôm nón, tay xách va-li theo Chị Hai bước vào nhà qua khung cửa, loại cửa sắt kéo khép mở, cô gái bước theo nói:

-Nầy Thuỷ, nhìn Út xem… gần trổ mã con trai rồi hén, đẹp trai nữa. Đâu, đứng lại đo coi cao bằng chị chưa?

Út và Chị Hai đứng lại, Chị Ba đến đứng cạnh Út, cánh tay chạm vào tay Út, gây cho Út cảm giác lâng lâng. Chị nói với chị Hai:

-Thuỷ, mi coi Út đứng tới đâu?

-Ối, đầu nó mới quá vai mi một tí thôi. Mi cao chớ bộ… Vậy mà để coi, vài năm nữa mi phải đi guốc cao gót mới cao bằng nó đó. Nó lớn mau lắm.

Dì Năm từ nhà sau trở lên nói với Cô Ba.

-Dì hâm đồ ăn nóng rồi. Để cho Cô Hai và Cậu Út đem va-li lên lầu, tắm rửa rồi ăn cơm. Đi đường xa, đói, mệt rồi.

-Cám ơn Dì Năm, nhưng thôi Dì tắt lửa đi. Cũng mới tám giờ, để con đưa Thuỷ với Út đi ăn mì cho ngon. Dì đưa Út lên phòng nhỏ trên lầu, mình mới sửa soạn lại đó, rồi chỉ nhà tắm cho Út. Còn Thủy mi ra nhà sau tắm đi cho mát. Rồi mình đi…

Vậy là ai nấy đều làm theo răm rắp. Cô Giáo có uy thiệt, mà cũng giỏi sắp xếp. Chị Hai rơm rớm nước mắt, xá di ảnh Hai Bác và anh Hai của Cô Ba, đặt trên bàn thờ ở giữa nhà, dưới cây Thánh giá. Út cũng làm theo.

**

 

Tầng dưới nhà, phía trước là phòng khách đặt bộ xa-lông cổ, bàn khá lớn và hai ghế có tay vịn cẩn ốc xà-cừ, một ghế trường kỷ dài ngó ra cửa. Vách bên trái là một tủ cổ thấp dài, bên trên bày mấy chiếc lọ bình và bộ dĩa, chén Tống. Kế bên là một chiếc bàn bán nguyệt, để bộ bình trà và một bình thuỷ tinh tròn đựng nước uống có rô-bi-nê nhỏ, và mấy cái ly úp trên một chiếc khay. Vách bên phải là một sạp gụ láng bóng. Giữa nhà một bàn thờ kiểu cổ cũng cẩn ốc xà-cừ, phía trên cây thánh giá lớn bằng đồng, gắn vào vách tường. Trên bàn thờ có bộ lư đồng. Sát trong vách là ba khung ảnh lớn của Hai Bác và Anh Hai.

Hai bên bàn thờ hai là hai khung cửa nhỏ. Cửa bên phải đi vào buồng ngủ chính, khép kín. Cửa bên trái luôn luôn mở ra nhà sau. Nhà sau có sàn nước tráng xi-măng. Bước lên thềm, đến bàn ăn sáu ghế ở giữa nhà sau. Một chiếc sạp một người nằm gần khung bếp sát vách bên phải, rồi đến cửa hậu mở ra khu vườn nhỏ. Ngang bếp là buồng tắm và nhà vệ sinh.

Sát căn phòng ngủ chính, phía vách sau, là cầu thang xi-măng có tay vịn bằng thanh sắt, có nhiều bậc lên lầu. Phòng ngủ chính có cửa mở gần chân cầu thang, ra nhà sau. Ở sàn nước, có một rô-bi-nê nước máy cạnh hai bồn nước xây bằng xi-măng. Bồn nhỏ đựng nước máy, bồn lớn có nắp, chứa nước mưa.

Lầu trên, từ cầu thang đi lên, rẽ sang tay mặt là một hành lang nhỏ chừng gần hai thước qua hai căn phòng ngủ.

Phòng nhỏ, mở cửa ra hành lang và cửa sổ ngó ra phía sau, nhìn thấy  nhà sau của tầng lầu. Nhìn xuống cũng thấy được sàn nước phía dưới và gần trọn cả gian nhà sau của tầng trệt. Trong phòng đặt được một bàn viết có ngăn kéo, hai chiếc ghế, một giường ngủ đơn và một tủ quần áo. Tất cả đồ đạc trong phòng đều bằng loại gỗ cẩm phèo, rất quí, đóng kiểu mới.

Căn phòng thứ hai, lớn hơn cũng mở cửa ra hành lang, cũng có một cửa sổ song sắt hai cánh cửa gỗ, ngó ra sân thượng. Trong phòng, một bàn viết khá lớn đặt sát cửa sổ, hai chiếc ghế, một giường đôi, một bàn son phấn có gương soi kê sát đầu giường, một tủ quần áo, cùng mẫu mã mới như bàn ghế ở phòng nhỏ.

Khung cửa sắt của hành lang dẫn ra sân thượng cũng bằng cửa sắt kéo mở, như cửa trước của tầng trệt, nhưng nhỏ hơn, móc khóa bên trong.

Sân thượng có ba chiếc băng dài có tay và lưng dựa. Hai chiếc đối diện nhau kê sát hai bên hông, một chiếc khác dưới khung cửa sổ của căn phòng lớn. Đây thường là nơi hội họp của gia đình, nhất là những đêm trăng sáng. Cũng là nơi Anh Hai tập thể dục buổi tối với giàn barre fixe ở gốc phải sân ngoài. Mặt tiền của sân thượng và hai bên hông là tường bê-ton cốt sắt, cao ngang thắt lưng, bên trên là hàng rào song sắt mũi nhọn, cao quá đầu, bao quanh sân. Hai góc ngoài là hai cột xi-măng tròn cốt sắt cao hơn. Bên trên mỗi trụ là một bóng đèn điện tròn bằng trái bưởi lớn, màu trắng đục, thắp sáng vào ban đêm. Đứng trên sân thượng có thể nhìn xuống đường cái trước nhà và khu vực chung quanh.

Nếu lên cầu thang mà rẻ sang trái là một hành lang chạy ra phòng đọc sách đẹp đẽ, tiện nghi. Bên trong vách trái có hai chậu sành trắng rửa mặt với vòi nước mở, khóa trên mặt tủ cẩm thạch và một tấm gương lớn gắn vào tường, trước khi bước vào nhà tắm và nhà tiêu tráng gạch men trắng tinh. Các vách tường khác trong phòng được lát thêm một lớp ván dầy, cao hơn hai thước, đánh verni màu vàng nhạt. Các giá sách bằng trụ gỗ và ván dầy gắn dính vào tường vững chắc. Giữa nhà bày chiếc bàn gỗ quí dài ba thưởc, ngang một thước, nhưng chỉ có bốn ghế. Đó là bàn học. Trên bàn lúc nào cũng có một bình hoa hồng tươi. Mặt trước, là khung cửa gỗ từ hành lang bước vào và các khung cửa kính trên một bức tường thấp dài, bên trong có màn thêu trắng. Dưới các khung cửa kính chỉ bày một chiếc bàn vuông dài nhỏ và hai ghế sa-lon có tay dựa.

Trên các ngăn sách, xếp hàng trăm quyển sách của các nhà văn lớn thế giới Balzac, Beaudelaire, Flaubert, Hugo Maupassant, Montesquieu, Roland; Dostoievski, Gogol, Tchekhov, Tolstoi; Shakespeare, Thomas More, Charles Dicken, Charlotte Bronte, Emily Bronte, Graham Greene, Somerset Maugham; Carson Mc Cullers, Scott Fitzgerald, Ernest Hemingway, William Faukner, Herman Merville, Henry Miller, Edgar Poe, John Steinbeck. Kể cả những quyển sách quí cao đến năm tấc, dày hơn một tấc như Les Mille et Une Nuits. Những tập thơ Anh, Pháp. Các loại sách khoa học, và triết học Đức, Hy Lạp và triết học phương Đông. Hàng trăm quyển sách classiques về văn học Pháp dạy ở các lớp Trung học. Truyện Tàu như Đông Châu Liệt Quốc, Thất Quốc Chí, Tây Hớn, Tam Quốc Chí, Thiết Đường, Tàn Đường, Bắc Tống, Nam Tống, Nhạc Phi, Thuỷ Hử, Hốt Tất Liệt, truyện Thành Cát Tư Hãn Người Thù của Mặt Trời, truyện Thâm Cung Bí Sử triều đình Nhà Thanh. Sách của các học giả Việt Nam, Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh, Nguyễn văn Vĩnh kể cả các tập thơ Kiều, Cung Oán, Chinh phụ Ngâm, Kiều Nguyệt Nga, Phan Trần, Nhị Độ Mai, Bạch Viên Tôn Các. Một số truyện dài, truyên ngắn, của Lê văn Trương và Nhóm Tự lực Văn đoàn. Các tập thơ mới, thơ Đường. Chưa kể những bộ dictionaires Việt, Pháp, Anh, Hán dầy cộm. Đó là kho tàng tri thức của gia đình Bác Đốc phủ. Là nơi ấm cúng nhất với những ánh đèn chùm trên tường và đèn chụp trên bàn, toả ánh sáng dịu dàng. Công thành lập phòng đọc sách và sưu tập sách là của Anh Hai.

 

Thuỷ nhớ hết mọi chi tiết từ trong nhà ra ngoài ngõ của ngôi biệt thự hai tầng, rộng hơn tám thước và dài hơn hai mươi thước, như một căn phố đôi, lót gạch bông, nóc bằng, nằm trong một khu vườn đầy cây lá trên con đường Frère Louis nầy. Vì đó là nơi mà Thuỷ mang thật nhiều kỷ niệm của mối tình đầu say đắm, bỗng chốc hoá thành ảo ảnh, phù du. Thuỷ và Anh Hai thầm kín yêu nhau. Đã từng có đôi lần Anh cầm tay Thuỷ ở gốc ổi, gốc xoài trong vườn. Cũng có lần Anh hôn vào trán và định hôn môi Thuỷ ngay trên chiếc băng cây trên sân thượng, dưới khung cửa sổ nầy và nói, “Thuỷ, anh yêu em”.

Và, Chúa ôi, chúng con đã phạm tội khi Adam ăn trái cấm. Khi con đã để cho Anh hôn nồng nàn trên môi con. Để cho Anh ôm con vào lòng và để cho Anh nhè nhẹ cởi tấm áo nguyên trinh. Cái tội sơ-khôi này làm con nhớ suốt đời. Tấm băng trinh con đã thầm kín trao trọn cho Anh. Anh không cướp lấy nó. Anh trân trọng và nâng niu nó.

Nhưng chỉ ít lâu sau, Anh đưa Hai Bác đi biền biệt. Ngay đến ngày người ta đem xác Anh và Hai Bác từ dưới đèo lên chôn cất nơi nào đó trên Di-Linh, con cũng không thể lên trên đó để đưa tiễn Anh về với Chúa. Từ đó, con chưa chồng mà thành người cô phụ, Chúa ơi!

Bây giờ con trở lại đây, kỷ niệm bao quanh con. Con muốn quên, mà làm sao được. Con nhớ lắm, con nhớ thương Anh. Con nhớ từng li, từng tí trong ngôi biệt thự lẻ loi nầy. Mỗi nơi đều có những kỷ niệm riêng với Anh… Chúa ơi!

-Ủa, Thuỷ sao mi còn ngồi làm chi ngoài đó, không vào ngủ đi, khuya rồi. Tiếng Thái Hân vọng ra tử khung cửa sổ, làm Thuỷ dứt cơn mê.

-Mi ngủ trước đi. Mình còn còn đọc kinh cầu nguyện một chút đã.

-Thì vào đây đọc kinh cầu nguyện cũng được vậy. Ở ngoài đó làm chi cho lạnh. Mi dại quá đi!

-Ờ, thì vào đây, cô nương.

Thuỷ đứng lên, đi vào, khoá trái cửa sắt. Ngoài phố, tiếng gõ mõ cốc cốc của chú Chệt bán gánh mì khuya vọng lại, buồn thiu.

Sáng.

Những đọt nắng từ biển Đông tràn vào thành phố hực hở, chim trong vườn đã thôi gọi đàn đi săn mồi là lúc Thái Hân và Lãng Thuỷ đưa Út Dân đi phố ăn sáng, dạo phố và mua thêm một vài thứ cần cho Út để chuẩn bị nhập trường.

Cậu học trò tỉnh lẻ lần đầu tiên ăn bánh pâté-chaud và uống chocolat ở nhà hàng Givral thấy ngon lắm. Đường Sài-Gòn rộng rãi. Xe cộ chạy ngược xuôi, chậm rãi, trật tự. Phố xá tráng lệ. Nắng lên cao, hè phố bắt đầu đông người. Các quán ăn đông khách nhất.

 

Ăn xong đi dạo phố. Một cửa hàng bán dụng cụ thể thao ở đường Bonnard làm Út mê tơi. Không đợi hai chị, Út bước vào trước. Những cây vợt tennis hiệu Kramer, Wilson, khung cây đánh verni vàng nhạt, đan dây gân vàng đậm hơn, cán quấn giây da màu cam, màu vàng, hay trắng, thật hấp dẫn. Những chiếc vợt ping-pong hiệu Barnar mặt vợt cao su gai màu tím và hiệu Spora nhỏ hơn, mặt vợt gai đủ màu: xanh lá cây, xanh đọt chuối, vàng, đỏ trông còn hấp dẫn hơn vợt Barnar nhiều. Lại còn quần short, áo tennis trắng có cổ hiệu Palmier thật đẹp. Và không biết bao nhiêu dụng cụ thể thao khác nữa… Út Dân chỉ nhìn ngó, không dám rớ vào vật nào. Chị Hai nhìn em có vẻ thương thương, ngài ngại.

Cô Ba ngó Út, hỏi:

-Út, em thích thứ nào?

-Dạ, không… Em thấy đẹp chỉ nhìn thôi!

-Em có biết đánh tennis hay ping-pong không?

-Dạ, em biết chút chút…

-Ý, nó đánh ping-pong nhất, nhì, ở Cà-Mau đó. Tennis nó cũng giỏi nữa. Chị Hai vô tình chen vào.

-Vậy hả, Út chọn đi. Vợt tennis, vợt ping-pong, quần áo thể thao. Thứ nào cũng được. Chị Ba mua cho em.

-Thôi, thôi, nó có rồi. Để hôm nào rảnh, mình đem lên cho nó.

-Thôi đi, biết bao giờ mi mới rảnh. Út, chọn một cặp vợt ping-pong đi em. Hôm nào chị đưa em đi đánh cho chị coi thử.

Út tần ngần…

-Chọn đi, coi bộ vợt Spora đẹp hơn, gọn hơn, phải không? Mua một cặp nghe. Thêm một hộp banh nữa. Rồi mai mốt em dạy chị đánh ping-pong với.

-Dạ…

**

Trước khi Út Dân lên Sài-Gòn ở, đi học, theo sự trau đổi thư từ với Thuỷ, Thái Hân đã bàn tính với Dì Năm rồi, nên dành căn phòng nhỏ trên lầu cho Út. Phòng nầy trước đây là phòng của Anh Hai, Trọng Huý. Từ ngày Anh mất, căn phòng nầy bỏ trống.

Thái Hân vẫn ở căn phòng lớn kế bên, có cửa sổ ngó ra sân thượng. Trước đây, Hân ở chung với em gái út, Thuý Hằng, nhỏ hơn Hân bốn năm tuổi. Mới hai năm trước đây, Hằng có chồng theo chồng ra Nha Trang, Hân vẫn ở trong căn phòng nầy.

Trước năm 1945, hồi Thuỷ ở trọ đi học, rồi ra trường dạy chung với Hân. Hai chị em ở trong phòng nầy. Anh Hai còn sống. Út Hằng còn nhỏ ở phòng ngủ chính dưới nhà với má.

Lúc đó, Ông Đốc phủ, ba Thái Hân làm Phó Tỉnh trưởng ở một tỉnh miền Tây, ít về nhà. Nếu có về thì ngủ ở sạp gụ nhà trước. Dì Năm, một người bà con với má, côi cút, được má đem về nuôi mấy chục năm trước, vẫn quen ở nhà sau từ đó đến giờ, không thay đổi. Ông bà Đốc phủ mất rồi, căn phòng ngủ chính dưới nhà bỏ trống. Đôi khi vợ chồng Út Hằng và con trai nhỏ về Sài-Gòn ở phòng nầy.

Khi sắp chiến tranh Thuỷ về Cà-Mau, Hằng chưa có chồng, có chị có em, còn đỡ sợ. Từ ngày Hằng có chồng, Hân trấn lầu trên, Dì Năm không dám lên ở phòng Anh Hai, nên vẫn trấn… dưới bếp, Hân ngủ một mình trên lầu, vẫn để đèn ngủ sáng đêm. Nhà trên, nhà dưới, cửa nẻo đều đóng chặt, mà vẫn sợ. Sợ riết rồi cũng quen. Vẫn sống như vậy ngày nầy qua tháng nọ. Tâm lý con người lạ lùng lắm, Hân nghĩ. Bây giờ có Út Dân lên ở, có con trai trong nhà cũng đỡ sợ.

Nghe cảnh gia đình của Bác Truyền, ba của Thuỷ, mất mát quá lớn lao trong cuộc chiến muà Thu năm 1945, do Thuỷ kể lại sau khi đưa Út Dân lên, Thái Hân thấy thương cho Thuỷ và Út quá. Một người con gái đẹp đẽ nết na và  học thức như Thuỷ mà phải chôn vùi tài sắc trong trách nhiệm lớn đối với gia đình, làm Hân cảm xúc sâu xa. Còn một cậu con trai út, đến mười bốn, mười lăm, mà mới chỉ học qua Tiểu học. Trễ tràng biết mấy năm và còn biết bao năm nữa mới nên người đây? Nghĩ lại Hân cảm thấy mình và Út Hằng còn may mắn hơn Thuỷ và Út Dân nhiều.

Thái Hân chợt nhớ lại…

Thời gian Uỷ ban Hành chánh Kháng chiến Nam Bộ ra lệnh tản cư. Trường Nhà Trắng đóng cửa. Hân bỏ dạy, cùng em Út Hằng và Dì Năm, khóa cửa nhà hai ba lớp óng khóa rồi mới tản cư về Thủ Giồng Một. Ở đó, có khu vườn cây trải của ba má Hân do cô Tư, em gái của ba, góa chồng, ở chăm sóc từ hơn hai mươi năm trước. Mấy năm qua, Cô hơi yếu. May nhờ có con gái đã lớn và giỏi giang, nên cũng có người chăm sóc.

Con gái Cô Tư, tên Nhàn, cỡ bằng tuối Út Hằng, rất đảm đang, đậu Tiểu học rồi thôi học ở nhà coi sóc vườn tược. Một tay cô coi thợ trồng trọt, giọn vườn, hái trái và bán sỉ trái cây. Vài ba tháng sau khi tính tiền chi tiêu xong, tiền bán trái cây thu hoạch được, Nhàn đem xuống Sài-Gòn giao cho Hân. Hân chỉ giữ một phần ba, bỏ vào ngân hàng như quỹ riêng để bảo trì vườn cây. Còn hai phần để cho Cô Tư và Nhàn. Vì vậy Cô Tư vẫn dư giả.

Tản cư về vườn, Nhàn lo lắng cho hai chị em Hân kỹ lưỡng như Dì Năm. Nhàn còn bạo dạn đi Sai-Gòn vừa thăm chừng nhà cửa cho Hân lại còn cho Hân biết nhiều thứ chuyện ở Sài-Gòn lúc đó.

Mấy tuần sau ngày Cô Ba tản cư lên vườn, Nhàn đi Sài-Gòn với một người bạn gái, giao một ít trái cây cho bạn hàng. Khi Nhàn về nói cho Hân và cả nhà nghe là Chợ Bến Thành vẫn mở cửa. Người ta vẫn buôn bán dù chợ ít người hơn lúc trước. Hàng phố có nhà tản cư đóng cửa, có nhà cửa mở như thường ngày. Phố xá cũng có người đi, tuy ít hơn. Hàng quán có tiệm đóng, tiệm mở bán hàng. Các quán ăn cũng vậy. Đường phố xe vẫn chạy, xe đạp, xe xích-lô, xe gắn máy, có cả xe ngựa. Nhưng xe nhà binh cũng có. Lính ngồi trên xe đi tuần đường là lính Ấn-Độ của quân đội Anh. Nghe nói có cả lính Nhảy dù Pháp nữa. Họ thả cả mấy trăm người Pháp bị Nhật bắt nhốt hồi trước và phát súng cho để đánh với du kích.

-Còn lính Nhật đâu? Hân hỏi.

-Em không thấy. Biến đi đâu hết rồi! Không nghe ai nói gì về họ. Ôi, mà lính Nhật biến, hiện bất ngờ lắm, ai mà biết?

-À quên, quân Nhật thua trận rồi, còn biến hiện gì nữa. Chắc họ bị tập trung ở đâu đó chờ quân Đồng Minh vào giải giới. Có vậy Việt Minh mới cướp được chính quyền rồi tuyên bố độc lập chớ. Để coi nha… À phải rồi, Hoàng đế Bảo Đại tuyên bố độc lập trước rồi. Lúc đó Ông Trần Trọng Kim lập chánh phủ. Đến lúc Nhật đầu hàng, Việt Minh mới cướp chính quyền, tuyên bố độc lập lần nữa… đúng rồi. Vậy mà chị lẩn thẩn quá đi mất, quên trước quên sau! À mà còn bộ đội du kích Việt Minh đâu?

-Không biết còn ở trong thành phố không, hay họ đã ra bưng biền hết rồi. Em chỉ đi quanh quẩn ở Chợ Bến Thành và khu vực nhà mình đường Frère Louis, đâu có đi đâu xa, nên không thấy bóng người nào hết.

-Vậy Sài-Gòn có đánh chác gì không?

-Nghe nói hồi lính Nhảy dù Pháp vào với lính Anh, họ có đụng mấy trận nhỏ thôi. Ở đâu đó gần Tân-Định hay Tân-Sơn-Nhất gì đó. Bây giờ đâu còn đánh chác gì đâu.

-Em có ghé nhà chị không? Thấy nhà cửa ra sao?

-Dạ có. Em đến nhà thấy cửa hàng rào trước họ mở khóa đâu mất rồi. Nhưng cửa nhà trong vẫn khóa kỹ. Em đi vòng ra vườn ra sau nhà. Không thấy hề hấn gì hết. Chỉ thấy lá vàng rụng đầy vườn. Nhìn lên cây, ổi, xoài, vú sữa, không còn một trái. Thiệt buồn! Em đi mua ống khóa lớn khóa cửa sắt hàng rào trước lại rồi, mới đi về. Chìa khóa đây, Chị Ba. À, em có mua mấy ổ bánh mì Sài-Gòn với mấy hộp cá mòi nữa để dành cho Chị và Chị Út.

-Giỏi! Em giỏi lắm. Mà nghe em nói chị nóng lòng quá. Muốn về Sài-Gòn lắm. Coi bộ không sao đâu…

-Thôi, khoan ả Chị Ba. Nghe họ đồn, lính Pháp còn vào Sài-Gòn nhiều nữa. Không biết có yên không? Thôi Chị với chị Út ở đây, có má và em lo. Về đó có ai đâu? Nhà cửa còn y nguyên mà. Đợi ít lâu nữa coi sao!

-Ờ, phải rồi con. Ở trên nầy còn có Cô, có Dì Năm, có con Nhàn. Con với Út về Sài-Gòn, Cô lo lắm. Anh chị Ba và Anh Hai con mất cả rồi. Còn ai đâu…

Cô Tư nói tới đó thì bật khóc… làm Hân và Út Hằng tủi thân, cũng khóc theo.

Hân tạm thời bỏ ý định trở về Sài-Gòn lúc đó.

Quả thật như lời đồn đãi, chỉ trong tháng đó, lực lượng quân viễn chinh Pháp trở lại Việt Nam. Đạo quân nầy chiếm Sài-Gòn trước tiên. Ủy ban Hành chánh Kháng chiến Nam Bộ tuyến bố tiêu thổ kháng chiến, rút vào bưng biền. Quân Pháp nhanh chóng chiếm các tỉnh miền Đông, không đụng trận nào lớn.

**

Một buổi sáng, Hân thức dậy, đã thấy Nhàn chạy vào báo:

-Lính Tây vào tỉnh lỵ rồi. Có mấy gia đình chạy giặc vừa vào vườn nhà mình, Chị Ba ơi.

-Đâu, họ ở đâu? Để chị ra coi sao?

-Khoan, Chị Ba mặc bộ bà-ba đen vào đi. Chị Út cũng vậy nữa.

-Ờ, phải, chị thay liền! Hằng, thay quần áo đi em.

 

Trời vừa hừng đông. Không hiểu tại sao không nghe tiếng chim chíu chít trong vườn. Gà cũng không gáy sáng như mọi ngày. Hân ra ngoài sân với Nhàn và Dì Năm. Cô Tư, Út Hằng núp trong cửa. Hân hỏi nhóm người chạy giặc, chừng chín mười người đang đứng ngồi trong sân trước nhà.

-Xin bà con nói cho cháu nghe có việc gì trong tỉnh vậy?

Một người đàn ông khá lớn tuổi, vẻ học thức, trả lời:

-Cô ơi… lính Tây vào tỉnh rồi! Tôi tên Ngân, là thông phán Tòa Hành Chánh tỉnh, nhưng mới nghỉ việc. Nhà gia đình tôi ở gần Tòa Hành Chánh. Chừng quá nửa khuya, tôi nghe tiếng chó sủa hoảng, rồi tiếng xe chạy rầm rĩ. Tôi trở dậy, hé cửa nhìn ra, thấy đoàn xe nhà binh dừng lại trên đường. Lính Tây ôm súng từ trên xe nhảy xuống xông vào cổng lớn Toà Hành Chánh. Có mấy tiếng súng nổ lẹt đẹt rồi im bặt. Tôi sợ quá, đánh thức bầy trẻ dậy. Vợ chồng và ba đứa nhỏ lén ra cửa sau, chạy băng đồng ra khỏi thị trấn. Giữa đường gặp gia đình anh Giáo Thọ. Rồi chúng tôi chạy một mạch tới đây. Năm sáu cây số rồi cô ơi.

-Còn Bác Giáo đâu, hở bác?

-Chắc Anh Giáo còn đứng canh chừng ngoài đường.

-Không tôi đây, mới bước vào. Ngoài đường yên, vắng vẻ lắm. Chắc dân chạy giặc… chạy vào các vườn cây khác hết rồi.

-Thưa Bác, chỗ Bác ở trong phố có sao không? Hân hỏi bác giáo.

-Tôi là thầy giáo. Nhà ở gần Trường Tiểu học tỉnh. Hồi khuya nầy, đang ngủ ngon, bỗng nghe tiếng đập cửa rầm rầm. Chợt tỉnh, tôi nghe có người la gọi cửa, bằng tiếng Pháp: “Có ai trong nhà không? Mở cửa ra…”. Tôi sợ điếng hồn, nhưng nghĩ nhanh, chắc họ là lính Tây, nếu không mở cửa sợ tụi nó phá nhà vào, giết hết cả nhà. Tôi bạo gan trả lời lớn bằng tiếng của họ:

-Có tôi là chủ nhà. Tôi sẽ mở cửa…

-Mau lên. Mau lên!

-Vâng, thưa ông. Chờ tôi đốt đèn.

Tôi đốt đèn cầy rồi mở cửa. Trời bên ngoài sáng trăng, đủ cho tôi thấy một sĩ quan đeo lon Tây trên vai, cấp Trung úy và mấy người lính ghìm súng dài. Lập tức tôi nghe tên Trung úy nầy hỏi:

-Anh nói được tiếng Pháp phải không?

-Thưa ông, phải. Tôi là thầy giáo Tiểu học.

-Được! Chào Thầy. Xin cho tôi hỏi: -Trường học bên đó, có du kích đóng hay không? Chắc Thầy biết.

Tôi nghe viên Trung úy nầy ăn nói có lễ độ, nên yên tâm. Tôi nói thiệt:

-Tuần trước có chừng mấy chục người. Nhưng khi nghe tin quân đội các ông vào Sài-Gòn, họ rút đi đâu hết rồi. Trường đóng cửa, bỏ trống.

-Thầy nói thật phải không?

-Vâng tôi nói sự thật.

-Cám ơn Thầy. Thôi đóng cửa lại. Chúc ngủ ngon.

 

Vậy là họ kéo vô đóng quân trong Trường học. Vì vợ tôi đã mất, có một đứa con gái lớn nầy, và hai con trai nhỏ hơn. Bác chỉ vào mấy đứa con đang đứng gần bác. Rồi nói tiếp:

-Tôi coi bộ cái đám lính Tây nầy không làm dữ, vì tỉnh mình gần Sai-Gòn mà. Không lẽ họ giết hết dân sao. Còn lấy ai cho họ cai trị chớ? Nhưng vì có con gái lớn, nên cũng sợ, bỏ nhà dẫn tụi nhỏ trốn đi.

Hân nghe ông giáo nói cũng có lý. Cô nói:

-Cám ơn hai bác. Bây giờ xin mời Bác Giáo và hai Bác Phán vào trong nhà uống nước. Còn các em, ra vườn chơi hoặc nghỉ ngơi ngoài chái nhà. Trong vườn có trái cây chín, nếu thích thì hái ăn. Xong rồi mình ăn cơm. Em Nhàn, nấu nước pha trà đi em, rồi ra giúp Dì Năm bắt mấy con gà làm thịt đãi khách.

-Mà mà quên. Có em trai nào tình nguyện ra coi chừng đường không? Có gì thì báo động cho biết.

-Dạ có. Để em ra canh đường.

Một cậu con trai trả lời rồi đi ra cửa vườn.

Khi mọi người vào đến hàng ba, chưa kịp vào nhà, bác Phán Ngân bỗng đứng lại nói:

-Thôi, không được! Nguy rồi anh Thọ.

Thầy giáo Thọ và Hân cũng đứng lại. Thầy Thọ hỏi:

-Nguy gì vậy anh Ngân?

-Nguy cho anh đó. Trường hợp của vợ chồng tôi là lén đi không ai biết. Còn anh đã nói chuyện với tên quan hai Pháp. Tụi nó chân ướt chân ráo mới vào tỉnh lỵ, không rành ngôn ngữ của mình. Nên thế nào trong ngày nay nó sẽ đến tìm anh. Thấy nhà cửa trống trải, đồ đạc lung tung, nó biết anh trốn, tụi nó đốt phá nhà anh đó.

-Trời, đất. Anh nói có lý. Tôi không nghĩ tới việc nầy. Bây giờ làm sao đây anh?

Bác Giáo hỏi. Bác Phán nói:

-Tôi nghĩ, anh nên nên trở về nhà ngay. Bây giờ mới sáng sớm, anh về còn kịp. Nếu trễ quá, nó đến sớm thì… khó nói.

Hân chen vào:

-Phải đó Bác Giáo. Bác Phán nói có lý lắm. Cháu đề nghị bác dẫn cậu con trai lớn của bác về. Để cô con gái lớn và cậu trai nhỏ ở lại cháu coi chừng cho. Không sao đâu! Thôi bác uống nước đi, rồi về cho sớm. Theo bác nói thì viên quan hai Pháp đó chắc cũng hiểu biết.

-Cô nói phải. Cô cho tôi gởi hai chị em con Phượng ở lại với Cô. Xin cô giúp đỡ. Tôi với thằng Long đi về liền cho sớm. Thôi anh chị Phán ở tạm lại đây. Tôi về, rồi có gì tôi sẽ thông tin cho biết sau. Phượng và Lân ở đây chờ ba. Phải nghe lời Cô nghen con.

-Cầu Ơn Trên… phù hộ bác. Cháu chờ tin bác. Hân nói.

Bác Giáo Thọ và đứa con trai tên Long về thị trấn, bình yên. Mấy hôm sau, Bác cho cậu Long dẫn đường cho người em gái là Cô Phúc, trên bốn mươi, lên vườn gặp Thái Hân. Cô kể chuyện lại là bác Giáo Thọ về buổi sáng đó kịp lúc trước khi viên quan hai Pháp cho người đến mời bác Giáo vào Trường Tiểu học, nơi trú đóng của quân Pháp. Họ nói chuyện với nhau. Sau đó viên sĩ quan nầy chở bác Giáo lên Toà Hành Chánh, gặp viên Quan Tư chỉ huy các đơn vị Pháp trong toàn tỉnh.

Có thể nhờ các cuộc gặp gỡ nầy là cả tỉnh lỵ và vùng phụ cận bình yên, không có việc đốt phá nhà cửa bắn giết gì xãy ra. Trừ các vùng xa như Bến Cát, Dầu Tiếng, Bến Than, Hớn Quản, Lộc Ninh, Đồng Xoài, Bình Giã. Lính Lê Dương Pháp đi ruồng bố ở các vùng đó nếu bị du kích kháng cự, bắn trả, thì không tránh khỏi cả xóm bị đốt rụi, đàn bà con gái bị hãm hiếp, đàn ông con trai bị bắn giết.

Cô Phúc cũng là người có học nên hiểu biết, nói chuyện rành rẽ.

Cô cám ơn Hân và đem hai cháu về. Gia đình Bác Phán Ngân cũng trở về tỉnh lỵ.

Từ đó, Hân được biết, cả xóm vườn của Hân, gồm cả chục vườn cây của bà con trong thôn, không có cuộc đi ruồng bố nào của quân trấn đóng Pháp ở Thủ Giồng Một. Sau nầy Hân mới biết đó là nhờ bác Giáo Thọ.

**

 

Tuy nhiên, một vấn đề khác làm Thái Hân quyết định hồi cư trở về Sài-Gòn sớm hơn dự định.

Chừng một tháng sau khi gia đình bác Giáo Thọ và bác Phán Ngân trở về tỉnh lỵ, một buổi tối, Nhàn vừa thắp đèn nhà trên xong bỗng nghe có tiếng gõ cửa và tiếng gọi:

-Nhàn, Em Nhàn có nhà không?

Nhàn bước ra cửa nhìn thấy một người đàn ông, chừng ba mươi, dáng người tầm thước, đang đứng ngoài ngưỡng cửa. Nhàn mừng rỡ, nói lớn:

-Thầy! Thưa có phải Thầy Trường không?

-Phải. Phải, thầy đây trò Nhàn. Bây giờ Thầy chắc là không lộn nhà rồi. Hồi trước khác. Bây giờ hình như nhà có sửa chữa nên Thầy thấy hơi lạ.

-Dạ, có làm thêm một chái bên hông nhà. Thêm hàng rào ngoài đường. Mời Thầy vào. À mà  còn mấy người nào ở ngoài sân vậy Thầy? Nhàn hỏi.

-À, mấy đồng chí du kích của Thầy. Kệ, để họ đợi ngoài đó.

-Uả, bây giờ Thầy theo kháng chiến rồi hả. Em đâu có biết.

-Phải. Thầy theo cách mạng cũng lâu rồi Nhàn.

-Dạ, buổi lễ Việt Minh tuyên bố độc lập, Em có ra tỉnh nghe họ diễn thuyết. Tiếc quá, bữa đó không gặp Thầy. Thôi mời Thầy vào nhà. Để em báo cho má em biết Thầy đến thăm.

-Khoan đã Nhàn. Thầy muốn nhờ em giúp một việc. Xin nấu cho Thầy một nồi cơm chừng năm sáu người ăn. Mắm muối gì cũng được. Họ đi cả ngày nay, đói rồi.

-Dạ. Được mà Thầy. Em nấu liền.

Cô Tư tự nãy giờ đứng ở cửa buồng ngủ, nghe hết câu chuyện. Tuy không nhớ rõ người đàn ông nầy, nhưng nghe đối đáp, biết là thầy học cũ của Nhàn.  Cô bước ra, vui vẻ chào:

-Chào Thầy. Mời Thầy vào nhà. Để tôi nói với con Nhàn pha trà Thầy giải khát. Nghỉ mệt, rồi dùng cơm sau.

-Dạ, cám ơn Cô Tư. Cô khoẻ không? Cô còn nhớ cháu không? Cháu là thầy dạy Lớp Nhất của Em Nhàn hồi còn học ở Trường Tiểu học trong tỉnh. Lúc đó cháu có đến vườn nhà mấy lần với đám học trò.

-Cám ơn Thầy. Tôi nhớ.

Hai người ngồi bộ xa-long uống trà, nói chuyện vườn tược. Trong khi đó Hân và Hằng núp trong buồng ngủ, không dám ra. Dì Năm phụ với Nhàn nấu cơm ở nhà sau.

Đêm đó, Thầy Trường và các đồng chí du kích của Thầy ăn cơm xong ngủ trong gian chái bên hông mhà. Sáng, gà vừa gáy, Nhàn ra đó, không còn thấy ai nữa. Chỉ thấy tờ giấy nhỏ để trên bộ ván ngựa, bên trên dằn một trái xoài sống, ghi mấy chữ: “Xin cám ơn Cô Tư và Nhàn. Thầy, Trường Kỳ”. Nhàn mới biết Thầy Trường đi kháng chiến và đổi tên thành Trường Kỳ.

Từ đó, thỉnh thoảng ban đêm tối trời, thầy Trường Kỳ và mấy người du kích thường trở lại xóm thôn vườn, hàng xóm của Cô Tư. Thầy đến từng nhà nói chuyện, tuyên truyền kháng chiến, khêu gợi lòng yêu nước… Thầy ăn nói lưu loát, nhỏ nhẹ nhưng có sức lôi cuốn, nên có không ít con trai, con gái gia nhập đội du kích quân của Thầy, thoát ly ra bưng. Nhiều nhà ủng hộ tiền bạc, vải vóc và gạo, muối, khô, mắm. Có đêm Thầy cũng ghé nhà Cô Tư. Cô ủng hộ thứ gì, miễn cưỡng lắm Thầy mới cho du kích nhận. Thấy Cô Tư không được khoẻ, nên Thầy không kêu gọi Nhàn ra bưng biền.

 

Chuyện thầy giáo Trường Kỳ tuyên truyền kháng chiến này làm cho Thái Hân lo lắng. Sợ lính Tây biết được thì nguy hiểm cho cả xóm vườn trù phú nầy.

Từ ngày tản cư về vườn, chị em Hân ăn mặc như Nhàn. Quần áo bà ba đen, đội khăn rằn quấn luôn cổ, còn đội thêm nón lá và mang găng tay lao động mỗi khi ra làm vườn. Hai chị em lượm lá vàng rơi trong vườn, đếm trái cây cho vào rổ rá. Thường thì Nhàn hái trái. Dì Năm nấu cơm. Cô Tư đi ra đi vào ngó chừng Hân và Út Hằng. Cô mướn người đào hầm trú ẩn ở trong buồng ngủ của chị em Hân, nếu lính Tây có ruồng bố, chạy không kịp thì xuống  đó trốn. Cô Tư thương yêu và chăm sóc hai chị em Hân hết lòng.

Khách hàng mua sỉ vẫn đến mua trái cây chở về tỉnh lỵ. Hân đã có ý định hồi cư về Sài-Gòn, vì chưa có lúc nào lo sợ như lúc đó. Hân nhờ Nhàn ra tỉnh mang theo lá thơ gởi cho bác Giáo Thọ hỏi tình hình ở Sài-Gòn và nói rõ ý định hồi cư. Bác trả lời hãy đợi Bác vài hôm.

Không may cho Hân. Trong mấy ngày chờ tin tức của Bác Giáo, một buổi trời mới đổ về chiều, cả nhà sắp sửa ăn cơm, thì thấy thầy Trường Kỳ vòng cửa sau, vào nhà bếp. Thầy đến ngay mâm cơm, vui vẻ chào mọi người:

-Chào Cô Tư, chào Cô Giáo, chào Cô Út… Xin lỗi, vì tôi thấy cửa nhà trước đóng, nên đi vòng cửa sau.

Chúa ơi, bây giờ Hân mới biết rằng tai vách mạch rừng. Thầy giáo Trường Kỳ chỉ huy đội du kích tỉnh nầy đã tổ chức được một lưới tình báo nhân dân rất là bén nhạy. Có lẽ trong thôn xóm miệt vườn nầy nhà nào Thầy cũng biết rõ. Hai chị em cô từ thành phố tản cư về gần hai tháng rồi, lẽ nào ông ta chẳng biết. Chỉ vì chưa đến lúc ông ta muốn phát hiện mà thôi. Nay thì còn trốn tránh gì đươc nữa. Hân trả lời gọn bâng:

-Chào Thầy. Hôm nay Thầy rỗi rảnh sớm vậy? Nhân tiện, mời Thầy dùng bữa luôn. Nhàn, lấy thêm chén đũa đi em.

Nhàn đứng dậy kéo ghế mời Thầy:

-Thầy ngồi chỗ của Em đi. Chưa ai cầm đũa mà! Nhưng Nhàn cũng thay chén đũa, đặt trước mặt thầy Trường Kỳ.

Dì Năm cũng đứng lên, lấy thêm thức ăn. Rồi hai người đứng ở bếp, không dám ngồi vào bàn cơm nữa.

Thầy ngồi xuống ghế, đối diện với Cô Giáo.

-Cám ơn Cô. Tôi mới cơm nước xong rồi.

-Vậy à. Thôi, mời Thầy lên nhà trên nói chuyện, một chút tôi ăn cơm sau. Cô Tư với Út ăn trước đi. Nhàn cho chị bình trà, rồi đi ăn cơm. Dì Năm cũng vậy.

Nói xong Thái Hân đứng dậy, đi lên nhà trên. Thầy Trường Kỳ nhìn Cô Giáo, rồi cũng bước theo. Có lẽ Thầy cũng nhận thấy Cô Giáo tuyệt đẹp, nhưng cũng hiểu là Cô không phải là tay vừa, không dễ lấn áp.

 

Lần tiếp xúc đầu tiên nầy, thầy Trường Kỳ chỉ nói chuyện về thời gian học ở Sài-Gòn. Thầy nói về phong tục tập quán của người Sài-Gòn, cách ăn mặc thay đổi của đàn ông, đàn bà, con gái thành phố Sài-Gòn mà Thầy gọi là “thủ đô của ba xứ Đông Dương” của thực dân Pháp. Thầy tỏ ra cũng biết ít nhiều về gia đình Thái Hân. Thầy hỏi thăm chương trình dạy dỗ ở Trường Nhà Trắng của Hân. Thái Hân nhận xét là thầy Trường Kỳ rất lịch lãm, tinh tường, ăn nói hoạt bát. Nhưng không tránh khói việc đả kích thực dân Pháp, mặc dù cho rằng văn hóa Pháp khai trí cho dân Việt Nam hơn thời phong kiến hủ lậu. Tuy nhiên, theo Thầy thì dân tộc Việt Nam cần phải làm cuộc cách mạng “Bài Phong, Đả Thực”. Thái Hân chỉ nghe hơn là nói và chỉ trả lởi ngắn gọn những câu hỏi của thầy giáo cách mạng nầy.

Trời bắt đầu tối, thầy Trường Kỳ lịch sự cáo lỗi ra về.

Thái Hân hiểu ra rằng chị em Hân ở đây bị theo dõi sát. Lẽ dĩ nhiên không phải là Nhàn, mà bởi những cô gái ở trong thôn vườn nầy đã ngầm gia nhập hàng ngũ của thầy Trường Kỳ. Vì vậy việc hồi cư của hai chị em Hân có lẽ sẽ khó khăn hơn.

Mấy ngày sau, bác Giáo Thọ lại nhờ Cô Phúc, đã lên lần trước, theo mấy bạn hàng mua sỉ trái cây, lên vườn cho Thái Hân biết là ở Sài-Gòn, viên Toàn Quyền Pháp sắp thành lập Chính phủ Nam Kỳ và chiêu dụ dân Sài-Gòn và các tỉnh đã bình định xong, hồi cư. Nên chờ khi nào thuận tiện Bác sẽ cho người lên đón hai chị em về. Thái Hân không ngờ chỉ với sự chân tình giúp đỡ gia đình Bác mấy ngày mà được sự trả ơn đầy tình nghĩa của Bác Giáo.

Lần tiếp xúc thứ hai với thầy Trường Kỳ càng làm cho Thái Hân lo lắng hơn. Thầy làm ra vẻ tư nhiên, nhưng ánh mắt nhìn soi mói hơn vào thân thể Thái Hân. Mặc dù Thầy bắt đầu nói về cuộc cách mạng của Lê-Nin và giai cấp vô sản Nga. Nói về công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và giai cấp vô sản của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Đông Dương với chủ trương “trường kỳ kháng chiến”. Thầy tin rằng cách mạng sẽ thành công vì chủ nghĩa thực dân đã lỗi thời. Thầy cũng nói về Ủy Ban Hành chánh Kháng chiến Nam Bộ. Cách ăn nói của Thầy tỏ ra thân mật hơn.

Đến lần tiếp xúc thứ ba, thì rõ ràng Thầy khuyến dụ Thái Hân gia nhập hàng ngũ cách mạng bằng đưa ra những thí dụ về những nhà trí thức Miền Nam du học ở Pháp và Hà-Nội trở về, theo kháng chiến, hiện đang hoạt động  trong bưng biền.

Thái Hân nhận định rằng một thầy giáo Tiểu học có bằng Thành Chung mà sự hiểu biết và lòng yêu nước như thầy Trường Kỳ là rất hiếm. Vậy mà những điều Thầy nói không thể lọt được vào tai hay tạo ấn tượng mạnh trong khối óc tinh tế của Thái Hân. Cô nhận xét rằng tầm nhìn về thế thái nhân tình và cuộc diện đấu tranh của thầy Trường Kỳ là chủ quan, một chiều và cứng nhắc, thiếu sự rộng lượng và tình thương đối với các giai cấp cao của xã hội Việt Nam. Thái Hân mường tượng rằng nếu cần san bằng trở lực, kể cả giết người, để thực hiện cuộc đấu tranh giai cấp, thầy Trường Kỳ sẽ làm, không hối hận.

Ý nghĩ nầy khiến Thái Hân hiểu rằng không thể hợp tác được với Thầy dù là trong công việc hay tình cảm. Thầy xa cách với Thái Hân nhiều lắm kể cả về đẳng cấp và tư tưởng. Thầy không hề biết là Cô Giáo sư Thái Hân quá rành về cuốc Cách mạng 1789 của giai cấp bình dân Pháp và cuộc cách mạng dành Độc Lập với Tuyên Ngôn Dân Quyền ở Hoa Kỳ trước đó. Hằng cũng thừa sự hiểu biết về cuộc Cánh mạng Vô sản đẫm máu của Lê-Nin và Đảng Cộng Sản Nga đã tận diệt nền quân chủ lâu đời của Nga Hoàng. Thái Hân cảm thấy sợ những gì thầy Trường Kỳ nói hơn bao giờ hết.

May mắn đến cho hai chị em Thái Hân như một phép lạ. Sáng tinh sương hôm sau, một chiếc xe nhỏ chở mấy giỏ trái cây từ mạn trên về đến ngang vườn Cô Tư, bị nóng máy ngừng lại, Người chủ xe vào gõ cửa nhà xin nước đổ máy. Người vợ buôn bán trái cây cũng là bạn hàng quen với Nhàn cùng vào. Họ nói đáng lẽ phải về tỉnh lỵ từ chiều hôm qua, nhưng xe hỏng máy, sửa đến tối không về được. Sáng nay định về sớm nhưng chạy tới đây bị nóng máy nữa.

Thái Hân đánh liều xin cho hai chị em quá giang về tỉnh. Cả hai vợ chồng người bạn hàng nầy đồng ý. Vậy là cả nhà ra đưa hai chị em Cô Giáo và Dì Năm ra xe. Xe nổ máy chạy rồi, nhà ở vườn lân cận cũng chưa biết. Xe chạy một mạch không thấy trục trặc gì nữa. Vào tỉnh lỵ xe đậu lại gần Trường Tiểu học. Khi xuống xe, cám ơn vợ chồng chủ xe xong, mọi người còn nghe ông chủ xe nói vói lại:

-Mấy cô ngồi trên xe, nó chạy êm re, không trở chứng gì hết. Thiệt, xe cũng biết nịnh đầm. Lạ thật!

Thái Hân hỏi thăm và tìm được nhà Bác Giáo Thọ.

Đôi khi người ta phải tin vào định mệnh. Sự an bài của Ơn Trên thật kỳ diệu mà cũng thật trớ trêu. Từ chỗ xa lạ, người ta thành người thân, quí mến nhau. Từ chỗ thân thích người ta xa lìa nhau, thù hận nhau. Từ chỗ hiểm nghèo bỗng người ta tìm ra sinh lộ. Thái Hân và em đã thoát được cảnh nguy nan, nhưng Thái Hân lại sợ cho Cô Tư và Nhàn, không biết có được yên thân với thầy học cũ của Nhàn hay không? Thôi cứ phó thác cho định mệnh và chỉ biết cầu nguyện… mà thôi.

Ngày hôm sau, lại chính Cô Phúc em Bác Giáo Thọ đưa  hai chị em Hân và Dì Năm về Sài-Gòn. Ân nghĩa biết là bao nhiêu.

Hơn hai tuần sau Nhàn xuống Sài-Gòn thăm Hân và Hằng, cho biết tin tức miệt vườn của Cô Tư. Ngay buổi tối ngày hai chị Em Hân lên xe về tỉnh lỵ, thầy Trường Kỳ đến nhà với mấy người du kích cận vệ như thường lệ. Thầy không tỏ vẻ gì giận dữ hay trách móc gì Cô Tư và Nhàn. Chỉ nói rằng có lẽ Cô Giáo Hân quen sống ở thành phố nên không chịu nổi đời sống kham khổ ở vườn tược, quê mùa. Cô ấy không thuộc giai cấp bình dân, thì phải trở về thành phố thôi… Thầy buồn buồn không giấu được vẻ thất vọng. Từ đêm đó, không thấy thầy Trường Kỳ đến nhà nữa.

Chưa đầy một tuần sau đó, vùng thôn vườn nhà Cô Tư có một cuộc ruồng bố của lính Tây. Rồi họ lập ở đó một đồn quân do lính quốc gia, chừng mấy chục người, trú đóng. Lúc đó sự đi lại về tỉnh lỵ đã dễ dàng hơn. Còn thầy Trường Kỳ và đội du kích đã biến mất vào đêm tối, không ai biết tung tích gì nữa.

Quân Viễn chinh Pháp dần chiếm được hết miền Nam, miền Trung rồi kéo ra miền Bắc Việt Nam, qua Miên, lên Lào.

Ba bốn năm đã qua. Ở Sài-Gòn đã có một Chánh phủ Việt Nam với mấy ông Thủ tướng rồi. Và nghe nói Cựu Hoàng Bảo Đại sắp hồi hương. Học đường đã mở cửa. Hân đã đi dạy lại từ mấy năm trước. Út Hằng, từ ngày lập gia đình cùng chồng con mấy lần về Sài-Gòn thăm Hân, rồi lại đi. Ở trong ngôi biệt thự rộng lớn nầy, Hân cảm thấy mình cô quạnh quá. Đêm nào cũng thấy buồn và lạnh lẽo. Ngày nào cũng thấy tẻ nhạt. Dù học trò Trường Nhà Trắng trong các lớp mà Cô dạy dễ thương, dễ dạy và tỏ ra kính mến Cô. Dù các sơ nhà Dòng tỏ ra quí trọng Cô. Dù thỉnh thoảng bác Giáo Thọ, các con, Cô Phúc và gia đình Bác Phán Ngân từ Thủ Giồng Một xuống thăm viếng. Hân vẫn thấy cuộc đời trống rỗng, buồn tênh. Út Dân đến, đem lại cho Hân một niềm vui mới, một bổn phận mới. Hân tự nguyện sẽ giúp Út Dân thành công trong việc học vấn của Cậu.

**

 

Thuỷ phải về Cà-Mau sớm, nên ngày tựu trường, Thái Hân đưa Út Dân vào Trường La-San nhập học. Trường nằm ở đường Nguyễn Du ngang hông Nhà Bưu Điện chánh của thành phố. Cũng gần Nhà Thờ Đức Bà. Trưa, Dân đi bộ về nhà ăn cơm với Dì Năm. Từ nhà đến trường không xa lắm. Cô Ba đi dạy, buổi trưa không về nhà. Buồi chiều mới về. Hằng ngày Cô mướn một chiếc xe xích-lô đạp quen đưa rước Cô đi về. Trả tiền hàng tuần. Vì từ đường Frère Louis đến Trường Trường Nhà Trắng Saint Paul ở cuối đường Paul Blanchy cũng khá xa. Tối về, hai chị em ăn cơm chung với Dì Năm ở bàn ăn nhà sau. Mấy ngày đầu ngồi vào bàn cơm, Út không dám gắp thức ăn. Cô Giáo nhiều lần gắp bỏ thức ăn vào chén cho Út và thường bảo:

-Em gắp đồ ăn đi. Đừng rụt rè. Chị cũng như Chị Hai của em thôi! Ăn cho no mới đủ sức học.

Út Dân chỉ biết dạ, dạ… Tuy vậy cũng không dám gắp nhiều thức ăn và bới cơm thêm. Dì Năm biết ý, nên bới chén cơm nào cho Út cũng đầy ắp. Sau dần dần rồi cũng quen, vào bàn ăn, Út ăn uống tự nhiên hơn, không còn như mấy tuần đầu.

Buổi tối Út thường ra sân trước chơi, nhảy giây, tập thể dục, hít thở, đến khi Dì Năm đóng cửa mới vào nhà. Út đi thẳng lên lầu, tắm, đánh răng rồi vào buồng ngủ của mình là căn phòng nhỏ cạnh phòng lớn của Cô Ba. Út thường để cửa mở, ngồi học ở bàn viết. Thỉnh thoảng Cô Ba đi ra phòng đọc sách, hoặc khi cần xuống lầu có việc gì đó, đi ngang qua cửa phòng của Út, Cô thường ngó vào… cười, hay nói: “Út còn học hả?” Út chỉ… “dạ”. Đến khi ngủ mới đóng cửa phòng.

Út không bao giờ dám bước ngang qua cửa phòng của Cô để ra sân thượng. Nên đã hơn một tháng từ khi ở Cà-Mau lên, Út chưa biết ngoài đó ra sao. Hình như Cô Ba biết Út còn chưa tự nhiên như người trong nhà.

Một buổi tối, Út đang ngồi học, Cô Ba đến gõ vào cánh cửa buồng của Út. Út bước ra, Cô nói:

-Út, em ra trước sân thượng chơi, trăng sáng lắm. Chị nói chuyện với em một chút.

-Dạ…

Út xếp sách lại, bước ra theo sau Chị Ba.

Chị Ba mở cửa sắt, bước ra sân thượng và chỉ chiếc băng cây có lưng dựa, dưới khung cửa sổ của căn buồng ngủ lớn, bảo Út ngồi xuống đó. Cô cũng ngồi xuống cạnh. Út nghe như có mùi thơm dịu nhẹ thoảng chung quanh.

-Út nầy…

-Dạ…

-Nghe chị nói. Ông bà mình thường nói nhập giang tùng khúc nhập gia tùy tục. Em biết là gì không?

-Dạ, em biết.

-Vậy, chị nói em nghe. Chị Hai của em hồi trước ở đây với chị năm bảy năm, sống với nhau còn hơn chị em ruột. Chị cũng muốn em sống ở trong nhà nầy như Chị Hai trước đây. Ba Má, anh Hai chị mất rồi. Hằng, em út của chị, cũng có gia đình riêng, nó bận lo cho chồng con nó. Chị hầu như cô độc, không còn ai nữa mà chia xẻ nỗi buồn, vui… Mà chị có bao giờ vui đâu. Chỉ toàn những nỗi buồn. Em có biết không, trong căn phòng rộng lớn nầy đêm nào cũng cô quạnh. Lạnh lẽo vô cùng. Đêm nào cũng sợ. Nhiều đêm chị đã khóc. Nay, có em, chị cảm thấy không còn cô đơn nữa. Chị thương em như em út của Chị. Em có chịu không? Chịu làm em trai của chị không, hở Út?

Út nghe Chị Ba nói, thấy thương Chị vô cùng. Cậu muốn nắm hai bàn tay của Chị như nhiều lần đã từng nắm hai bàn tay của Chị Hai mỗi khi  buồn việc gì đó, như một cử chỉ an ủi. Nhưng đối với Cô Ba, Út không dám, chỉ nhỏ nhẹ thưa:

-Dạ, em chịu làm em… của Chị Ba.

-Út ơi. Chị mừng quá em ơi. Mà em có hứa thương chị và nghe lời chị như em thương Chị Hai hay không? Cô Giáo vừa nói vừa nắm hai bàn tay Út Dân.

Út nghe như hai bàn tay mát rượi và mềm mại của Chị Ba thấm vào da thịt làm tay Út run run… Mặt nóng bừng. Cảm giác khoái cảm lạ lùng nầy đến với Út là lần đầu tiên trong đời.

-Dạ, dạ em hứa…

Cô Giáo nói tiếp

-Chị cũng vậy nữa. Chị sẽ thương em và lo lắng cho em như Chị Hai. Từ hôm nay em là em trai út của Chị.

Cô Giáo buông tay Út ra nói tiếp:

-Bây giờ chị xếp đặt như vầy:

Mỗi tuần, sáng Chúa Nhật hai chị em đi nhà Thờ, rồi đi ăn sáng, dạo phố, mua sách vở hay các thứ cần dùng. Buổi chiều em đi chơi với bạn học hoặc rủ bạn đến nhà chơi.

Thứ Hai, buổi tối chị kèm toán, lý hoá cho em.

Tối Thứ Tư, chị dạy thêm Pháp văn.

Tối Thứ Sáu, em đem hết bài vở trong tuần học ở Trường cho chị coi lại.

Chiều Thứ Bảy, đi tập đánh bóng bàn hay quần vợt.

Các buổi tối khác em… tự do. Nhưng muốn đi đâu chơi phải cho chị biết. Em nhớ không? Suy nghĩ coi có gì bất ổn, ngày mai cho chị biết.

-À, còn cái giàn tập thể dục của Anh Hai ở góc sân đó, em ra coi đi. Buổi sáng sớm hay buổi tối, trước khi đi ngủ, nên ra tập cho khoẻ, mạnh và mau lớn… Không biết giàn barre-fixe đó em vói tới hay không? Ra thử đi. Em coi lại mấy thứ dụng cụ thể dục khác, thứ nào không xài được, bỏ đi, mua cái khác.

Út Dân chỉ biết… dạ, dạ và làm theo lời… Chị Ba.

Từ ngày đó Út Dân bắt đầu sống theo nếp sống nề nếp. Học hành giỏi hơn, ăn ngủ điều độ, thể dục thể thao đều đặn. Hân hãnh diện mỗi lần cùng Út đi nhà Thờ, hay đi phố mỗi sáng Chúa Nhật. Nhiều người nhìn hai chị em Hân.  Hân biết cả hai đều đẹp. Út đã lột hết vẻ quê mùa của cậu học trò tỉnh lẻ. Mặt mày sáng sủa, thông minh. Mắt sáng, mũi thẳng, răng trắng đều đặn. Cử chỉ thong thả. Ăn nói lễ độ, từ tốn. Nhất là ngoan ngoãn đối với Hân và cả với Dì Năm.

Hân tự thấy mình vui vẻ hơn và hình như trẻ lại. Trong nhà đã có tiếng cười. Hân biết Dì Năm cũng thương Út Dân như thương Chị Hai của Út trước đây. Lo cơm nước chu đáo với nhiều món ăn hơn. Lo giặt giũ quần áo và sắp xếp dọn dẹp gọn ghẽ căn phòng của Út cũng như của Hân mỗi ngày. Hân và Dì Năm tự tin hơn. Mỗi đêm không còn sợ sệt như trước nữa. Út đến với gia đình như một vừng ánh sáng làm thay đổi hẳn không khí và nếp sống buồn tẻ từ bao nhiêu năm qua. Út không hề tự đi đâu chơi một mình.

Tuần nào ba người cũng ra vườn lượm lá khô, nhặt cỏ chăm sóc lại từng chậu kiểng, từng luống hoa. Nhà cửa, vườn tược không còn mang vẻ lạnh lẽo âm u như trước nữa. Hân cảm thấy yêu đời và thương Út Dân lắm.

 

Hân cũng không ngờ rằng Út rất tài hoa. Hân nhớ lại lần đầu tiên đưa Út đến Cercle Sportif, một Câu Lạc Bộ thể thao nổi tiếng của Pháp trong thành phố mà trước đây Anh Hai đã từng là hội viên, để Út đánh bóng bàn thử coi có đúng như lời Thuỷ đã nói hay không?

Buổi thử thách đó chẳng những làm cho một huấn luyện viên của Câu Lạc Bộ ngạc nhiên, mà còn làm cho Hân hãnh diện. Út đánh thắng khít khao người thầy dạy thể thao nầy. Với lối đánh đẹp cả hai mặt vợt, phòng thủ chắc chắn, phản công dữ dội và tới tấp, làm cho mọi người đến xem vỗ tay nhiều đợt. Sau ba ván, ông thầy dạy thể thao bắt tay Út khen ngợi… và cho biết rằng Út có thể trở thành một tay vợt giỏi của thành phố, nếu được một bậc thầy vô địch Việt Nam như Mai văn Hoà hay Mai văn Chất chỉ bảo.

Hân chính thức ghi tên cho Út gia nhập Câu Lạc Bộ nầy.

Sau lần đó, Hân đưa Út trở lại tiệm bán dụng cụ thể thao Emile Bodin trên đường Bonnard mua mấy quần short và áo tennis, áo khoác màu trắng, mấy đôi giày, dớ thể thao và một cây vợt tennis Wilson gỗ ép cho Út. Hân thấy Út mừng như chưa bao giờ có…

Hân cũng nghĩ ra rằng, nếu đến câu lạc bộ thể thao mà mặc áo dài… coi không hợp chút nào hết, nên cũng mua cho mình mấy chiếc áo thể thao có bâu hiệu Palmier và một áo khoác trắng cùng hiệu, như của Út. Sau đó Hân vẽ kiểu và đặt may mấy chiếc quần tây dài trắng, ống hơi rộng một chút ở mắt cá chân, mấy chiếc áo sơ-mi trắng, có bâu như sơ-mi đàn ông, nhưng eo bó sát người. Hân cũng đặt đóng mấy đôi giày da màu trắng, gót lớn không cao lắm ở đường Gia-Long.

 

Các buổi đưa Út ra sân tennis của Câu Lạc Bộ, Hân thường mặc bộ y phục thể thao với kiểu vẽ riêng của mình. Áo sơ-mi dài tay có bâu bỏ trong quần tây dài, gài nút ở bên hông, màu trắng, mặc áo choàng, đi giày trắng. Hoặc giả chỉ đổi áo sơ-mi mặc áo tennis như Út. Tóc Hân bới cao để lộ gương mặt, cổ và ót trắng trong. Búi tóc cao đen mượt buộc một băng lụa màu vàng nhỏ. Hân trẻ trung, đẹp. Thân hình thon thả, cân đối, gợi cảm như một cô gái phương Tây. Nhưng với cặp mắt đen, tròn, ánh nhìn trang nghiêm và sâu lắng dưới đôi lông mi dài cong lên tự nhiên làm cho vẻ đẹp đó vẫn là vẻ đẹp phương Đông trang nhã, khả kính. Út Dân rung động khi nhìn chị Ba trông cách ăn mặc độc đáo này. Chị Ba trông thật sang trọng với một màu trắng tinh khiết…

Sự học hành và tập dợt thể dục, thể thao của Út, Thái Hân giữ cho tiến triển đều đặn như vậy từ khi nhập trường, nên trông Út Dân mạnh khoẻ và mau lớn thấy rõ. Út sống được cưng chìu như một đứa em út thật sự trong một gia đình hạnh phúc. Thái Hân mua cho mình một vélo-solex màu đen và cho Út một xe đạp đua màu trắng. Hai chị em đã có thể đi trường học, đi đánh quần vợt và nhiều sáng Chúa Nhật còn đi chơi Chợ-Lớn, Phú-Lâm, Thủ Thiêm, Tân Định, Bà Chiểu, Gia-Định, Hóc Môn. Cuộc sống của Hân không còn buồn bã như trước. Út Dân vui tươi hơn. Đã quen thuộc với Sài-Gòn, không còn bỡ ngỡ nữa.

Ba năm trôi qua mau chóng, mỗi lần về Cà-Mau nghỉ lễ Tết Nguyên Đán, Út Dân được cả nhà cưng yêu, chìu chuộng, nhất là Ông Một. Ông nhìn Út như là niềm hi vọng của gia đình ông, sau khi các con trai lớn, đứa mất sớm, đứa như bỏ quên đời bất cần cuộc sống, và đứa bỏ nhà theo kháng chiến bằn bặt đã nhiều năm. Út buồn và thương mẹ vẫn trong tình trạng tâm thần nửa tỉnh, nửa mê. Chị Hai và Chị Bảy cưng Út như trứng mỏng.

Bội Mỹ đã trở thành một cô gái mười bảy, mười tám, hoa khôi của thị trấn. Nhiều nơi dạm hỏi, nhưng Mỹ viện cớ nầy cớ nọ từ chối… chờ Út. Mỗi lần qua nhà thăm các chị và Út, vẫn nấn ná ở lâu hơn, muốn nói chuyện nhiều với Út. Nhưng tim óc Út đã bỏ quên ở đâu mất rồi. Chỉ ghi nhận là Mỹ đã đẹp hơn trước rất nhiều, thuỳ mị, đoan trang hơn. Nhưng không hiểu tại sao có một làn ranh hay rào cản vô hình nào đó khiến Út không muốn tiến gần hơn… Có lần Chị Hai trách Út:

-Út, sao chị thấy em thờ ơ với Bội Mỹ vậy? Hay ở Sài-Gòn mê cô nào rồi! Mỹ có lần nó khóc với chị là nó nói nó thương em… mà em hững hờ lắm. Em nhìn em xem… mỗi lần về ăn Tết có mấy ngày mà lúc nào cũng lờ đờ lẫn đẫn như người mất hồn… Sao vậy em? Hay có bệnh gì không?

Út thường giữ im lặng không nói gì. Chị Hai càng nghi ngờ hơn.

Cả đến các kỳ nghỉ hè đáng lẽ Út phải về quê ở cả tháng hoặc năm bảy tuần. Nhưng chỉ một tuần lại xin lên Sài-Gòn để học thêm khoá hè ở các trường tư thục.

Mỗi lần nghỉ hè Út Dân trở lên Sài-Gòn sớm như vậy, Hân mừng thấy rõ. Cả Dì Năm cũng mừng. Hình như Út đã trở thành linh hồn của gia đình. Út đã cao lớn, đẹp trai. Mỗi lần Út Hằng chồng và con trai nhỏ về Sài-Sòn thăm Chị Ba hay đi công tác, đều khen ngợi Út cả dáng dấp lẫn tánh tình.

Chồng Thuý Hằng là kỹ sư thuỷ văn, tên Thành, lớn hơn Hằng chừng ba tuổi, người Nha Trang học ở Pháp về và phục vụ ở Hải Học Viện Nha Trang. Thành gặp Út Hằng khi cô ra Nha Trang với phái đoàn Bộ Giáo dục ở Sài-Gòn thăm Hải Học Viện. Đó là hơn một năm sau khi Cô Ba và Út Hằng hồi cư, thời Bác sĩ Nguyễn văn Thinh thành lập chính phủ Nam Kỳ đầu tiên khi quân viễn chinh Pháp trở lại Việt Nam. Từ đó họ thư từ với nhau, yêu nhau rồi cưới hỏi nhau. Ra Nha Trang Hằng cũng xin được làm việc trong Hải Học Viện.

Út Dân gọi vợ chồng Hằng là chị, là anh. Út Hằng lớn hơn Út Dân năm sáu tuổi. Cũng đẹp như Chị Ba, nhưng nước da không trắng bằng. Cả Hằng và Thành đều coi Út như người em út của gia đình.

**

Mùa hè năm 1951, Sài-Gòn xáo trộn lớn từ đầu năm sau vụ học trò biểu tình. Cảnh sát, Công an Pháp dẹp biểu tình bắn chết một cậu học trò trai và bắt giữ hàng trăm cô cậu hóc trò khác. Các trường Trung học Sài-Gòn đóng cửa ít lâu, nhưng các khóa thi hằng năm đều mở như thường lệ. Út Dân thi đậu bằng Brevet du Premier Cycle hay Trung Học Đệ Nhất Cấp, chương trình Pháp. Năm đó Út mới học lớp Đệ Tứ. Cô Ba dự định cho Út bỏ luôn lớp Đệ III, vào học lớp Đệ II và Đê I phối hợp do một ít trường Trung học tư ở Sài-Gòn tổ chức. Cô sẽ dạy kèm thêm cho Út thi Tú tài I Pháp vào niên học mới 1951-1952 cho kịp với tuổi, vì Út đã bỏ học mấy năm từ hồi tản cư, năm 1945. Như vậy là Dân phải nghỉ học ở La-San.

Dân về Cà-Mau thăm gia đình mấy ngày rồi phải trở lên Sai-Gòn, cùng một người bạn học của Trường La-San tham dự cúp vô địch quần vợt học sinh Nam Phần dưới 18, tổ chức ở Vũng Tàu trong mùa Hè. Năm đó Út đã mười bảy tuổi Tây mà là mười chín tuổi Việt vì Út sanh nhằm tháng Giêng dương lịch, nên chịu oan một tuổi. Đó sẽ là lần chót Út tham gia vào sinh hoạt chung của Trường La-San. Út đã thành một một thanh niên tráng kiện, đứng cao bằng Chị Ba rồi. Nhưng cái mặt, tuy đẹp trai, mà còn bơ bơ. Không khôn lanh bằng các bạn cùng tuổi. Hình như Út quá hiền lành và chơn chất.

Vì đang nghỉ Hè, nên Cô Ba và Út Dân gần như mỗi chiều đều đến sân Cercle cho Út thao dợt với huấn luyện viên của Út.

Bỗng một một việc buồn đã xảy ra làm Thái Hân ray rứt không nguôi trong  nhiều năm sau..

Một buổi chiều Thứ Bảy, hai chị em đến tập quần vợt ở Cercle Sportif như thường. Không biết vì vẻ đẹp quí phái của Thái Hân trong trang phục thể thao thời trang, hay vì lối đánh quần vợt với hai mặt vợt trái phải đều, mạnh, của Út Dân, ở sân xa bên trong, số 6, số 7 mà vẫn thu hút khán giả. Mặc dù không phải các trận đấu của các danh thủ ở các sân số 1 số 2. Các sân này cũng dành cho những trận đấu cấp quốc gia và quốc tế.

Đối thủ của Út là huấn luyện viên của Câu Lạc Bộ. Chỉ là buổi tập dợt thường xuyên giữa thầy trò với nhau, nhưng không ít người xem, vì trận đấu kỹ thuật cao và ngoạn mục. Trong số khán giả, có vài sĩ quan Pháp và Việt Nam mặc quân phục, đeo cấp bậc. Họ đứng phía sau chiếc băng Thái Hân đang ngồi, trong khi Cô đang hồi hợp theo dõi trận đấu. Út Dân có những đường banh mạnh và thông minh.

Hiệp đấu vừa chấm dứt. Thái Hân đứng lên mang chiếc khăn lông trắng ra sân cho Út lau mồ hôi.

Khi hai chị em trở vào thì… được mấy ông khán giả không mời mà đến nầy đón chào nồng nhiệt. Mấy ông sĩ quan nầy bắt tay Dân nhưng… bắt chuyện với Thái Hân. Cô Giáo lịch sự trả lời và bị họ bao quanh, làm Út đứng lơ láo một mình. Thầy huấn luyện viên đến kéo Dân ra ngồi ở băng và khen ngợi lối đánh nhanh, mạnh cả hai mặt vợt cũng như những sơ hở của Út trong trận đấu thử lúc nãy, trong khi mắt Dân vẫn không rời… Chị Ba và các ông sĩ quan đó.

Thái Hân bỗng chợt nhớ đến Út, nên xin lỗi các ông khách lạ đó và đi trở vào với Út.

Sau đó, Út nói mệt xin Chị Ba về sớm hơn mọi hôm.

Về đến nhà, sau khi tắm, Út không ăn cơm. Chỉ xin Dì Năm một ly sữa. Uống xong, Út lên lầu vào buồng, đóng cửa.

Thái Hân và Dì Năm nhìn theo, lo lắng…

Hân ăn vội cho hết chén cơm, uống vội hớp nước rồi lên lầu. Cửa buồng của Út không khoá. Hân gõ cửa, không thấy Út trả lời. Hân mở cửa nhìn vào thấy Út đang nằm, hai tay buông xuôi trên giường, như đang ngủ mê. Hân bước vào, đứng cạnh giường, hỏi:

-Út, Em làm sao vậy?

Hân rờ trán Út. Bỗng Cô buông tay, chạy vội ra hành lang, gọi vói xuống phòng ăn tầng trệt:

-Dì Năm!.. Dì Năm, lên mau… Coi Út sao vầy?

Dì Năm buông đũa chạy lên.

-Đầu Út nóng như lửa Dì Năm ơi…

-Đâu, đâu, để Dì coi. Chúa ơi… sao nóng dữ vầy? Làm sao bây giờ Cô Ba? Chắc bị trúng gió. Để Dì đi lấy dầu cạo gió cho Út.

-Không phải đâu Dì Năm. Sao Út nóng mà nằm mê man vậy kià?

-Hay cô đi mời Cô Bác sĩ Quỳnh bạn Cô đến khám bệnh cho Cậu Út đi. Mới bảy giờ, còn sớm mà.

-À! Phải rồi. Dì đi lấy chìa khoá cửa nhà trước cho con, rồi lên đây, canh chừng Út. Thấy đổ mồ hôi thì lau. Tốt hơn Dì lấy cái khăn lông lau mặt của Út nhúng nước vắt khô đắp lên trán cho Út nghe. Có gì cũng ở đây, không đi đâu hết, nghen Dì Năm.

Thái Hân không kịp thay áo, chỉ mặc thêm chiếc áo choàng thể thao, vội vã đi đến nhà Bác sĩ Quỳnh, trước là bạn học Trường Nhà Trắng, đang ở cách nhà Hân chỉ chừng ba căn nhà.

Bác sĩ Quỳnh đến. Sau khi đo thuỷ, đo áp huyết cho Út và cẩn thận đặt ống nghe tim, nghe phổi, vạch xem mắt và bắt mạch Út xong, Bác sĩ Quỳnh hỏi:

-Cậu này là ai vậy? Bị bệnh hồi nào vậy Hân?

-Dân, em út của Thuỷ ở Cà-Mau, bạn cùng lớp với Quỳnh và mình hồi đó. Út lên ở đây học đã ba năm rồi. Mới bị nóng lúc nãy thôi. Tại sao vậy Quỳnh?

-À, mình nhớ ra Thuỷ Cà-Mau rồi. Hồi chiều, Cậu Út làm gì? Có cơm nước gì chưa? Bác sĩ Quỳnh hỏi.

-Út đi đánh tennis về. Chỉ uống sữa, không ăn cơm, rồi lên buồng nằm. Mình thấy lạ, rờ trán thấy trán nóng quá mà nằm như ngủ mê, mình chạy đi nhờ Quỳnh.

-Trường hợp nầy cũng lạ. Tim, phổi bình thường. Hơi thở đều đặn nhưng huyết áp hơi cao một chút. Nhiệt độ cũng cao nhưng dưới 40 độ C. Không có gì đáng lo ngại về độ nóng này. Sức đề kháng của tuổi trẻ rất mạnh, nhưng không hiểu sao Cậu Út muốn buông trôi… Chỉ ngủ mê chớ không phải ngất xỉu.

-Vậy, bây giờ làm sao đây, Quỳnh?

-Mình cho mấy viên thuốc nầy. Một chút nữa, Út tỉnh ngủ cho uống sữa và một viên. Bây giờ cứ nhúng khăn đắp trán như vầy là được rồi. Nhưng phải canh thay nước. Sáng thức dậy cho uống sữa rồi uống một viên thuốc nữa. Nếu thấy hết nóng thì thôi. Ban đêm, có trở chứng gì, báo cho mình biết ngay.

Bác sĩ Quỳnh xếp túi thuốc và dụng cụ khám bệnh lại đặt trên bàn viết, ngồi xuống ghế, nói với Hân:

-Này Hân, ngồi xuống đi. Cho mình biết trong mấy tháng qua, nhất là trong mấy ngày qua, Út có gì bất thường hay không? Thí dụ như vui vẻ quá trớn hay buồn bã, trầm tư. Có tỏ ra nhớ nhà, nhớ quê hay không? Có lần nào làm việc gì quá sức, bị cảm ho, nôn mửa gì không?

-Không. Út ít nói, nghiêm trang. Vui cũng chỉ cười nói bình thường. Không thấy triệu chứng gì buồn bã. Út rất khoẻ. Không làm gì quá sức, không thấy bệnh hoạn gì hết cho đến buổi tối này khi đi đánh tennis về.

-Hãy nói rõ, Út đánh… có nhiều quá không? Trong sân tennis có gì gay cấn làm Út phật lòng, hay tức giận điều gì, hoặc cãi lẫy cùng ai không? Có bị té ngã hay không?

-Không. Út dợt với huấn luyện viên. Chỉ đánh có một sết thôi. Hai người rất tương đắc. Thầy trò quí mến nhau. Không tranh cãi với ai. Không có té ngã, hay mệt quá sức.

-Lạ vậy! Nầy, trong sân ngoài ba người ra còn ai nữa không? Họ có làm gì phiền Út không? Đây không phải là trường hợp bị trúng gió như người ta nói? Trúng gió thường nôn mửa tiêu chảy, tay chân uể oải, nhiệt độ không cao. Út nhiệt độ tuy cao, nhưng không cao lắm. Tại sao nằm ngủ mê man? Có thể là bị sốc về việc gì đó, ảnh hưởng đến tâm lý. Bị động não mạnh nhưng buông xuôi, không muốn đối kháng, để cho cơn mê vật rã rời trí não. Đó là lý do chánh làm cho đầu bị nóng ran.

Có thể đó cũng là triệu chứng bắt đầu của loại bịnh tâm lý thường thấy là… buồn nản, ganh tị và thất vọng.

 

Tâm trạng thất vọng, vì có cảm tưởng thua thiệt hay mất mát lớn lao, hoặc niềm hi vọng nào đó bỗng chốc biến thành ảo tưởng bất ngờ quá, đưa đến tình trạng trầm uất. Thất vọng mới chỉ là bắt đẩu. Thường thì bệnh gây nên bởi nỗi nhớ… như trẻ con mồ côi nhớ mẹ. Người yêu nhớ nhau như… thất tình. Quan trọng nhất là những trường hợp bị thất vọng hay tuyệt vọng  về… tình yêu của những cô cậu trẻ tuổi.

Ở tuổi mới thành niên như Út không thể nhớ nhà quá độ như trẻ thơ lên bảy lên mười côi cút… nhớ mẹ. Cũng chưa có sự nghiệp lớn lao gì mất đi để đáng nhớ tiếc. Tóm lại, với tư cách là một bác sĩ bệnh lý và tâm lý trẻ con, mình kết luận là Út đang bắt đầu lâm bệnh trầm uất… vì ghen tị và cảm thấy bị thua thiệt. Rồi thất tình thì đúng hơn. Như yêu mà không thể nói, ghen tuông mà ôm kín trong lòng. Thất vọng lớn quá sẽ phá hoại trí não, tâm hồn và thể xác của con bệnh. Nguy hại vô cùng. Út có bồ chưa vậy Hân?

Thái Hân vừa nghe xong, rơm rớm nước mắt. Cô trả lời và nói như cầu cứu:

-Không. Không thấy Út có bồ bịch gì hết! Quỳnh, Quỳnh ơi… bây giờ làm sao? Hở Quỳnh!

Bác sĩ Quỳnh quay sang nói với Dì Năm đang đứng ngoài cửa buồng:

-Xin Dì nấu cho một bình thuỷ nước sôi, một bình nước lạnh, một cái khăn nhỏ. Dì ở dưới coi củi lửa, chừng nào cần tôi gọi, sẽ đem lên. Còn Hân, cậu nghe mình hỏi.

Hân lau nước mắt, kéo ghế ngồi gần cô bạn bác sĩ.

-Cậu phải nói thật nghe! Quỳnh nói.

-Mình sẽ nói thật.

-Hồi chiều, ở sân tennis, ngoài hai thầy trò Út ra, còn có ai nữa. Lúc nãy, mình có hỏi, cậu chưa trả lời.

-A, bây giờ mình nhớ rồi. Ngoài rào, người ta xem hai thầy trò Út thao diễn cũng khá đông. Nhưng có bốn năm ông sĩ quan Pháp và Việt Nam đi vào sân. Khi trận đấu vừa dứt mình ra sân đem khăn cho Út lau mặt thì mấy ông này theo mình ra sân và lịch sự chặn mình lại… hỏi thăm. Trước tiên là khen ngợi Út. Rồi một hai người khen mình đẹp. Hết người nầy đến người nọ hỏi chuyện lung tung, mình cũng không còn nhớ nữa…

-Họ còn trẻ không?

-Trẻ, không ai quá ba mươi.

-Thôi, phải rồi. Nếu lúc đó cậu nhìn Út sẽ thấy mặt mũi Út như thế nào thôi! Oan gia rồi Hân ơi. Như cậu nói, Út chưa có bồ, vậy Út nó… thương cậu rồi đó. Út bị sốc và đầu óc choáng váng khi tự mình so sánh với mấy ông sĩ quan trẻ mà Út cảm thấy xứng đôi với… Hân hơn là một cậu học trò nhỏ nhít như Út. Chỉ cần Hân phải lòng một người nào trong bọn họ cũng đủ làm tan nát trái tim Út. Cái tâm lý tự ti mặc cảm đó sẽ đeo đuổi Út suốt một đời. Hân có biết không? Đầu Út nóng ran, tay chân uể oải là triệu chứng của bắt đầu của bệnh trầm cảm. Thứ tâm lý thua thiệt nầy sẽ  gây nên nỗi thất vọng lớn lao. Nếu ôm mãi trong lòng sẽ mất cả hi vọng về cuộc sống và ý chí vươn lên, vì nó phá hoại não bộ đến độ có ý nghĩ tự sát, hay nguy hiểm hơn. Nhưng với tính khi ôn nhu của Út như Hân nói thì dù Út có qua khỏi cơn mê này, cũng sẽ mất niềm tin vào cuộc sống, không bao giờ tìm được tương lai… Sẽ mãi mãi u buồn.

Từng lời nói của Quỳnh như từng mũi kim đâm thấu tim gan Hân. Nước mắt Hân tuôn tràn, không kềm lại được.

Quỳnh cũng khá ngạc nhiên. Là một nhà tâm lý học thực dụng lẽ nào Quỳnh không biết Hân cũng đã yêu Út. Quỳnh vừa thương người bạn học cũ vừa hi vọng chữa lành bệnh cho Út. Quỳnh nói:

-Này Hân, thôi đừng khóc nữa. Mình biết Hân cũng đã… thương Út rồi. Phải không? Vậy là Út thoát nguy rồi. Cậu yêu Út, cậu phải hi sinh một chút, để cứu Út. Kẻ gây ra chứng tâm bệnh nầy lại chính là người trị liệu tuyệt vời nhất. Còn nếu cậu chỉ biết lo riêng cho bản thân, cuộc đời Út sẽ bỏ đi, không còn gì nữa. Nghe không? Có nghe kỹ không? Hân phải yêu chiều Út, lo lắng cho Út hết lòng và nếu cần… ôm ấp Út như người mẹ vậy. Như vậy chắc Út sẽ bình phục. Còn việc gì phải đến tất đến. Mình đã lập gia đình rồi mình hiểu rõ hơn… Mình chỉ có thể giúp chút ít thuốc men và lời khuyên nhủ thôi! Hân, có nghe mình nói không? Có hứa làm theo lời thầy thuốc chỉ hay không?

 

Hân nghe rõ từng lời của Quỳnh cũng như nghe rõ tiếng đập của trái tim mình. Không biết Hân đã yêu Út tự bao giờ… Hân lau nước mắt, nói:

-Quỳnh, mình cám ơn Quỳnh vô cùng. Xin cứu Út. Mình không ngờ tình trạng lại trầm trọng đến như vậy. Mình hứa sẽ làm những gì tốt đẹp nhất để cho Út được sống yên lành, nếu mình làm được. Mình mang ơn Quỳnh nhiều lắm.

-Thôi đi cô nương! Ân với nghĩa. Tốt hơn là cô nương nên làm như đã nói cho người… yêu nho nhỏ của cô đi. Mà nè, để hỏi lại cho kỹ một chút coi. Triệu chứng chung khi bắt đầu bệnh trầm cảm là… khóc, dù là con trai hay con gái. Con gái khóc nhiều hơn. Còn con trai, nếu không khóc thì… xuất tinh. Học trò trai đôi khi vào lớp thi, làm bài viết không được, hoặc làm  không kịp giờ, thầy bảo nộp bài có cậu… thất vọng quá, mất hết khả năng nghĩ ngợi, ngồi trơ người và tự động bắn ra… vải, không kềm được. Thường con gái cảm thấy sung sướng quá, thất vọng quá, hay sợ hãi quá thì khóc. Còn con trai, ở trong các trường hợp nầy, không khóc thì tự động xuất tinh. Vậy đó. Hân có để ý thấy Út khóc từ khi ở sân tennis về hay không?

-Không. Không thấy Út khóc.

-Nếu không có thì lại đây coi… mình có nói đúng hay sai. Lại đây.

Quỳnh kéo Hân đứng lên, bước tới giường Út. Chỉ vào Út đang nằm ngủ thở đều, Quỳnh nói:

-Đó, mở ra coi đi…

-Coi, coi… cái gì?

-Ơ… Còn hỏi cơ cầu nữa. Mở ra đi.

-Mở cái gì?

-Cái quần, cô nương à!

Thái Hân ngỡ ngàng nhìn Bác sĩ Quỳnh.

-Đã bảo, cởi ra, xem. Còn nhìn tui làm gì. Của người ta thì người ta cởi, nếu để Bác sĩ… làm là tính tiền gấp đôi đó, cô nương. Cởi đi!

Thái Hân mắc cỡ đỏ mặt. Rốt cục, cũng phải làm cái điều bác sĩ bảo mà từ nhỏ chí lớn chưa biết lần nào. Khi Hân vén áo pijama của Út lên, mở quần dài của Út xong, Hân định cởi thêm… quần lót nữa thì bị Quỳnh nắm lấy tay, giữ lại. Bác sĩ Quỳnh nhìn bên ngoài quần lót, nói khá lớn:

-Thấy không? Nói có sai đâu. Dính đầy đó. Nhìn cho kỹ đi. Không khóc… thì xuất tinh mà. Còn cô nương muốn thấy rõ, thì kéo luôn cái quần đùi ra coi… nó… ra sao. Mình thì biết quá rồi. Thôi để mình gọi Dì Năm đem nước nóng và khăn vào cho cô nương làm bổn phận. Càng chu đáo càng tốt, nghen. Rồi mình đi về luôn đó. Chàng… sẽ hết ngủ ngay khi nàng… săn sóc đến mà. Có gì thì ngày mai cho mình biết. Mà nhớ, không phải săn sóc hôm nay không đâu. Biết đâu còn… dài dài sau này nữa! Bạn hứa rồi mà… Vợ già chồng trẻ là duyên, chồng già vợ trẻ là tiền với… kim cương. Nói xong Bác sĩ Quỳnh cười hi hi và biến nhanh ra cửa.

May cho Hân, khi Bác sĩ Quỳnh bước xuống lầu là lúc Út Dân chợt tỉnh, mở mắt nhìn Hân. Hân hoảng hồn thối lui, chạy vội ra khỏi cửa buồng…

**

Tôi đã chợt tỉnh cơn mê khi Cô Bác sĩ nói câu chót với Chị Ba và cười trước khi bước ra cửa. Nhưng vì biết không phải lúc cử động mặc dù tôi đã tỉnh hẳn, Nhưng cảm thấy Chị Ba còn đứng đó, tôi tội nghiệp, nên mở mắt ra nhìn Chị. Cũng biết Chị thẹn, nên bỏ chạy.

Rất may là cô bác sĩ và Chị Ba chưa nhìn thấy da thịt của tôi. Dù sao tôi cũng biết là đã làm khổ sở Chị Ba quá. Càng cảm thấy thương Chị nhiều. Tôi đã thấy Chị khóc và hiểu ít nhiều về câu nói bông đùa của bác sĩ, nên tự thấy là mình quê kệch và có cảm tưởng tội lỗi.

Tôi bước xuống giường khép cửa lại thay đồ. Sau đó tôi mở cửa đi thẳng ra nhà tắm tự giặt lấy bộ quần áo vô duyên đã làm tình làm tội mọi người. Cơn sốt nóng bỗng nhiên như biến mất như một bí hiểm đã được giải toả. Có lẽ vì những dòng nước mắt của Chị Ba. Những giọt lệ còn đọng trên đôi mắt đẹp buồn của Chị buổi đó sẽ mãi mãi lắng đọng trong tâm khảm tôi cả một đời. Tôi khổ biết chừng nào… Chị Ba ơi!

Khi tôi giặt giũ xong trở vào phòng, thấy Dì Năm thu dọn lại giường nệm cũng vừa xong. Dì chỉ vào ly sữa nóng và viên thuốc đặt trên bàn, bảo tôi:

-Cô Ba dặn Dì nhắc Út uống viên thuốc và ly sữa cho hết nóng. Một chút nữa Dì đem cháo trắng cho Út ăn rồi ngủ. Có bình thuỷ nước nóng. Khuya thấy khát thì uống. Không được uống nước lạnh.

-Con uống sữa, uống thuốc. Nhưng Dì đừng nấu cháo, con không đói.

-Không được! Út phải ăn. Cô Ba bảo vậy. Dì nấu rồi.

Chị Ba nói là một mệnh lệnh. Tôi vẫn luôn luôn nghe lời Chị. Tôi hỏi Dì Năm:

-Chị Ba ngủ chưa, Dì Năm?

-Cô Ba đi nằm rồi. Cặp mắt đỏ hoe. Tội nghiệp, không biết Bác Sĩ nói gì mà Cô Ba khóc. Cô Ba thương Cậu còn hơn thương cô Út Hằng nữa đó. Bây giờ Cậu thấy đỡ chưa?

-Dạ, Con chỉ nóng sơ sơ thôi mà Dì Năm.

-Không phải sơ sơ đâu. Chập tối cái đầu nóng ran như lửa đốt. Cả nhà lo hoảng… Thôi, để Dì đem cháo lên. Ăn với đường thẻ nghen.

Đêm đó, tôi nằm trằn trọc không ngủ được. Tôi nhớ lại hình ảnh buổi chiều ở sân tennis Chị Ba đẹp lộng lẫy nói cười với các ông sĩ quan trẻ trung, mẫn thiệp và rắn rỏi trong những bộ quân phục đẹp đẽ. Tôi ghen tị vì những người nầy… nói chuyện với Chị Ba. Tôi nhớ lại, lúc nhỏ, mỗi lần nhức đầu hay sốt cảm, Chị Hai ban đêm thường bảo nằm ngủ cạnh Chị. Hơi ấm của Chị làm cho giấc ngủ của tôi êm ả và bệnh hoạn cũng hết mau. Bây giờ tôi nằm đây mà lạnh buốt cả tâm can. Còn, Chị Ba… chắc mai mốt cũng sẽ có người yêu, rồi có chồng, như Chị Út Hằng mà thôi. Đâu phải như Chị Hai. Nhưng sao buổi tối khi bác sĩ khám bệnh cho mình Chị lại khóc, chẳng những Dì Năm biết, nói lại, mà chính mình cũng nhìn thấy mắt Chị đẫm lệ. Tại sao hở Chị Ba? Tưởng đêm dài không ngủ, nhưng tôi thiếp đi lúc nào không biế̀t.

Tôi chợt thức dậy khi nghe như có ai sờ lên trán. Mở mắt ra. Thấy Chị Ba đứng ở đầu giường, một bàn tay mát rượi còn đặt trên trán tôi. Chị hỏi:

-Út thấy khoẻ không? Chị nghe bớt nóng rồi. Chỉ còn hâm hấp thôi. Chị đã nói với Dì Năm nấu cháo cảm cho em. Ăn xong, đổ mồ hôi, rồi uống thêm một viên thuốc nữa là hết nóng.

Tiếng nói của Chị êm ái, thân thương. Tôi muốn giây phút đó kéo dài thêm, nhưng Dì Năm bưng cháo vào. Dì nói:

-Út, ngồi dậy đi rửa mặt rồi vô ăn cháo. Cháo thịt bầm nhỏ ướp với muối hành. Bỏ thêm tiêu vào. Ăn nóng, giải cảm hay lắm.

-Út, dậy đi em.

Chị Ba đỡ đầu cho tôi ngồi dậy. Nói với Dì Năm:

-Dì khuấy thêm ly sữa. À còn mấy viên thuốc đâu? Nhớ đem bình thuỷ nước nóng lên

-Ở trong hộc tủ giữa bàn viết đó Cô Ba. Dì bước ra cửa.

Tôi bước xuống giường, Chị Ba còn nắm cánh tay, sợ tôi té. Người như sát lại với tôi. Một mùi thơm nhẹ thoảng từ Chị thấm vào tận tri giác tôi làm tôi cảm thấy ngây ngất và như kéo tôi về với thực tế.

-Để em đi một mình được rồi Chị Ba.

-Chắc không. Coi chừng nghe Út.

Chị buông tay tôi ra, đứng ở hành lang nhìn tôi đi ra bồn rửa mặt ở phòng đọc sách.

Không biết nhờ ăn cháo cảm, uống thuốc hay vì sự thương yêu chăm sóc của Chị Ba mà chỉ trong buổi sáng Chúa Nhật hôm sau cơn nóng biến đi đâu mất. Buổi sáng này Chị cũng không đi Nhà Thờ. Đó là lần duy nhất, trong ba năm tôi sống trong ngôi biệt thư nầy, Chị Ba và tôi không đi lễ. Điều nầy chứng tỏ bấy lâu nay hai chị em tôi đã sống thật êm ả trong tình yêu và ơn lành của Chúa. Tôi lớn lên trong một nguồn tình cảm dồi dào, có thể nói là hạnh phúc dưới sự dạy dỗ, che chở, yêu chìu của Chị Ba.

Tôi vẫn hằng nhớ mái ấm gia đình ở quê nhà, nhớ cha, mẹ các chị và các anh. Những người mà tôi thương yêu. Nhất là nhớ Mẹ và Chị Hai, đã nâng niu tôi từ tấm bé. Tôi vẫn nhớ Bội Mỹ, cô bạn học hàng xóm với những kỷ niệm cảm động như buổi tiễn đưa tôi đi Sài-Gòn…

Nhưng sao mỗi lần về quê, nghỉ lễ, chưa mấy ngày tôi đã nôn nả muốn trở lên Sài-Gòn, muốn trở lại ngay ngôi biệt thự riêng rẽ nầy. Hình như tôi cảm thấy rằng nơi đó là thiên đường của tôi. Vì ở đó tôi đã tôn thờ một thánh nữ.

Chị Ba ơi, tôi yêu Chị từ lần đầu tiên đứng ở ngoài cửa nhìn vào thấy Chị đẹp trong ngần như tượng ngọc trong bộ áo Thượng Hải đen với hai cánh tay trắng nuột ôm vai Chị Hai, với gương mặt trái soan đẹp tuyệt trần và đôi mắt đẫm lệ. Đôi mắt đen nầy với nhãn quang sâu thẳm, sau đó đã nhìn thấu tim óc tôi. Chị đối với tôi là một người một người mẹ, một người thầy, một người chị, một người bạn và là… một người tình. Vì vậy, tôi vừa sợ, vừa kính nể, vừa vâng lời, vừa thân thiện lại vừa yêu Chị. Một bước không muốn rời, một ngày không muốn vắng. Một đời muốn… sống bên Chị.

Tôi biết, tuy bên ngoài đã hết bệnh, nhưng mối tâm bệnh hẳn là chưa dứt hết đâu. Tôi thực sự muốn ôm Chị như đã từng ôm Mẹ tôi hay Chị Hai. Tôi không hề có ý nghĩ nào khác hơn. Nhưng tôi biết rằng tôi không thể lúc nào cũng gần Chị như gần Mẹ hay Chị Hai tôi. Tôi biết có một khoảng cách rất xa giữa Chị và tôi. Đó là điều làm tôi đau khổ. Không biết ai đã dạy cho tôi về cái khoảng cách gần như mặc nhiên được người của thế hệ chúng tôi, trăm người như một, công nhận là không được vượt qua. Họ chỉ chấp nhận một khoảng cách thật ngắn của tuổi tác trong lứa đôi:“gái lớn hơn hai, trai lớn một.” Mặc dù câu này mang nghĩa chính là trai gái lớn nhỏ hơn nhau như vậy là “hợp tuổi”, sẽ ăn ở với nhau hạnh phúc trọn đời. Nhưng cũng hàm nghĩa chú trọng về tuổi tác giữa lứa đôi. Khoảng cách trên bốn năm tuổi người con gái lớn hơn người con trai đã bị người đời gièm pha, dị nghị rồi. Huống hồ Chị Ba hơn tôi đến… mười ba, mười bốn tuổi.

Tôi tự hỏi, tại sao một ông lão bảy mươi có thể cưới một cô gái mười sáu hay mười bảy làm thiếp, làm hầu non, người ta không chê cười mà tôi đã đọc được trong các tác phẩm của các nhà văn tân học ngoài Bắc. Tại sao trước đó không bao lâu, ngay ở thị trấn quê tôi, một cậu bạn học mười tuổi của tôi đã được cha mẹ cưới cho một cô vợ hai mươi tuổi mà vẫn được mọi người chấp nhận. Tôi biết đó là tục lệ tảo-hôn. Nhưng tôi, giả thử tôi đề nghị cưới Chị Ba làm vợ… chưa chắc một ai trong gia đình tôi chấp nhận và chắc chắn mọi người sẽ cười nhạo báng tôi. Tại sao?

Tôi biết tôi đã yêu Chị Ba, tiếc rằng tôi không đủ chữ để làm thơ. Tôi cũng có cái mẫn cảm biết rằng Chị Ba cũng đã yêu tôi và cũng mang tâm trạng về khoảng cách tuổi tác quá xa của nhau, như tôi. Tôi biết tự thâm tâm, tôi muốn hôn lên đôi mắt buồn trầm lặng của Chị và nói, “Anh yêu Em”. Tôi cũng biết Chị Ba cũng muốn áp má vào ngực tôi và nói, “Em yêu Anh”. Hai tiếng gọi thiết tha nầy như tiếng vọng lan xa vô tận vào tâm hồn của Hân và của tôi, nhưng đã bị ngăn cách bởi chiều dài giữa hai bờ vực sâu của… thời gian. Chúng tôi gần nhau trong gang tấc mà tưởng chừng như cách xa nhau ngàn trùng. Chúng tôi đã trở thành thứ diễn viên hạng nhất trong tấn trò đời do con người bày ra: “Chị” và “Em”. Nhưng hai trái tim nầy liệu có vứt bỏ được không? Khi hai khối óc đã bị quán tính của thói tục luôn luôn lôi đi là phải đối xử với nhau như vậy? Phải thật đúng vai vế của xã hội. Mà thật là giả dối biết mấy!

Đến bao giờ Hân và tôi mới vứt bỏ được lớp diễn viên giả dối nầy đây? Tôi đã hết muốn làm một diễn viên hạng nhất rồi. Chỉ muốn làm một con người sống chân thật với lòng mình, với tình cảm của mình. Yêu thì cứ nói là tôi yêu. Tại sao lại sợ mọi người cười chê, biếm nhẽ. Buồn thay tôi chưa vứt được cái vỏ ốc của một thư sinh kém cỏi, yếu mềm. Có lẽ  Hân cũng vậy, chưa vứt bỏ được cái vỏ ốc của một giáo sư đẹp đẽ và khả trọng trong con mắt mọi người!

Chúa ơi! Xin cho tôi mang chiếc thánh giá nặng nề của Chúa và chịu đóng đinh… nếu Chúa cho rằng con yêu Thái Hân là tội lỗi? Chúng con yêu nhau là tội lỗi! Xin thắp sáng tâm linh con để con được biết ý Chúa là con nên theo mọi người hay nên theo tiếng gọi của trái tim con mà hành xử.

Có lẽ con nên tự biết mình mà chịu làm kẻ thua cuộc mà thôi. Chúa ôi!

Buổi chiều Chúa Nhật đó, khi ngồi vào bàn cơm, tôi ăn rất ít, mặc dù tôi không còn nóng sốt nữa. Chị Ba và Dì Năm ái ngại nhìn tôi. Chị bảo:

-Út, nếu em ăn cơm chưa ngon miệng thì để nhờ Dì Năm nấu cháo trắng cho em nghen?

-Thôi, Chị Ba. Em không muốn ăn gì hết. Chỉ muốn nằm thôi.

-Vậy, em lên nằm đi. Mai, chắc phải đi Bác sĩ coi sao?

Tôi lên phòng. Lòng buồn dã dượi. Tôi phó mặc, muốn buông trôi tất cả. Chỉ một lúc sau đã thấy Chị Ba gõ cửa phòng, rồi bước vào. Theo sau là Dì Năm bưng khay có một ly sữa và một cái dĩa với mấy khoanh bánh mì nướng. Dì Năm bước ra. Tôi ngồi dậy. Chị Ba nói:

-Út, em ăn bánh mì chấm sữa cho chặt bụng, mau lại sức. Để bụng đói làm sao ngủ được. Chìu lòng Chị, tôi đến bàn viết, ngồi xuống ghế. Chị cũng kéo ghế ngồi bên cạnh bàn. Tôi cầm một khoanh bánh mì lên chấm vào sữa, chưa ăn được, bỗng nhiên nước mắt tuôn trào… và nghẹn ngào nói:

-Chị Ba, Em muốn về Cà-Mau…

Chị thảng thốt, đứng lên, hỏi:

-Út, em nói gì?.. Tại sao em khóc?..

Chị tiến đến sau lưng tôi, ôm lấy đầu tôi vào lòng…

-Sao? Em làm sao vậy, Út ơi?!. Em nói gì vậy hở Út? Em bỏ Chị mà về Cà-Mau sao? Em bỏ Chị mà về quê sao, hở Út?!.

Bất ngờ, Chị buông tôi ra và chạy ra cửa. Tôi đứng dậy, bước theo ra hành lang. Đã thấy Chị vào phòng của Chị và đóng cửa lại. Chị khóc.

Đêm đó, tôi đứng ở cửa buồng ngủ của Chị Ba. Nghe tiếng nức nở của Chị, nhưng không dám bước vào. Tôi đứng đó đến khuya mới trở về phòng. Không nhớ mình suy nghĩ gì…

**

Đây là lần đầu tiên Thái Hân bước chân lên chiếc phà ở bến bắc trên sông Tiền Giang. Chiếc phà đầy xe và người, vượt sông nước. Sóng miên man chảy xuôi trên sông rộng ra miền cửa biển mù khơi. Lòng Hân như sóng vỗ, gợn những nỗi buồn quá khứ và hiện tại như những mảng bèo to, nhỏ, nổi trôi trên mặt nước mênh mông. Bồng bềnh. Út Dân đứng bên cạnh, nhưng bây giờ hình như cách xa Hân như đôi bờ của trường giang. Út về quê lần nầy là do Út quyết định. Có nghĩa là vĩnh viễn Hân sẽ mất Út. Út Dân muốn vứt bỏ học vấn, vứt bỏ một cuộc tình, vứt bỏ cả cuộc đời… thì còn gì nữa mà mong.

 

Hân không biết rằng, Út thất vọng như Bác sĩ Quỳnh nói, hay chính Hân thất vọng. Và thất tình. Bao năm côi cút, bao năm thiếu thốn tình thương với biết bao nỗi buồn vây quanh, từng phút, từng giây, từng tháng, từng ngày đã làm Hân mù dại, cô quạnh, trong cuộc sống trước khi Dân đến.

Dân đến, nhỏ bé, nhưng sáng chói như vầng hào quang, mang ánh sáng chảy theo từng ti huyết quản thâm sâu, làm cho da thịt Hân rạng rỡ, cõi lòng Hân sáng sủa, tâm hồn Hân sảng khoái.

Ba năm, ba năm qua, Hân đã vượt được con đường từ địa ngục đến thiên đàng. Hân biết nhớ nhung là gì, thương yêu là gì không như trước kia lòng Hân như gỗ đá, tưởng rồi sẽ trơ chết theo thời gian. Ai ngờ gỗ đá cũng đã mềm chỉ vì một tia sáng nhỏ của tình yêu soi rọi vào. Lòng dạ Hân đã mềm mại trở lại như dòng nước suối trong, như khí trời tươi mát buổi tinh sương, như ánh trăng tinh khiết đêm tĩnh lặng. Cậu trai bé nhỏ nầy đã tạo cho Hân một tình yêu rộng lớn và niềm tin vô bờ vào cuộc sống.

Ai ngờ… cuộc đời dễ biến thiên như thế. Dân đến, rồi Dân đi. Đi về quê nghĩa là đi vào… bóng tối. Thứ bóng tối vô hình đã từng phủ lấp cuộc sống của Hân trước đây. Và Hân sẽ quay trở lại lối mòn năm cũ, trở lại cõi thâm u. Hân sẽ bước đi với chiếc bóng của Dân in hằn trong tim óc, nhớ nhung và đau khổ. Ai thất vọng và thất tình đây hở Bác sĩ Quỳnh? Quỳnh ơi! Dân ơi!

Phà đã cập bến, mà lòng Hân còn trôi trên sóng nước… Sao Út Dân đứng vô tình vậy hở Dân?

Giáo sư Thái Hân đâu biết rằng, lần trở về nầy, cậu con trai vừa thành niên kia đã coi các dòng Sông Tiền, Sông Hậu như những dải Ngân Hà của Ngưu Lang, Chức Nữ… Và không mong có mùa ô thước bắt lại nhịp cầu… Một gã con trai tỉnh lẻ không thể nào sánh vai cùng một thục nữ cao sang. Hơn nữa người đó là bậc thầy của cậu con trai chất phác nầy. Một gã mục đồng từ bản chất, mới lớn lên…

 

Xe đến bến Cà-Mau lúc nào không hay. Chiếc xe Thiên Tân định mệnh đã đưa Thái Hân đến một khung trời mới. Đưa Út Dân vào một khung trời mới, không phải là trở về quê đâu… Trước khi đến đây, Thái Hân đã không yên lòng khi để một mình Út trở về quê, vì biết rõ tinh thần Út không ổn định. Hân nghĩ rằng đó bổn phận cuối cùng của Hân đối với Út và làm tròn trách nhiệm của Thuỷ ủy thác là… lo lắng vào bảo vệ cho Út.

Hân đã đưa Út về quê, hay đưa Út về đâu đây? Hân tự hỏi.

Cả nhà mừng rỡ khi thấy Út trở về, lại có sự viếng thăm bất ngờ của Thái Hân. Đến đỗi mẹ Út, tâm thần bất thường cũng như tỉnh hẳn, ôm Út vào lòng khóc mướt, lại ngỡ ngàng nhìn người khách lạ. Thuỷ mừng rỡ ôm Hân nhưng nhìn vào mắt Hân như dò hỏi: “Có chuyện gì vậy Hân?”.

Chị Bảy của Út, Lệ Chi, dường như cũng ngạc nhiên về vẻ đẹp sang trọng và nước da trắng ngọc ngà của Cô Giáo sư, trong bộ áo quần bà ba lãnh đen. Nhất là nụ cười có duyên với hàm răng trắng đều trong đôi môi hồng tươi thắm. Chi có cảm tình ngay với người bạn của Chị Hai, đến ôm Hân, nói:

-“Thưa Chị Ba.”

Hân ôm hôn Lệ Chi, cười, đáp:

-Chúa ơi, em gái lớn đại, đẹp hơn Chị Hai nữa. Em đã đi dạy học chưa?

-Dạ, em đã đi dạy Tiểu học gần ba năm rồi. Chi trả lời.

-Vậy hả. Có thích dạy học không?

Hân đến ôm hôn Mẹ Thuỷ. Bà để yên, hỏi:

-Con là ai? Phải học trò học lớp gia chánh của cô không?

Hân biết rằng tâm trí của bà mẹ các cô gái đẹp nhà này… chưa khôi phục. Tự nhiên một cảm giác bất an làm Hân áy náy cho Út.

-Dạ, con là Hân… Bạn của Thuỷ.

Miệng trả lời, nhưng mắt Hân đang tìm Út. Út đã biến đi tự lúc nào rồi…

Căn nhà ngói ba gian, cột tròn, vách ván, nền gạch tàu nầy nói lên sự suy sụp của gia đình ba má Thuỷ sau ngày hồi cư cho đến lúc đó. Hân cảm thấy buồn lắm. Nay, nếu để Út quay trở về đây thì chẳng khác nào Hân đã tiếp tay với chiến tranh tiêu diệt hẳn niềm tin của gia đình bác Một Truyền, một bạn thân của ba Hân từ thời hai người còn ở bên Pháp. Cũng có thể, chính Hân sẽ huỷ diệt cuộc đời của Út như Bác Sĩ Quỳnh đã nói với Hân:“còn nếu cậu chỉ biết lo riêng cho bản thân, thì cuộc đời Út sẽ bỏ đi, không còn gì nữa…”

-Không, Chúa ôi! Con không ích kỷ. Nhưng con phải làm sao đây? Con yêu Út. Con không thể tự dối lòng con.

Đêm đó, trên chiếc băng ở trước sân nhà Thuỷ, lần đầu tiên Hân đã nói dối với Thuỷ. Chỉ nói Út bệnh, nóng, cảm sốt và buồn, xin về Cà-Mau. Không muốn học nữa. Không biết lý do tại sao… Thuỷ thì thắc mắc, hỏi Hân, mà cũng như tự hỏi:

-Hay, Út nhớ Bội Mỹ rồi? Nó hết muốn học. Chắc là muốn cưới vợ chớ gì?

-Bội Mỹ nào vậy, Thuỷ? Hân hỏi.

-Là bạn học của Út hồi ở Tiểu học. Nhà Mỹ ở ngay bên cạnh đây. Nghe Út về, Mỹ qua bây giờ. Nó thương Út lâu rồi.

Thuỷ chưa dứt lời, Hân đã nhìn thấy một cô gái dáng dấp thanh tú, mở cửa hàng rào, nhẹ nhàng trước bước vào sân. Thuỷ cũng thấy, nên nói vói ra:

-Mỹ, vào đây! Có khách quí nè em. Vào chào cô Giáo sư đi em.

Cô gái đi vào, đến trước mặt Hân, khoanh tay, cúi đầu chào:

-Thưa Cô.

-Chào em. Tôi thứ Ba. Em gọi tôi là Chị Ba, được rồi. Tôi là bạn học của Thuỷ.

-Dạ. Chị Ba…

Tiếng nói của cô gái nghe thanh tao làm Hân càng chú ý nhìn kỹ. Cô gái chừng mười bảy, mười tám. Gương mặt đẹp rạng rỡ. Dáng người mảnh mai. Cử chỉ đoan trang. Chợt, lòng Hân se buồn. Phải rồi, Út buồn, muốn về quê, chắc vì tương tư cô bạn gái đẹp nầy rồi… Hương đồng cỏ nội mà. Không bén hơi sao được!

-Em ngồi xuống đây, Mỹ! Út nó mới từ Sai-Gòn về với Chị Ba đó. Để Chị vào gọi nó ra.

Thái Hân và Bội Mỹ ngồi lại. Mỹ đã nhìn rõ Cô Giáo sư. Cô nói là bạn của Chị Hai, nghĩa là trên ba mươi, mà sao còn trẻ trung như con gái thanh tân, gương mặt quí phái, đẹp, trắng mượt mà dưới ánh trăng đêm.

Hân hỏi:

-Em còn đi học không?

-Dạ, em nghỉ học mấy năm rồi.

-Em thân với Út lắm, phải không?

-Dạ, từ hồi còn nhỏ…

-Cho đến bây giờ… Phải không em?

-Dạ.

-Chị biết mà! Mà nầy, nói cho Chị nghe, Út thì… sao?

-Dạ, em không biết…

-Sao vậy?

-Dạ, tại ảnh ít nói quá!

-Cũng phải. Út ít nói thiệt. Thương, ghét cũng không ai biết!

-Chị Ba… Anh Út lên Sài-Gòn học, phải ở nhà Chị Ba không? Bội Mỹ hỏi.

-Phải em. Ba năm rồi… em.

Sau đó, hai người không biết phải nói gì với nhau nữa. Nhưng hình như cả hai đều có chung một ý nghĩ về Út Dân.

Thái Hân tự hói,“Út… thương ai đây? Cô gái đẹp mỹ miều nầy hay thương mình? Họ xứng đôi quá mà…”

Hân cũng biết Bội Mỹ vẫn lén nhìn mình với đôi mắt dò hỏi…

May quá, Thuỷ trở ra phá tan bầu không khí im lặng, bảo rằng Út… mệt, đi ngủ rồi.

Buổi sáng ngày hôm sau, ông Một Truyền về nhà sau khi đã lên Bạc-Liêu từ hai hôm trước để đón, đem được hai bè gỗ súc về cho trại cưa của ông. Hai bè gỗ nầy cùng nhiều bè gỗ khác phải qua một hành trình khá xa từ Bến Súc, Thủ Giồng Một, theo đường sông về Bạc-Liêu. Ở đó, có một ông chủ vựa gỗ súc lớn, bán sỉ lại hai bè cho ông Một kéo về Cà-Mau. Đem gỗ quí về đóng bàn ghế, giá rất cao. Nhưng công khó nhọc cũng nhiều. Tuổi đã về già mà ông không được an nhàn.

Về đến nhà, ông ngạc nhiên thấy một cô gái lạ đang ngồi nói chuyện với vợ và con gái lớn.

Thuỷ nói nhỏ với Hân: -“Ba mình về đó.”

Hân lật đật đứng lên:

-Thưa bác. Con là Hân, bạn học của Thuỷ ở Sài-Gòn hồi đó.

-Hân, Hân… A, bác nhớ rồi. Cô Ba Giáo sư, con Anh Đốc phủ. Con đi đường xa có mệt không? Xuống hồi nào vậy con?

-Dạ, thưa chiều hôm qua.

-Tội nghiệp. Đường xa nguy hiểm lắm mà đi làm chi cho nhọc nhằn vậy con!

-Dạ. Con đi cho biết. Đường quan lộ thấy được tu bổ khá nhiều rồi bác.

Ông biết có điều gì đó, nên cô giáo sư, con gái người bạn đã quá cố của ông, mới lặn lội từ Sài-Gòn xuống Cà-Mau. Nhưng không tiện hỏi.

Rồi thì chuyện Út tự động muốn bỏ học về quê, cũng được Thuỷ trình cho ông biết.

Sau buổi cơm chiều, trời tối, nhà vừa lên đèn, Hân đang ở dưới nhà sau với Thuỷ, được mời lên nhà trên. Bác trai có có uy của quan võ, làm Hân cũng thấy sợ sợ. Nhưng Bác nhỏ nhẹ bảo Cô Giáo ngồi xuống chiếc ghế xa-lông cạnh Bác. Ngồi ở ghế đối diện Bác là Bác gái. Út khoanh tay đứng sau lưng chiếc ghế xa-lông của Bác gái. Thuỷ cũng ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh mẹ. Lệ Chi bưng bình nước trà lên đặt giữa bàn. Cô vén khéo rót nước ra bốn cái tách trên bốn cái dĩa nhỏ, đặt trước mặt ba má và hai chị, rồi ngồi lên mép bộ ván gõ gần đó.

Trước tiên, bác Một trai nói với Hân:

-Bác cám ơn con đùm bọc, dạy dỗ thằng Út mấy năm qua. Bác bận sinh kế, không lo lắng đầy đủ cho con bác, cũng không dạy dỗ nó cho đến nơi đến chốn, nên nó tự tung tự tác. Muốn học thì học, muốn nghỉ học cũng không trình báo cho ai biết. Bác vô phước sinh năm đứa con trai, hai đứa chết, còn lại ba, hư hỏng cả ba. Nếu không nhờ con và Chị Hai nó bảo bọc, thì bây giờ thằng Út ra sao đây? Bác cám ơn con. Bác tội nghiệp cho con và thương tiếc cho Anh Chị Đốc phủ và Anh Hai con đã mất sớm. Em gái cũng lập gia đình. Con ở lại một mình trong căn nhà lớn, hiu quạnh như vậy, đáng lẽ thằng Út phải biết điều, hụ hợ giúp đỡ việc này việc nọ cho con đỡ buồn. Không ngờ nó lại làm phiền lòng con. Muốn đến là đến, muốn đi là đi. Không coi ai ra gì. Bác xin lỗi con, thay cho nó.

Không kịp để Hân nói lời nào, Bác trai quay sang, ngó thẳng vào mắt Út, hỏi:

-Có phảỉ vậy không con, hay ba nói oan cho con?

-Dạ…

-Dạ. Dạ là sao hở con? Là sớm đầu, tối đánh. Là quên nghĩa, quên tình. Là quên cha, quên mẹ. Là quên nề nếp của gia đình. Là muốn trở thành tên Juda phản Chúa. Phải không con?

Cả ba cô gái nghe những lởi nầy, đều khóc. Bác gái thấy mọi người khóc, cũng khóc theo. Út quì xuống, ôm chân mẹ, nước mắt tuôn tràn. Nói trong nghẹn ngào:

-Con xin lỗi ba,.. xin lỗi má. Em xin lỗi… Chị Ba.

Thái Hân, cầm nước mắt, nói với Bác trai:

-Thưa bác, không phải Út như vậy đâu. Út đang bệnh, buồn nhớ nhà, nên mới xin về. Con kềm lòng không được, nên mới đưa Út về. Lỗi là ở con. Thôi, con xin bác bớt giận. Xin bác cho con đem Út lên Sài-Gòn, đi học lại.

-Đó, Út, con thấy chưa. Người ăn ở nhân hậu như vậy, mà con nở nào hành hạ. Bác cám ơn con, nghen Hân. Để bác hỏi nó lại coi.

-Út, bây giờ con tính sao? Muốn nghỉ học ở nhà làm chân một thầy ký ở một quận hẻo lánh như anh Năm con, hay một tên thợ cưa trong xưởng của ba. Vậy thì cứ bỏ học, cứ ở nhà. Ba cưới vợ cho. Hay là con muốn trở lên Sài-Gòn tiếp tục học cho nên danh phận với người ta, cho rạng rỡ gia đình. Ba dự tính một vài năm nữa sẽ cho con du học ở Pháp. Bây giờ con chọn đi.

-Dạ…

-Dạ. Dạ là sao? Bác hỏi Út.

-Dạ… con muốn đi học nữa, để làm vui lòng ba, má.

-Không, ba không ép buộc con đâu? Con suy nghĩ kỹ đi.

Bác xoay qua, nói với Thuỷ:

-Ngày mai, con đưa Cô Ba… và Út lên Sài-Gòn, nếu nó muốn đi học nữa. Còn nó không đi thì thôi, con cũng phải đưa Cô Ba về, không để đi một mình. Con quen đường xá rồi… Cô Ba thì không để đi đường xa một mình được đâu.

Quyết định của Bác chỉ là những lời gia huấn theo đạo lý của mỗi gia đình Việt Nam thuở đó. Bác để cho Út tự lựa chọn. Nhưng không có sự lựa chọn nào khác hơn. Út phải trở lên Sài-Gòn học. Hay đó là một thứ quyết định của định mệnh mà Chúa đã an bài, làm thay đổi cả cuộc đời của Út và của Thái Hân. Thay đổi hẳn tình cảm và cuộc đời cô gái nhỏ ở thị trấn xa xôi kia. Bến xưa nước chảy qua cầu…

**

Tôi biết lần lên Sài-Gòn nầy sẽ có những thay đổi nào đó mà tôi không thể hình dung được. Tôi cảm thấy thương ba tôi. Buổi tối hôm ba dạy cho bài học về ân nghĩa tôi nhớ lại mà thấm thía. Hình như ông đã trút tận đáy lòng nỗi thất bại của ông trong cuộc đời, không phải vì ông khổ thân, nhưng vì ông nhọc trí. Tôi đã nhìn thấy ông tuy vẫn tráng kiện ở tuổi gần sáu mươi, nhưng những nếp nhăn trên trán, nỗi buồn trong ánh mắt, và tiếng nói ẩn chìm niềm đau, nỗi khổ sâu xa về gia đình, nhất là về các đứa con trai của ông. Đó lần đầu tiên mà tôi nhận thấy.

Có lẽ ông biết rõ mọi chuyện xảy ra cho gia đình và cho các con ông là một thứ định mệnh không thể khác hơn được, không thể tránh khỏi, như rất nhiều gia đình khác trong thị trấn. Nhiều người có danh phận chẳng những mất tất cả sự nghiệp mà còn mất cả những người thương yêu nhất, mất cha, mất mẹ, mất vợ, mất con, mất anh mất em. Nhiều người cũng đã mất mạng vì Việt Minh gán cho tội “Việt Gian” cho đi “mò tôm” ở sông rạch Cà-Mau. Gia đình tan nát.

Tất cả những sự tàn phá, huỷ diệt nầy là những thứ luật lệ bất thành văn của chiến tranh.

Điều tin tưởng cuối cùng hay niềm khát vọng cuối cùng của đời ông là chu toàn, giữ gìn… những gì còn lại trong đời. Bịnh tình của Mẹ tôi là niềm đau lớn. Nỗi đau bởi những đứa con không nên người -như ông nói- về các anh tôi vẫn là niềm đau lớn hơn. Ông đặt cả niềm hi vọng của gia đình vào tôi.

Tôi biết các anh tôi không có lỗi lầm tự mình gây ra, để tự mình muốn huỷ bỏ cuộc đời còn lại… Lỗi là ở chiến tranh cả. Các anh tôi mất niềm tin vì những vết thương của chiến tranh đã thành những vết hằn trong tâm não.

Chị Hai tôi thường nói cho tôi nghe về nỗi đau riêng của Anh Năm và Anh Sáu tôi. Chị chỉ mong những gì đã mất mát trong chiến tranh sẽ được chiến tranh đền bù…

Riêng tôi, tôi tự hỏi sẽ phải làm gì đây cho gia đình và bản thân? Tôi đã thành niên, không còn ở cái tuổi ngây thơ như mấy năm trước, như khi mới lên Sài-Gòn lần đầu. Chuyện tôi phải trở về với gia đình cha mẹ tôi sau này là lẽ đương nhiên. Nhưng chuyện… của Bội Mỹ, đáng lẽ tôi phải nói gì đó với người bạn học thân nhất nầy của tôi. Nhưng tôi đã im lìm bước đi lần nầy, không một lời giã từ. Tôi dường như hiểu được nỗi buồn, nỗi xót xa trong lòng cô, vì tôi đã… biết yêu và đã đau khổ vì yêu… Chắc Bội Mỹ cũng đau khổ và xót xa như tôi thôi!

Hai ngày liền khi trở về lần nầy, Bội Mỹ đã mấy lần muốn gặp tôi. Tôi nằm mãi trong buồng không ra gặp. Quả thật lòng tôi rất sợ phải gặp Bội Mỹ khi có mặt của… Chị Ba.

Rõ ràng mà. Rõ ràng tôi đã yêu Chị Ba, và sợ Chị buồn khổ khi tôi gặp gỡ Mỹ. Tôi thà phụ lòng Bội Mỹ hơn là làm buồn lòng Chị Ba… Vậy mà, tại làm sao, trước đó, tôi đã quyết định rời… xa Chị vĩnh viễn, đi về quê. Thì ra, tôi tưởng rằng tôi có thể xa Chị Ba, ôm lấy nỗi đau buồn, nỗi thất vọng, thất tình mà quay về với cuộc sống của một người biết yên phận trong một thị trấn nhỏ. Nhưng khi nghe Chị Ba nói với ba tôi là sẽ đem tôi trở lên Sài-Gòn, đi học lại thì… bao nổi u buồn như tan biến hết. Lòng tôi như mở cờ. Tôi thật sự chỉ thương hại cho Bội Mỹ, vì thật sự tôi chưa hề yêu người bạn học rất thân thiết nầy.

Tình yêu của Bội Mỹ là tình yêu một chiều. Còn tình yêu của tôi và… Chị Ba là thứ tình yêu tương ứng như đôi bờ của một dòng suối thượng nguồn. Nếu thiếu một bờ thì dòng nước chảy loang. Đâu còn là dòng suối nữa. Nếu chúng tôi thiếu nhau thì mỗi người sẽ trở thành một mảng đất đá khô cằn rời rã dưới ánh sáng mặt trời… vì thiếu tình yêu như thiếu nguồn nước trong mà chúng tôi be bờ nuôi dưỡng từ ba năm qua.

Thôi thì cứ để cho… nước chảy đá mòn. Tôi sẽ phải đóng tiếp vai trò của tôi. Tôi biết rằng Chị Ba cũng vậy, để tránh những phức tạp có thể gây ra cho gia đình tôi, khi Chị đã mặc nhiên coi như người đỡ đầu của tôi trước mặt Ba tôi. Tôi cũng biết rằng tôi đã bỏ quên sau lưng một tấm tình u hoài của một chiếc bóng nhỏ vẫn cố bám sát với bóng hình tôi in trên con đường cũ của nền đất phù sa những năm về trước.

Con đường duy nhất mà tôi phải lựa chọn là tiến lên phía trước. Tôi không biết bước tiến nầy sẽ đưa tôi đến đâu. Nhưng tôi không thể thối lui được nữa. Bước thối lui nhất định sẽ làm sụp đổ niềm tin của gia đình, nhất là của Ba tôi. Điều đó nếu xảy ra thì chính tôi sẽ là tội nhân của Chuá. Tội bất hiếu là trọng tội bậc nhất của niềm tin Thiên Chúa. Tôi sẽ mở mắt nhìn về phía trước. Tương lai ở phía trước mặt chớ không phải ở sau lưng. Chỉ xin Ơn Trên đừng để mắt tôi bị mù loà, như Chị Hai tôi từng cảnh cáo tôi: -“Ờ, vậy mà không phải dễ đâu em.” Khi tôi nói… “làm gì cũng phải suy nghĩ…” Bài học về ý thức buổi đó Chị dạy tôi còn văng vẳng bên tai. Sau nầy tôi mới biết rằng tôi đã bước vào đời, buổi đó, với đôi mắt mở rộng… của một người mù. Nhưng tôi không hối hận.

Tôi còn nhớ, trên chiếc phà buổi trưa trên sông Hậu, tôi nhìn Chị Hai và… Chị Ba đứng phía trước nói cười vui vẻ, bỗng nhiên tôi thấy Chị Ba nhìn ra cửa biển xa. Tôi nhìn theo, thấy một chiếc tàu thương thuyền lớn, tỏa khói trắng lên cao, sắp ra mù khơi dưới ánh sáng nhập nhằng của trời, của nước. Chị quay lại nhìn tôi, có vẻ buồn. Rồi mắt Chị cũng nhìn vào những chiếc giang đĩnh bọc sắt của quân đội chạy xa xa cận ven bờ sông, đôi mắt đẹp đó như bối rối, lo âu.

Tôi hiểu chiều sâu của tầm nhìn kín đáo đó, mà Chị Hai hình như cũng biết. Tôi nghe Chị Hai nói:

-Chúa ơi, thời buổi nầy mà Ba mình còn nghĩ đến chuyện cho Út đi du học ở Pháp. Mấy năm trước, trên sông nầy đâu có nhiều tàu chiến như năm nay. Giặc giã nổi lên khắp nơi rồi. Mình đọc báo thấy Pháp và Việt Minh đánh lớn ở ngoài Bắc.

Tôi cũng nghe rõ Chị Ba trả lời:

-Phải rồi, báo ở Pháp mới tháng Năm vừa qua cũng đăng tin tức, Việt Minh đánh xuống đồng bằng sông Hồng. Ông tướng De Lâtre dội bom lửa, bộ đội của Tướng Giáp chết cả mấy ngàn người. Nhưng Việt Minh đã chiếm hết vùng Mạn Ngược Bắc Việt lên tận biên giới Việt Trung. Chiến tranh lớn rồi, không còn như hồi năm 1945 nữa đâu! Ông Tướng Pháp nầy còn yêu cầu Quốc Trưởng Bảo Đại của mình động viên thanh niên đi học sĩ quan, hạ sĩ quan và gia nhập Quân đội Quốc gia nữa đó.

-Phải rồi, mấy cậu thanh niên dòng họ có tiếng ở Bạc-Liêu, bạn của thằng Năm, em mình, cũng tình nguyện đi học Sĩ quan ở Đà-Lạt, không biết ra trường hay chưa. Nó cũng xin ông già đi khóa đó, nhưng Ba mình la cho một trận. Thế nào nó cũng đi mà thôi, giữ làm sao được? Mà nầy Hân, mình giao thằng Út cho mi. Mi phải coi chừng, đừng để nó vô lính nghen…

Tôi không ngờ các bà chị nầy lại thông suốt tình hình chiến sự như vậy. Tôi quên rằng họ thuộc giới trí thức của thời buổi đó. Chị Ba còn đọc báo Pháp xuất bản ở Sài-Gòn lẫn ở Paris. Báo Việt cũng đọc hằng ngày. Chỉ có mình tôi là dốt thôi. Không biết gì về thời cuộc. Tôi biết rằng mình phải học, học nhiều hơn nữa. Đừng có suy nghĩ vẩn vơ.

Lên Sài-Gòn, Chị Ba hỏi tôi còn muốn tham dự cúp vô địch học sinh ở Vũng Tàu trong đội của Trường La-San nữa hay không. Giải chung kết sẽ mở vào đầu tháng Bảy dương lịch, như lịch trình đã ấn định. Tôi xin tiếp tục.

Chị bảo tôi rủ Vinh bạn học La-San, cùng vào vòng chung kết với tôi ở Vũng Tàu, và mời thầy huấn luyện viên quần vợt của Trường đi dợt chung với tôi ở sân Câu Lạc Bộ Cercle Sportif vào buổi sáng trong gần hai tuần trước khi đi Vũng Tàu. Có ngày Chị theo coi. Có ngày không. Vinh và ông thầy huấn luyện viên cứ tưởng Chị Ba là chị ruột của tôi.

Vào vòng chung kết ở Vũng Tàu gồm có ba đội: Đội Pétrus Ký có ba tay vợt. Đội của trường Trung học Pháp Chasseloup Laubat cũng có ba. Đội La-San Taberd có hai, Vinh và tôi. Hai đứa tôi vừa đánh riêng giải đơn, vừa đánh chung ở giải đôi. Tám tay vợt nầy đã vượt qua vòng loại gồm hơn hai mươi cậu từ trước mùa Hè ở Sài-Gòn rồi mới được chọn ra thi đấu ở Vũng Tàu. Đây cũng là dịp nghỉ hè chung của các trường trung học Sài-Gòn.

Phần lớn gia đình của các tay vợt nầy đều có người  theo yểm trợ cho con em mình mặc dù các đội đều có ban hướng dẫn gồm các thầy và huấn luyện viên. Riêng Trường La-San còn có thêm hơn mười gia đình học sinh các lớp ghi danh cùng đi nghỉ hè chung ở Vũng Tàu do Trường tổ chức. Có xe đưa rước do Trường mướn. Vinh cũng có gia đình theo. Riêng tôi thì… Chị Ba cùng đi. Chị nói, từ nhỏ Chị chưa từng tắm biển. Đi cho biết mùi biển.

Mỗi gia đình tùy theo số người Trường sẽ phân bố số phòng ngủ thích nghi trong một khách sạn của một người chủ Pháp, trên một ngọn đồi ở Bãi Trước, Vũng Tàu, dành cho du khách hạng sang. Mỗi phòng đều có phòng tiêu, phòng tắm riêng. Phòng của Chị Ba và tôi có hai giường ngủ nhỏ cách nhau chừng bốn năm bước. Mỗi cạnh đầu giường có một tủ nhỏ thấp, có ngăn kéo mà người Pháp gọi là table de nuit, với đèn ngủ. Một bộ bàn ghế xa-lông, tủ kiếng, quạt trần, sang như… Tây. Khách sạn cũng phục vụ cả việc ăn uống của khách.

Khách muốn ăn sáng, trưa, tối hay bất cứ lúc nào cũng được ở phòng ăn chung. Kể cả các thứ rượu chát và rượu mạnh hay nước giải khát. Bồi phòng cũng đem thức ăn thức uống đến tận phòng ngủ, nếu khách muốn. Tự khách trả tiền riêng. Trường không phụ trách việc ăn uống của thân nhân các gia đình đi nghỉ mát ở chung khách sạn. Tất nhiên các gia đình đóng cho Ban Tổ chức Nghỉ mát của Trường khoản tiền mướn phòng. Không kể một khoản tiền khác cho việc xe cộ và du ngoạn các thắng cảnh trong những buổi không có các trận đấu chung kết của chúng tôi.

Các trận đánh đơn và đôi sẽ diễn ra trong ba ngày từ thứ Tư tớí thứ Sáu. Thứ Bảy các gia đình đi chơi tự do. Chúa Nhật trở về Sài-Gòn.

Mấy đêm đầu, sau buổi cơm, hai chị em thường đi dọc theo bờ biển Bãi Trước ngắm cảnh biển về đêm, nhìn những con sóng nhỏ nhấp nhô chạy vào bờ cát, nhìn người, nhìn cảnh, nhìn ra khơi, biển lớn lồng lộng, thở hít không khí thơm mùi biển. Chị Ba thích thú xách đôi dép da đi tung tăng trên bãi, nói cười như một cô gái trung học… hết ngắm cảnh đến ngắm người tắm biển đêm. Chị có vẻ ngạc nhiên nhìn các cô các bà mặc áo tắm một mảnh. Một lần thấy một cô mặc áo tắm đẹp, Chị hỏi:

-Chị có đem theo áo tắm… kiểu đó. Nhắm chị mặc… coi có được không Út?

-Thì mấy người đó mặc đó! Coi… đẹp, có sao đâu.

-Biết rồi! Nhưng, không phải hỏi vậy. Hỏi… chị mặc… nhắm coi có… được không? Có… đẹp không?

-Em có… thấy đâu… mà biết!

-Thôi! Hổng cho… thấy đâu. Hổng cho biết… luôn. Mặc gì mà… để tay, để chân ra ngoài hết. Che không hết. Thấy hết trơn. Mắc cỡ chết…

-Mắc cỡ gì. Thì người ta mặc, mình mặc, có sao đâu. Có thấy ai mắc mắc cỡ đâu? Họ mặc theo thời trang mà!

-Vậy, để bữa nào em đánh xong cúp rồi, mình đi tắm biển thử coi, nghen! Mà tắm ban đêm như vầy thôi. Không tắm ban ngày. Chị sợ… nắng. Nhưng chỉ sợ tắm ban đêm lạnh…

-Không lạnh đâu, Chị Ba. Ban đêm nước biển ấm lắm.

Mỗi tối đi biển đêm như vậy, trước khi về hai chị em còn ăn thêm món gì đó, mì, cháo lòng, bún thang, bánh cuốn ở bãi biển. Về tới phòng ngủ, Chị bắt đánh răng, rồi ngủ sớm để hôm sau đủ sức đánh cúp.

Ba ngày của vòng chung kết cũng qua mau. Vì Trường La-San Taberd chỉ có hai tay vợt, nên Vinh và tôi phải đánh cả buổi sáng lẫn buổi chiều. Kết quả Vinh và tôi vô địch giải đánh đôi. Tôi được thêm giải nhì, giải đánh đơn. Lễ phát cúp diễn ra tối Thứ Sáu. Các tay vợt của Chasseloup Laubat chỉ được giải nhì đánh đôi. Vô địch của giải đánh đơn năm đó là Thành của Pétrus Ký, đã thắng tôi khít khao, sau nầy là một tay vợt nổi tiếng ở Sài-Gòn, nhưng không phải là Nguyễn văn Thành vô địch Việt Nam đồng thời với Nguyễn văn Bảy.

Đêm thứ Bảy, sau một ngày đi viếng các thắng cảnh của Vũng Tàu, ăn buổi chiều xong, trời vừa sụp tối, Chị Ba nhắc lại dự định tắm biển đêm. Chị bảo:

-Út, mình đi tắm biển nha em. Mai sớm về rồi!

-Dạ, mình đi, Chị Ba.

Bãi biển đã chuyển về đêm, khi chị em tôi xuống đến mé nước. Những lượn sóng nhỏ gợn lăn tăn trên mặt nước, mang nhiều màu sắc của ánh sáng vàng đỏ từ các ngọn đèn trên đường phố. Từ ánh đèn xa xa của những chiếc tàu lớn bỏ neo ngoài khơi. Từ ánh đèn pha của ngọn hải đăng thỉnh thoảng quét ngang qua. Từ ánh trăng sáng huyền hoặc trên mặt nước bung rộng ra tận biển khơi tít mù. Nước biển thường đầy vào những đêm trăng. Tôi đã bỏ chiếc khăn lông choàng lớn, định bước xuống nước. Nhìn lại thấy Chị Ba còn ngại ngần trong chiếc khăn choàng của Chị. Tôi nói:

-Chị Ba, bỏ khăn trên cát chỗ khăn của em đi, rồi xuống tắm.

Tôi thấy Chị ngó xung quanh, rồi ngó tôi, coi mòi còn thẹn chưa dám buông chiếc khăn. Tôi nói:

-Đưa khăn đây cho em, đem bỏ chung chỗ kia, nước không lên tới.

-Thôi… thôi, chị sợ lạnh…

-Không lạnh đâu. Lại đây bước chân xuống nước đi. Nước ấm mà. Không có gió, đâu có lạnh.

-Được rồi. Để chị bỏ khăn ra… Nhưng xoay mặt chỗ khác đi. Nhắm mắt lại nữa.

Tôi xoay mặt lên đường, nhắm mắt:

-Rồi. Em nhắm mắt rồi…

Lâu chừng hơn một phút, không thấy Chị Ba nói gì, tôi quay mặt lại, không thấy Chị Ba đâu, chỉ thấy chiếc khăn choàng bỏ trên cát. Tôi hoảng hồn nhìn xung quanh, rồi nhìn ra mé nước, thấy Chị đang ngồi thụp xuống bãi cát mà mắt vẫn nhìn về hướng của tôi. Tôi biết Chị mắc cỡ. Tôi nhặt khăn của Chị lên, đem để chung với khăn của tôi, rồi đi xuống bãi. Khi đến gần Chị Ba, chỉ còn cách mấy bước, tôi thấy Chị như lính quýnh nói:

-Em đi xa xa… đằng kia, tắm đi. Để chị tắm ở đây… một mình, được hông?

-Được, được. Nhưng coi chừng con ma-da nó rút chân đó nghen. Không có ai kéo lại kịp đâu nha… Tôi vừa nói vừa bước đi.

-Hả, hả. Bộ ở đây có ma-da sao, Út?

-Ai biết đâu? Thôi chị ở đó nghen. Chừng nào nó rút chân thì gọi em.

-Út, Út. Thôi trở lại đây. Đừng đi xa nữa. Bộ định bỏ chị cho… ma-da thiệt sao?

-Em nói chơi mà. Làm gì có ma-da ở đây. Tôi quay trở lại.

Tôi thấy Chị Ba đứng lên, nhìn vào mắt tôi mà hai dòng nước mắt trào ra đôi má. Tôi bỡ ngỡ, không biết có chuyện gì xảy ra… vội vàng hỏi:

-Chị Ba, sao chị khóc? Bộ chị sợ hả?

-Phải! Chị sợ. Cái gì… cũng sợ hết. Em ăn hiếp chị, hù dọa, rồi bỏ đi… Ra biển mà nhát ma-da. Mai mốt không biết còn nhát chuyện gì nữa, hay có chuyện gì xảy ra, cũng bỏ chị mà đi… như vậy thôi!

Chị đưa cánh tay lên quẹt nước mắt, cử chỉ giống hệt như lần đầu Chị vén vạt áo lau nước mắt ở phòng khách nhà Chị. Tôi cảm động quá, và như có một sức mạnh vô hình thôi thúc, không kềm được, đẩy tôi bước tới ôm lấy Chị Ba… sát vào người tôi. Lần đầu tiên tôi ôm một người con gái. Tôi nghe bờ ngực trần của mình áp vào hai bờ vú tròn, êm ả. Tôi nghe tiếng tim đập rộn rã của Hân và của tôi. Hân run rẩy, thân thể mềm mại ép sát vào tôi, đầu ngã lên vai tôi. Tôi nghe dòng nước mắt ấm thấm vào vai và mùi thơm dịu dàng của da thịt con gái ngọt lịm thấm tận thất khiếu. Tôi ôm sát, dìu thân hình trắng nuột nà quyến rủ của Hân ra xa bờ hơn, đến chỗ sâu hơn, nước lên đến ngang vai. Nước ấm của biển đêm làm Hân và tôi tỉnh hẳn. Tôi định ôm nâng Hân lên mặt nước và hỏi:

-Chị Ba có muốn tập lội không?

Hân sợ ôm lấy tôi và nói:

-Không, không tập ở đây… Út, vào chỗ cạn đi. Ở đây sâu quá. Vào đi. Chị sợ!

Hân vừa nói vừa run. Không biết vì cảm xúc bởi sự đụng chạm của da thịt, vì sợ, hay vì lạnh… Tôi ôm dìu Hân vào bờ cạn hơn. Hân mặc chiếc áo tắm một mảnh màu tím, làm nổi bật mái tóc đen huyền, làn da mặt, cổ, hai cánh tay, hai bờ vai, bờ ngực, đùi chân thon dài, trắng nõn nà. Áo thấm nước in rõ những đường cong huyền ảo của bộ ngực với hai vú căng tròn, núm vú nho nhỏ nhô lên, lưng ong eo nhỏ, mông nở nang gọn đẹp… làm tôi hưng phấn đến tận làn da thớ thịt. Không dừng được nữa, tôi ôm nàng, hôn vào đôi mắt, vào má, vào cổ… Và rồi những đôi môi nồng cháy đã tự động tìm nhau, say đắm, ngất ngây…

Bỗng Hân rùng mình nói: – “Út, Út. Thôi, mình về nha.”

-Về, mình về… hở… Chị Ba!

-Phải, mình về đi, Út! Chị biết… biển rồi! Về đi, nha…Út!

Choàng chiếc khăn lông lớn vào cho Chị Ba, tôi dìu đưa Chị lên đồi, về phòng ngủ.

Chị tắm thay đồ ngủ xong, vội vã lên giường nằm. Để cho Chị Ba an tâm, tôi bỏ mùng của giường Chị xuống, tấn vạt mùng dưới nệm, rồi tắt đèn ngủ.

Đêm đó, có lẽ là đêm dài của Hân và tôi. Tôi nghe Hân trở mình nhiều lần… Tôi cũng vậy.

Những thân thể thèm muốn nhau vẫn trăn trở vì một khoảng cách xa nào đó còn ẩn nấp, hay vô hình, mà không phải là khoảng cách xa bốn bước của hai chiếc giường đêm vô tình… Mắt mở sáng vẫn không nhìn ra nhau. Nhắm mắt lại vẫn nhìn thấy nhau. Bóng tối của đêm không hẳn là kẻ đồng loã của tội lỗi mà còn ẩn hiện ánh sáng sâu thẳm của lương tri. Cho nên người ta mới trằn trọc… đêm dài.

**

Trên chuyến xe từ Vũng Tàu về, Chị Ba mặc bộ quần áo thể thao trắng, ngồi băng ngoài. Tôi ngồi băng trong, kế Chị. Chiếc nón trắng vành lớn, che hết mặt. Mắt lại đeo kính mát màu nâu, gọng to, nên tôi không thể nhìn rõ mặt và mắt Chị. Chị che giấu mặt, giấu mắt, nhưng làm sao chị Chị che giấu được thứ tình yêu đang nở lớn dần trong tim? Trí óc Chị có nghĩ gì đi nữa thì thứ đó cũng không khác gì thứ mà tôi nghĩ trong trí não tôi. Tiếng đập vi mô của trái tim yêu đương là tiếng âm vang thiêng liêng thấu suốt thời gian và không gian. Tiếng đập của tim, tiếng thở yêu đương của Chị và của tôi tối hôm qua ở bến nước Vũng Tàu đã được các lượn sóng ngầm mang ra biển cả, đưa vào chốn xa xôi, không bến, không bờ. Vô tận. Nhưng trường cửu với thời gian, không thể xoá mờ được trong tâm não tôi.

 

Tôi khoanh tay, nhắm mắt ngồi bên Chị, nhưng tôi vẫn có cảm tưởng thỉnh thoảng Chị nhìn trộm tôi. Chắc rằng Chị đang đem thời gian ra để làm thước đo… tình yêu, như trước đây tôi đã từng nghĩ tới và từng đau khổ, kêu thấu đến Đấng Chúa Trời.  Chúa ở xa nhưng thật gần. Tôi nghĩ rằng trước Hân và trước tôi rất lâu, những nhà tư tưởng, những nhà văn đã nghĩ đến sự cách biệt nầy của tuổi tác. Ở đâu đó, tôi đã đọc được câu nầy của Mark Twain “Age is an issue of mind over matter. If you don’t mind, it doesn’t matter.” Tuổi tác là một nan đề trên mọi nan đề khác. Nhưng nếu ta đừng quan tâm đến nó, thì nó không phải là nan đề. Twain viết câu nầy là muốn nói về tuổi già gây trở ngại cho mọi hoạt động. Tuy nhiên, tôi muốn hiểu theo một nghĩa khác. Tôi yêu Hân, tôi muốn hiểu rằng tuổi tác không còn là một vấn nạn đối với tôi nữa. Hân sáng suốt hơn tôi, hẳn Hân hiểu rõ lòng Hân…

Tối hôm đó, Chị Ba nói với Dì Năm là Chị mệt, chỉ cho Chị ăn cháo trắng với đường. Chị đi nằm sớm. Tôi và Dì Năm ăn cơm. Dì Năm ăn xong đem cháo lên phòng cho Chị. Chị ngủ sớm hay nghĩ gì suốt đêm đó hở Chị Ba?

Sau nầy, khi đọc quyển nhật ký của Thái Hân, tôi mới biết rằng đêm đó, khi từ Vũng Tàu trở về, Hân đã bắt đầu viết trang tình sử đẫm lệ của Hân. Tôi còn nhớ rõ ràng những dòng chữ mở đầu bằng Pháp văn, là một bản văn của Học phái Duy Tri, người Pháp gọi là “École Gnostique”. Học phái nầy cho rằng bản văn là của nhân vật huyền thoại cổ Hy-Lạp và Ai-Cập, Thần Hémès-Thot, viết từ ngàn xưa:

 

“Dieu fait l’éternité, l’éternité fait le monde; le monde fait le temps, le temps fait devenir. L’essence de Dieu est le vrai, le bien, le beau, la béatitude et la sagesse. Celle du monde est l’ordre. Celle du temps est le changement. Et l’essence du devenir est la vie et la mort.”

Hémès Trismigiste.

Hân ghi tên tác gỉa bản văn, dưới góc phải. Hémès Trismigiste là tên của vị Thần huyền thoại nói trên.

Hân dịch ra quốc ngữ:

“Đấng Tạo Hóa sáng lập trường cửu. Trường cửu dựng thế giới. Thế giới tạo thời gian. Thời gian sanh chuyển hóa. Nguyên thể của Đấng Tạo Hóa là chân, thiện, mỹ, là toàn phúc, là tuệ mẫn. Trọng lý của thế giới là pháp chánh. Nguyên lý của thời gian là biến thiên. Triệt lý của chuyển hóa là sự sống và sự chế́t.”

Ở trang kế tiếp, Hân ghi thêm một câu do chính nàng viết, bằng Pháp ngữ:

“Mais L’Amour est la sagesse vitale, l’essence propre et la raison d’être de la vie et l’éternité. L’Amour néglige le temps et règne l’univers. Le vent se fait et la mer se fait sous le movement mystique de la nature, mais l’Amour se fait au nom de Dieu comme une puissance réelle, la plus forte, de la création du monde. N’attend pas du lendemain. Ne dit pas du devenir. Ne se fait pas peur à l’avenir. Je ne regarde pas au changement, à l’ordre et… à la mort. J’adore la vie. Car j’ai déjà trouvé la béatitude dans mon âme et l’essence immunuable de mon coeur. J’ai un homme dans ma vie et un amour pour jamais… Grâce à Dieu.”

Hân còn dịch lại bằng Quốc ngữ:

“Nhưng Tình yêu là mẫn tuệ chiết trung, là nguyên lực tinh tuý, là chân lý hiện thực, của cuộc sống và sự trường cửu. Tình yêu không màng đến thời gian và ngự trị vũ trụ. Gió chuyển, biển chao là bởi sự vận chuyển huyền bí của thiên nhiên, nhưng Tình yêu hiện hữu, nhân danh của Đấng Tạo Hoá, như là một sức mạnh thực sự, mãnh liệt nhất, tạo dựng thế giới. Đừng chờ đợi ngày hôm sau. Đừng nói đến số phận. Đừng sợ sệt tương lai. Tôi bất chấp sự biến thiên, quyền uy và cái chết. Tất cả những thứ đó đều vô nghĩa đối với tôi. Tôi yêu cuộc sống. Vì tôi đã tìm được chân hạnh phúc trong tâm hồn và chân lý bất biến trong tim. Tôi đã có một người yêu và một tình yêu vĩnh cửu. Cảm tạ Thiên Chúa.”

Với các dòng chữ nầy, Hân cũng chứng tỏ đã đấu tranh với chính bản thân và đã tự thắng. Tôi đã biết Hân rõ ràng hơn. Tình yêu của nàng thật đậm đà. Nàng đã coi thường thời thời gian, bất chấp tuổi tác, bất chấp tương lai. Yình yêu có lý lẽ riêng của nó, như người Pháp thường nói. Hân như đã tìm ra một lẽ sống ngược thời đại, hay vượt thời đại mà hủ tục tàn dư còn quá nặng nề trong xã hội Việt Nam. Hân đã quyết tâm xông vào trận tuyến tâm lý đầy khó khăn, chỉ đơn thuần với lòng quả cảm và ý chí cương quyết tuyệt vời. Nàng đã hiểu rõ  mình hơn bất cứ ai. Nàng đã tìm được chân, thiện, mỹ trong tình yêu và ân sũng của Chúa.

Có lẽ chính vì vậy mà Hân đã lấy lại được sự tự nhiên và niềm tin, nên sáng sớm ngày hôm sau, Thứ Hai, còn nghỉ Hè. Hân đã  gõ cửa phòng tôi và vui vẻ gọi:

-Út, dậy chưa? Dậy đi. Mình đi ăn sáng.

Chị Ba không ngờ tôi đã thức từ sáng sớm. Đang ngồi đọc một quyển sách mà không thấy được chữ nào. Tất cả các trang sách đều mang những hàng chữ chồng lên nhau, nhoè nhoẹt. Vì đầu óc tôi đang nghĩ về Chị. Không hiểu tại sao đêm qua Chị Ba đi ngủ sớm. Vào phòng đóng cửa lại. Nghe tiếng Hân gọi, tôi mừng như nghe tiếng gọi thương yêu của Đức Mẹ Đồng Trinh vọng đến từ Thiên đàng. Tôi đứng dậy, bước ra mở cửa, nói:

-Em thức từ sáng sớm. Chị sửa soạn đi rồi mình đi. Em xong rồi!

-Chưa xong đâu Cậu Út! Thay bộ quần áo đẹp đi. Mang giày. Chải mái tóc lại nữa nghen.

Khi xuống nhà, tôi dắt chiếc vélo-solex của Chị Ba ra sân, rồi định trở vào dẫn chiếc xe đạp của tôi ra, thì nghe Chị Ba nói:

-Thôi, đi một xe thôi. Bữa nay Cậu lái xe, chở tui đi. Tui hổng lái xe nữa…

Đây là lần thứ hai tôi nghe Chị Ba xưng hô với tôi bằng… cậu và xưng … tui. Và từ đó, mãi về sau, Hân dùng các từ này để nói chuyện với tôi.

Khi ra đường, tôi hỏi:

-Mình đi đâu, Chị Ba?

-Cậu tự chọn đường đi! Sao hỏi tui?

-Chị Ba. Bộ chị còn giận em sao? Tôi ngần ngại hỏi.

-Giận chớ! Ôm người ta muốn nghẹt thở. Hôn người ta muốn trớt môi!

Bây giờ còn chị… em gì nữa! Đi đâu… thì đi đi… Tự mình quyết định đi! Hỏi tui làm chi…

Nghe Cô Giáo nói, tôi hoảng hồn, hoảng vía, bước xuống xe, nhìn Cô, hỏi:

-Bộ giận thiệt. Muốn đuổi em đi sao? Em không đi đâu hết, ở đây thôi hà… Cho xin lỗi đi mà!

-Ở đây, rồi ai chở tui đi ăn sáng? Đói bụng rồi. Không thấy đêm qua người ta ăn cháo sao? Có ai đuổi xô ai đâu? Chỉ muốn nói là tự chọn tiệm ăn nào… thích. Chớ để cái gì cũng tự mình tui quyết định mãi sao? Vậy mà cũng hổng biết! Biết… ôm hôn người ta… là người lớn rồi. Phải xin lỗi… vụ đó hông? Bộ… hôn đại, rồi xin lỗi là xong sao? Thôi lên xe, chở tui đi… Chờ gì nữa.

Hân cười mỉm. Tôi cũng cười, nhưng hồn như theo với ánh nắng bay lên trên những tầng mây. Tôi ngồi lên xe, Hân vén vạt áo dài ngồi yên phía sau, hai chân xuôi một bên, vòng tay ôm ngang hông tôi. Hân nói:
-Cho… ôm lưng lại một chút được hông? Có vay phải có trả chớ. Muốn mang nợ thì mai mốt phải đèo cục nợ nầy mỗi ngày cho biết thân nha…

-Nhớ nha, nợ của tôi thì tôi mang, không được cho ai mang nghen! Hứa rồi đó! Tôi trả lời.

Tôi đưa Hân đến quán ăn trong hẻm gần Toà Đô Chánh. Chọn luôn bún nước lèo Cà-Mau cho Hân và tôi, với hai ly cam vắt. Sau đó, tôi cũng tự động chở Hân đến Nhà Thờ Đức Bà. Tôi gởi xe bên hông Nhà Bưu Điện và nói với Hân:

-Mình vào Nhà Thờ cầu nguyện Chúa đi. Sáng nay chắc ít người.

-Ủa, còn sợ chỗ đông người nữa sao? Mà vào cầu nguyện việc gì? Hay đi xưng tội? Không có tội lỗi gì hết. Thương thì thương. Chúa có bắt tội đâu? À, phải rồi, mình vô cầu nguyện đi. Cầu nguyện Chúa chứng giám cho mình yêu trọn đời đi… Chịu hông? Cậu có thương tui không? Có dám cưới tui làm vợ không? Nói đi, rồi mình vào Nhà Thờ.

-Thiệt không? Hân nói thiệt hông? Có, có tôi… thương Hân. Thương nhiều lắm. Tôi muốn… Hân. Mà không biết nói làm sao? Tôi nhớ lời Hân nói từ hôm nay cho đến chết.

Tôi nói vậy khi nhìn vào mắt Hân và nắm chặt hai bàn tay Hân.

-Chắc hông hở Út? Mà Út đã nói… thương tui giữa trời, giữa nước, ở Vũng Tàu đêm Thứ Bảy đó rồi… Còn nói gì nữa! Hân trả lời.

-Thì đêm đó, mới… ôm hôn có… một chút thôi mà. Có… gì đâu!

-Bộ dễ… ôm hôn người ta lắm sao? Còn nói có… gì đâu, hổng có gì đâu. Còn muốn có gì… nữa hở Dân? Nếu muốn… thì ráng chờ đi… nha!

Trong nhà thờ sáng Thứ Hai rất ít người vào quì cầu nguyện. Hân dẫn tay tôi lên hàng ghế thứ nhất, làm dấu thánh, quì xuống, rồi nói:

-Mình cầu nguyện cho đủ hai người mình nghe thôi. Bây giờ… tui cầu nguyện trước.

Tôi nghe Hân khẩn cầu, sau khi làm dấu thánh lần nữa:

-“Lạy Đấng Chúa Sáng Thế, con là Hoàng thị Thái Hân, cầu xin Chúa chứng giám cho lòng con. Con yêu Võ An Dân, con tự nguyện sẽ làm người vợ trung thành của Dân. Hạnh phước cùng hưởng, đau khổ cùng chia. Sống chết có nhau đến trọn đời. Cầu xin Đức Chúa Trời, Đức Chúa Jésus, Đức Thánh Linh chứng giám và ban phước lành cho chúng con. Xin Đức Mẹ Đồng Trinh giữ gìn tiết hạnh cho con về sau khi con hiến dâng giọt máu trinh tiết của con cho An Dân, chồng con. Cầu xin Ba Ngôi Đức Chúa Trời cao cả chứng giám. Amen.”

Khi cầu nguyện, nước mắt Hân chảy dài trên đôi má.

 

Tôi cũng không kềm được nước mắt, làm dấu thánh, nguyện cầu:

“Kính lạy, Đấng Chúa Trời Tối Cao, con là Võ An Dân, con biết con đã phạm lỗi khi con yêu thương người đỡ đầu, người thầy của con là Hoàng thị Thái Hân. Con xin nhận người con yêu dấu và kính trọng nầy làm vợ con. Hôm nay chúng con tự nguyện làm lễ nầy trước Chúa. Chúng con lập hôn thú không văn tự có các đấng Thần Linh chứng giám như một lời thề. Con sẽ suốt đời thương yêu Thái Hân. Hạnh phúc cùng hưởng, hoạn nạn cùng chia. Xin Chúa Ba Ngôi chứng giám và chấp nhận lời cầu nguyện của con. Amen.”

Chúng tôi đọc ba lần kinh cầu nguyện Lạy Cha và mười tuần kinh Đức Mẹ Maria. Rồi ôm nhau hôn và khóc. Lời cầu nguyện và những giọt nước mắt đã giũ sạch nỗi lo âu, khoắc khoải trong lòng của Hân và của tôi từ bấy lâu nay.

Rất lâu sau chúng tôi mới đi về. Làm dấu thánh, rồi bước lui ra. Khi ra gần đến cửa, Hân và tôi nhìn lại thấy một vị Linh mục đứng ở bục giảng nhìn theo và làm dấu thánh rồi đưa tay vẫy chào… Hình như Cha đã âm thầm chứng giám lễ kết hôn của chúng tôi.

Hân và tôi đã đi đến một quyết định quan trọng nhất trong đời. Một quyết định lớn lao như vậy mà chỉ thực hiện ngay trong một khoảnh khắc thì không thể nói là nông nổi. Mà nó là sự bộc phát của tình cảm bị dồn nén trong bao nhiêu năm của Hân và của tôi. Một thứ dồn nén tâm lý phải được cởi bỏ ở thời điểm và môi trường thích hợp nhất. Tôi biết rằng Hân và tôi đã thầm yêu nhau từ mấy năm qua. Chúng tôi biết rằng không thể xa nhau được nữa. Xa một ngày là nhớ nhung, mong ngóng. Nếu phải xa nhau luôn là đứt ruột, bầm gan, là cuộc đời đã chết. Thế nhân có biết không? Chúng tôi còn biết nói với ai đây. Hân chắc cũng biết rằng không thể nào Thuý Hằng, Cô Tư của Hân, hay Nhàn chấp nhận cuộc tình ngang trái nầy. Không một ai, kể cả ba, má và các anh chị tôi chấp nhận một cuộc hôn nhân kỳ khôi như vậy. Trái sầu riêng không ai hái  sẽ rụng âm thầm mà thôi.

Chắc chắn sẽ không bao giờ có một hôn lễ giữa Hân và tôi trong cái xã hội lễ giáo Khổng, Mạnh từ hàng nghìn năm xưa còn tồn tại vững vàng này, dù chúng tôi đang sống trong Thế kỷ Hai Mươi. Nền tân học của phương Tây chưa đủ làm cho nó chuyển hóa. Và như vậy, cõi thế tục nầy không thể chấp nhận chúng tôi yêu nhau.

Chúng tôi đã mang tình yêu của mình vào cõi đạo. Chúa nhân ái sẽ chấp nhận cuộc tình và sự kết hôn bất thành văn của chúng tôi. Tôi đã lớn, có đủ tri giác để biết rằng tôi không thể làm khác hơn. Xa Hân là tôi sẽ mỏi mòn dần và mất cả niềm tin vào cuộc sống. Chỉ hi vọng gia đình tôi, nhất là Ba tôi và Chị Hai, đừng vì chuyện tình ngang trái này mà từ bỏ tôi và chấp nhận sự kết hợp thầm lặng giữa Hân và tôi.

Đó là niềm hi vọng duy nhất.

Tôi không bất hiếu. Trước mặt Thiên Chúa, Hân và tôi không có tội. Vậy, cứ mặc cho người đời muốn hiểu sao hay nói gì… cũng để ngoài tai.

Trên đường về, vòng tay ôm của Hân quanh thân thể tôi chặt hơn. Tôi nghe hơi ấm từ ngực Hân thấm vào tận mạch tim tôi. Chiếc vélo nhỏ nhắn trở thành chiếc thuyền lớn chở Hân và tôi vào biển sóng… tình yêu.

Sau buổi cơm trưa, Hân và tôi lên lầu. Hân đi thẳng vào phòng của cô. Trước khi vào phòng Hân vẫy tay chào tôi, kèm theo một nụ… hôn gió và một nụ cười.

Tôi vào phòng, ngủ một giấc dài đến chiều tối, như vừa trải qua một giấc mộng lớn…

**

 

Buổi tối, tôi thức giậy, Hân đang ngồi trên giường, vuốt tóc và hôn trán tôi:

-Út dậy, muốn ăn cơm nhà, đi ăn cơm gà tay-cầm An Đông hay ăn mì La-Caze?

Tôi nắm hôn bàn tay mềm mại của Hân, nói:

-Không muốn ăn, muốn ngủ nữa.

-Thôi mà. Ngủ đủ rồi. Không ai cưng đâu… mà nhõng nhẽo. Đi rửa mặt, ăn cơm rồi nói chuyện một chút coi.

-Hồi sớm nói rồi mà!

-Hổng phải chuyện đó. Chuyện học hành của Út kia.

 

Nghe nói tới chuyện học hành, tôi ngồi dậy ngay. Nói với Hân:

-Để đi tắm. Ăn ở nhà. Cho ăn cơm… tay cầm, nguyên một ổ, ớt cay. Nói Dì Năm ra bến xe Ngã Bảy mua cho gần.

-Bánh mì xá xíu hay xíu mại? Thôi mua cả hai thứ luôn nghe. Hân nói xong, bước xuống nhà dưới.

Chừng nửa giờ sau, ngồi trên chiếc băng ở sân thượng, dưới cửa sổ phòng của Hân, hai người chia nhau hai ổ bánh mì, ăn ngon lành. Uống nước đá lạnh.

Hân bắt đầu:

-Tui đã viết thư cho Frère Bề Trên của Taberd xin chứng chỉ học trình cho cậu để nộp vào học trường khác. Mới nhận được giấy chiều nay.  Frère phụ trách lớp của cậu phê điểm tốt lắm. Nhưng câu chót làm tôi đọc mà ngại quá. Có muốn nghe không hay muốn tự đọc cho rõ ràng hơn?

-Thì… Hân nói luôn đi!

-Câu kết luận đó như vầy:“Dân est un excellent élève. On le voit nettement dominer ses camarades, pourtant un peu irrégulier.” Sao kỳ vậy. Học trò giỏi. Rõ ràng học giỏi hơn các bạn cùng lớp nhưng… hơi bất thường là sao? Tui không hiểu. Ở trường Út có làm gì… lạ hơn các bạn học hay không?

Nghe Cô Giáo đọc lại câu phê điểm của Frère Ferdinand, thầy phụ trách lớp Đệ IV, tôi biết ngay cái sự việc mà Frère gọi là bất thường “irrégulier” là thứ gì của tôi rồi. Tôi lén nhìn Cô Giáo, nói:

-Có, ở trong lớp tôi có điều… bất thường.

-Chúa ơi! Út làm gì ở Trường vậy Út? Điều bất thường gì vậy?

Cô Giáo hỏi mà rơm rớm nước mắt.

-Thì mấy lần bị Frère Ferdinand cho ăn trứng ngỗng đôi?

-Trứng ngỗng đôi là cái gì, là sao?

-Là “double-zéros encadrés” đó. Gọi là trứng ngỗng đôi.

-Chúa ơi! Sao vậy Út? Bộ làm bài lạc đề hả? Sao tôi coi bài vở của Út hoài mà không thấy? Bộ giấu mấy bài đó hết rồi, hả Út? Cô Giáo hỏi.

-Hổng có giấu mà… xé!

-Chúa ơi! Bộ Út đã… gạt tui rồi sao! Hân nói xong, có vẻ buồn, định đứng dậy.

Tôi hết hồn, vòng tay ôm Hân lại, vội vàng nói:

-Không, không phải vậy. Không có gạt… Hân đâu. Tại vì tôi không thích làm mấy bài làm đó, vì không thích các tác gỉả. Nên không làm bài.

-Sao, Út nói kỹ lại nghe coi.

-Thì, mấy lần ở trong lớp Frère cho bài viết luận Pháp văn hàng tuần,  mà chủ-đề của một trong hai tác giả Pháp, Jean de La Fontaine và Francois-Marie Voltaire, là tôi không thích làm. Vẫn nộp bài ghi chủ-đề đầy đủ. Còn viết thêm một câu ở chỗ phải viết bài: “Kính thưa Frère, tôi không thích tác giả, nên không làm bài nầy.”

Đó, vậy là sau khi chấm bài xong, Frère trả bài lại cho lớp, và đem bài của tôi ra cho cả lớp xem hai con zéros màu mực đỏ đậm, to như hai cái trứng ngỗng thật, trên trang giấy trắng, và còn đóng khung lại. Frère nói cho cả lớp nghe “Trò Dân học giỏi mà có dị cảm với La Fontaine và Voltaire. Tại sao? Còn không thích ai nữa… trong văn học sử Pháp? Như vậy, sẽ thi rớt thôi!” Tôi chỉ cúi mặt, không nói gì, nhận lại bài với hai con số-không đóng khung to tướng… Khi ra về, xé… bỏ. May mắn làm sao, khi thi Trung học Đệ Nhất Cấp, tôi không gặp hai ông văn, thi sĩ nầy, nên mới đậu. Bình thường, trong lớp, các bài viết Pháp văn của tôi được Frère chấm từ 6/20 đến 7/20 điểm, là số điểm cao nhất mà Frère cho. Người được điểm cao thứ nhì… chỉ được 4.5/20 hay 5/20 điểm. Vậy đó, tôi đâu có giấu Frère. Chỉ sợ… người ta buồn thôi… nên mới xé. Chớ đâu có gạt… người ta đâu!

-Thôi… tui hiểu rồi. May mà Frère Ferdinand thương Út học giỏi và thành thật, nên chưa đuổi… học. Cũng vì vậy, nên mới có lời phê điểm cuối niên học ghi trong chứng chỉ học trình. Bây giờ, Út nói cho tui biết tại sao không ưa tác phẩm của La Fontaine và Voltaire.

-Ngụ ngôn của La Fontaine là dạy đời. Nghe riết nhức lỗ tai. Đi dâu cũng bị giảng morale đã mệt rồi, vô lớp còn nghe thêm các trò dạy đời nữa, nhức đầu thêm. Chữ nghĩa văn chương làm sao nhét vào óc được nữa. Còn ông Voltaire, chống đối Hội Thánh Công Giáo. Có thể tôi hiểu nhầm ông vì ông đã kích dữ dội sự cuồng sát của những cánh quân Thập Tự Chinh ngày xưa. Tuy nhiên, lúc đó ông cũng nói… Đức Chúa Trời sẽ không còn nữa… Đến tàn cuộc đời Voltaire bị chết thê thảm. Điên loạn, sợ sệt như là có bàn tay khác thường kéo ông ta đi… tạ tội trước Thánh Chúa. Ông ta tự xé nát da thịt mình mà chết. Ông ta không thích, không thương Chúa. Tôi không thích, không đọc tác phẩm của ông. Có vậy thôi!

-Phải! Út thành thật với chính mình. Hèn chi mình gặp nhau cũng phải. Thôi, xích lại gần chút nữa đi… vợ cho hôn. Mà hun một chút thôi. Một lần nầy nữa thôi nghe, rồi để dành… Mai mốt, ráng thi đậu Tú Tài rồi cho hôn nhiều… Rồi mới…

-Mới làm sao? Hay ý muốn nói “nếu chưa thi đỗ, thì chưa…động phòng chớ gì?”

-Phải đó! Chịu hông?..

-Chịu… để dành một thứ… đó thôi. Hổng chịu để dành… cái khác đâu!

-Cái khác, là gì há?

-Giống như… ở biển đêm đó, đó.

-Ý là hổng chịu tạm đình chỉ… ôm hôn, chớ gì? Ăn quen, nhịn hổng quen. Riết rồi làm sao người ta… còn g…in được nữa!

-Còn cái gì g…in?

-Thì hôn hít riết, mất mùi… gin con gái của người ta hết!

-Đâu có mất đâu. Còn làm… ngây ngất… đây nè. Ủa, mà bộ chỉ con gái có, còn con trai hổng có… mùi gin sao?

-Chắc có hông? Chớ hổng phải bị gái Cà-Mau hưởng mất rồi sao?

-Có ai đâu?

-Thì… người đẹp, thiệt đẹp… Bội Mỹ đó!

-Ý, Trời! Còn cái vụ nầy nữa…

-Không có… ghen đâu! Chỉ thấy tủi tủi trong lòng thôi… Tết nào cũng về Cà-Mau ba bốn ngày liền. Ở trên nầy buồn, nhớ… Người ta ở dưới quê được con gái đẹp hơ hớ như vậy thương yêu, mà hổng tủi sao được? Chẳng lẽ hổng có… gì sao? Mà có hông? Hết… con trai rồi phải hông?

-Hổng có mà. Hổng có… Còn mà!

-Bộ hổng có hôn nữa hả?

-Đâu có. Chỉ mới biết… hôn cô… giáo nầy thôi hà.

-Phải hông? Thiệt hông?..

-Phải mà! Thiệt mà!

-Nếu thiệt, thì người ta chịu… cho hôn, hổng để dành nữa. Để dành… cái khác thôi, nghen. Nghe hông? Chịu hông?

-Thì hổng nghe, hổng chịu, cũng hổng được. Thôi, bây giờ… mắc đền đi.

-Mắc đền cái vụ gì vậy?

-Thì hồi nãy bảo người ta xích lại gần… đó. Chờ lâu rồi…

-Thì… đền nè…

Buổi nói chuyện với Hân ít nhiều cũng gợi nhớ cho tôi về Bội Mỹ. Tôi không nghĩ dù trở thành một cô gái đẹp như một bông hoa tươi thắm, hay một hoa khôi, nhưng ở tuổi mười bảy, mười tám, chưa hẳn Mỹ có thể là một thục nữ, một giai nhân, như tôi đã hình dung qua những thiên tiểu thuyết mà tôi đã đọc.

Khuê môn thục nữ phải là giai nhân sắc nước hương trời, mắt như hồ thu, da như ngọc, dáng buồn như liễu, làm say đắm lòng người. Lại phải tài hoa, có học thức. Lại phải có đức hạnh, hiền thục, kiên trinh, trung hậu làm cho ai cũng cảm lụy. Người thục nữ đó nhất định phải ở độ tuổi trên dưới ba mươi. Tuổi đó là tuổi chín mọng như một quả đào thơm, hương bay theo gió thoảng, dù là bậc trượng phu, anh hùng, hiền sĩ cũng phải luyến lưu không muốn rời chân. Huống chi tôi chỉ là một thanh niên mới lớn, sống trong mơ hơn là trong thực tế.

Nhưng khi nhìn thấy Thái Hân trong thực tế, ngay ở phút đầu tiên, lòng tôi đã rúng động. Người con gái ở tuổi đẹp chín mùi nầy đã làm tan biến bức tranh tố nữ trong mộng của tôi. Vì Hân là hiện thể sống động, biết bao lần đẹp hơn bức tranh của mơ mộng. Rồi bao nhiêu năm sống chung dưới một mái nhà, tôi biết Hân có đầy đủ tài sắc, đức hạnh, phong cách của một giai nhân, một thục nữ, ở thời đại nầy. Và trên hết mọi điều là tôi biết Hân cũng yêu tôi.

Hân sống trong một gia đình cao sang quyền quí, lễ giáo như một tiểu thơ khuê các, nhưng đã mang nỗi buồn bất tận. Khi vừa lớn khôn đã chịu cảnh mất cha mẹ và anh cả. Chính Hân tự mình phải đảm đang trách nhiệm của người gia trưởng, quán xuyến tài sản của tổ phụ, và thay cha mẹ mà nuôi em. Hân hình như bao giờ cũng cô đơn. Chính nỗi cô đơn nầy đã khiến cho Hân yêu tôi. Hay chính tôi đã được hồng ân của Đấng Tối Cao ban cho tình yêu say đắm nhưng nghiệt ngã, chênh lệch này.

Hân thương yêu tôi như một người em và quí trọng tôi như một người tình. Hân bắt đầu đóng cửa dạy… chồng -trước sự kết hợp của Chúa. Và tôi cũng hiểu rằng tôi phải làm gì để xứng đáng với tình yêu của Hân. Chúng tôi vẫn giữ đúng chương trình sinh hoạt hàng tuần như trước. Đi lễ Nhà Thờ, dạo phố, ăn uống, giải trí, thể thao, thể dục. Có giờ giấc học hành, nghỉ ngơi, không thay đổi. Vì vậy, dù yêu Hân, tôi vẫn tôn trọng Hân như một người thầy. Từ ngày đó, tôi không mạo phạm hay lạm dụng vật chất như thường tình của những kẻ yêu nhau.

Vả lại, tôi cũng hiểu rằng, có những đôi nhân tình yêu nhau, có âu yếm nhau, nhưng không vượt quá làn ranh tình cảm, không bị cám dỗ đến si cuồng. Cho đến lúc mà thời gian cho phép, hay vì một nguyên do nào đó, đã được an định, họ mới thực sự ăn ở với nhau như vợ chồng. Hân và tôi ở trong tình trạng này. Hân đã tự chế và đã khuyến khích tôi tự chế để hoàn thành việc học vấn mà gia đình tôi mong mỏi mà chính Hân và tôi cũng muốn như vậy.

Hân chú trọng chỉ dẫn cho tôi nhiều hơn về văn chương chữ nghĩa, toán và khoa học. Tôi ghi danh vào học ở một trường tư thục mở các lớp luyện thi Tú tài I Pháp các ban A, B và C.

Hân bảo tôi chọn Ban A về Khoa học, thi sẽ dễ hơn là Ban B, Toán và Ban C, Văn chương. Nhất định tôi không chọn Ban B, vì tôi dốt Toán. Hân khuyên tôi không nên chọn Ban C, mặc dù tôi có khiếu về văn chương, nhưng chỉ sợ tôi không thích thêm một vài tác giả văn học Pháp nữa, thì là đánh đu với số phận, mà người ta thường nói là “học tài, thi phận”. Tôi cũng biết rõ tôi về điều nầy. Thích là thích, không thích là không thích. Rõ ràng, không sợ hậu quả.

Phòng đọc sách là nơi mỗi tối Hân dạy thêm cho tôi học. Ở đó có đầy đủ tiện nghi, tài liệu tham khảo, sách học theo từng chương trình.

Thường ngày, Hân mặc bộ đồ Thượng Hải đen, trắng, hay hường tay ngắn. Nhưng khi dạy tôi học, tôi cứ nhìn vào hai bàn tay mũm mĩm, ngón tay dài búp măng và hai cánh tay trần trắng nuột nà của Hân. Nàng biết. Tình nghĩa là vợ chồng trước Thiên Chúa, nhưng danh phận vẫn là thầy trò, Hân tìm cách hạn chế bớt sự cám dỗ. Chỉ một tuần sau, Hân thay các áo tay ngắn bằng áo tay dài, cổ áo kín, eo rộng. Nhưng mùi hương da thịt vẫn quyến rũ, nên Hân không dám đứng gần ghế ngồi của tôi, mà ngồi ở ghế đối diện mỗi khi dạy tôi. Tôi càng quí trọng và càng thương yêu Hân hơn. Tôi cũng hiểu tâm sự của Hân, nên tập trung ánh mắt vào sách hơn là nhìn Hân. Chỉ khi học bài xong, ở hai bàn đánh răng, trước khi đi ngủ, Hân mới nhìn tôi cười. Sau đó ôm nhau, hôn nhẹ nhàng trên má, trên môi, rồi về phòng riêng. Quen rồi cũng thành lệ.

Tết năm 1952, tôi đang phân vân không biết phải về quê hay không. Hân đã từng nói về sự mong ngóng ngày trở lên của tôi. Nhưng tôi thương nhớ Mẹ. Hân biết, đánh điện gọi vợ chồng Út Hằng và con trai về Sài-Gòn ăn Tết. Hân hỏi tôi:

-Út có nhớ nhà không? Có muốn Tết về Cà-Mau thăm Ba, Má không?

Tôi nói thật:

-Có, nhớ Má. Má bệnh nhưng mỗi khi tôi về Má như hết hẳn. Tôi về chừng ba ngày thôi. Mồng Ba trở lên được không?

-Thì Út phải về chớ. Tui đâu có… giành chỗ của Má được. Nhưng nhớ, đừng ở lâu nghen. Người ta nhớ…

Sáng ngày 29 âm lịch, trước khi đưa tôi ra bến xe, Hân ôm tôi thật chặt, hôn rồi nói:

-Nhớ nha, lên sớm nha. Về… hôn Má thôi. Đừng có ỷ mình đẹp trai, được người đẹp Bội Mỹ thương, rồi léng phéng nha. Hôn… người đẹp, về mất mùi… tui biết đó. Nhớ hông?

-Nhớ mà. Chỉ hôn người đẹp Thái Hân nầy thôi. Giữ g…in cho người nầy thôi. Chịu chưa?

Về Cà-Mau lần nầy, cả nhà mừng rỡ. Ba nói với Chị Hai và Chị Bảy, “thằng Út nó lớn đại, thành thanh niên rồi”. Má tôi yếu hơn trước nhưng vẫn biết tôi về thăm. Nhưng có một việc làm tôi ngỡ ngàng.

Tôi có ý mong Mỹ, để nói một lần cho khỏi mắc nợ trong lòng, nhưng không thấy Mỹ đến. Buổi tối, Chị Hai nói với tôi mà rơm rớm nước mắt:

-Bây giờ mới về… Mất vợ rồi!

-Chị nói gì vậy Chị Hai? Mất vợ… nào?

-Bội Mỹ, chớ ai? Bộ còn ai nữa hả?

-Đâu có… ai đâu. Mà Bội Mỹ thì sao? Cưới hồi nào mà mất.

-Ờ, bởi không chịu cưới, mới mất. Có người làm mai, làm mối, nó ưng một người Việt triệu phú, gốc Đài Loan rồi. Chưa cưới, nhưng làm lễ hỏi rồi. Mỹ lại được bảo lãnh đi Đài Bắc du học. Mới đi cuối tháng Mười Một…

Tôi như có gì hụt hẫng, hỏi:

-Mà Mỹ học cái gì bên đó?

-Nghe nói học Anh ngữ, Hoa ngữ phổ thông, học kế toán, thương mại gì gì đó. Nó có chồng giàu, học để giữ của chớ.

-Bộ đi… không có nói gì sao?

-Sao không có. Mỹ trước khi ưng người nầy, có tâm sự với chị, tại em không chịu nó, yêu người khác. Tuyệt vọng, nó phải dứt tình với em. Chị hỏi Mỹ, em thương yêu ai? Mỹ nói biết người đó, người yêu của em, mà không chịu nói cho chị nghe. Bảo chị hỏi em. Ai vậy?

-Thì… người ta muốn có chồng giàu, nói như vậy. Chớ có ai đâu?

-Thiệt hông? Mỹ nói, mà khóc nữa. Đâu phải nói suông đâu.

Tôi hỏi lại:

-Chồng chưa cưới của Mỹ cỡ tuổi nào, đẹp trai không?

-Chừng hai mươi lăm, hai mươi sáu gì đó. Người trông cũng được. Nhưng đâu đẹp trai như em… Hơi già so với Mỹ, nó mới mười chín.

-Thì có chồng lớn hơn như vậy nó mới cưng nhiều chớ bộ.

-Uổng quá. Mỹ trẻ đẹp như hoa hậu mà em không chịu. Không hiểu nổi. Nhà mình mất một người dâu đẹp đẽ, nết na như vậy, thiệt tiếc quá. Con mắt của em chắc bị bù-lạch rồi. Kiếm đâu cho ra người như Bội Mỹ… Tháng giêng dương lịch nầy em mười chín, nhưng hai mươi mốt tuổi ta, bằng tuổi tây với Bội Mỹ nhưng lớn hơn một tuổi ta. Xứng đôi vừa lứa biết bao nhiêu. Tức quá đi…

**

Mùa Hè năm đó tôi thi đậu Tú Tài I. Hân xem kết quả xong, mừng đỏ mặt, nói với tôi:

-Đậu rồi! Lại đậu hạng “Bình Thứ” nữa. Giỏi quá! Ý mà…

-Ý mà sao? Sợ… trả nợ hả. Thôi, cho… khất đó. Chịu hông?

-Ai biết đâu nà. Muốn đòi… thì trả. Muốn khất… thì tuỳ người ta. Tui hổng biết.

-Thôi, bây giờ đi nhà Bưu Điện gởi điện tín về Cà-Mau, đi Nhà Thờ tạ ơn, rồi tính vụ nợ nần sau, chịu hông?

-Thì bây giờ tính sao, tui cũng chịu hết. Thua rồi, chịu ẹp thôi!

-Nói nghe tội nghiệp quá. Để về nhà rồi… thương nhiều.

-Thương nhiều mới… chết người ta!

-Có đâu. Có ai… chết đâu?

-Vậy, nhất định… đòi nợ rồi hả?

-Để coi người ta có… sẵn sàng trả không đã. Bị… buộc phải trả, ai mà nỡ đòi! Phải hông? Cô Ba…

Tôi suy nghĩ nhiều về chữ nợ nầy. Tôi học và thi đậu là nhờ Cô Ba dạy dỗ. Tôi mang ơn, mang nợ Cô, còn chưa trả được. Cô có nợ gì tôi đâu. Hay nếu có thì đó là thứ nợ tình, nợ nghĩa, nợ đời… của một định mệnh. Nợ của lời thề non hẹn biển, của lời hứa nghĩa tình mà con người biết trọng danh dự phải giữ cho tròn. Nhất là lời hẹn thề trước Thiên Chúa. Tất nhiên là việc gì phải đến sẽ đến. Hân và tôi không thể rời xa nhau được nữa. Vậy, tại sao phải làm tình làm tội nhau. Chờ đợi… có ích lợi gì, hay chỉ làm cho cõi lòng thêm khắc khoải, tinh thần thêm mệt mỏi, thể xác thêm héo gầy. Tôi thật lòng muốn nói với Hân, nhưng khó thốt nên lời.

Hình như Hân hiểu tôi hơn tôi tưởng. Và hình như cũng đã nghĩ như tôi. Nên sau khi ra Bonnard mua hai chai champagne và mấy hộp bánh tây, trên đường về, đi song song với nhau, Hân nói với tôi:

-Con gái lớn lên mong muốn khi thành hôn là lúc trả hiếu cho cha mẹ. Mời cha một chung rượu, mời mẹ một lá trầu để cha mẹ vui lòng. Lễ lớn hay lễ nhỏ, cũng phải có để ra mắt thân tộc, bà con, hàng xóm mà giữ danh giá cho gia đình và phẩm hạnh cho chính mình.

Tôi không may mồ côi… Chỉ còn một đứa em, một vài người bà con. Nhưng tự quyết định cuộc đời mình. Chúa đã khiến cho tôi gặp gỡ và thương yêu Cậu, trái phận, ngang duyên, nhưng lòng tôi không dời đổi.

Tôi bất cần thứ mà người ở đời tôn trọng ở mặt nổi của xã hội. Không phải tôi không tôn trọng lễ giáo tự nghìn xưa. Nhưng tôi sống thật với lòng mình.

Tôi tự hỏi điều mà người ta đặt ra để bắt tôi tuân theo là đúng để giữ gìn trật tự xã hội hay không? Hay chính hành động tự quyết từ tim từ óc tôi khiến tôi phải tuân theo là đúng? Tôi không phạm tội. Người ta có thể nào buộc tội tôi là đã phá hoại nề nếp, trật tự của xã hội này được sao… khi mà tôi chọn người tôi yêu và và yêu tôi… để làm chồng? Cậu đã thành niên, tôi giữ lời hứa với Chúa, giữ lời nguyện với Đức Mẹ là giữ lòng chung thuỷ sau khi hiến dâng tiết trinh cho chồng. Tôi nói Cậu có nghe rõ không? Tôi gọi Cậu… là Cậu… là tiếng của vợ gọi chồng. Tôi yêu chồng tôi, không cần tiệc lớn, không tiệc nhỏ. Chỉ có chai rượu và mấy hộp bánh nầy, về nhà mình sẽ mở rượu, mở bánh mời Ba Má, Anh Hai, chứng nhận cho mình làm lễ tơ hồng. Sau đó… mình uống rượu… hợp cẩn… Chịu hông?

-Tôi nghe Hân rất rõ. Tôi yêu Hân nhiều lắm. Tôi cám ơn Hân đã giúp tôi nên người, đã chọn tôi làm chồng. Tôi biết vong linh người đã khuất sẽ chấp nhận. Người đã mất, thuận theo ý Trời, nhưng người còn sống sẽ hành xử theo tâm lý xã hội. Tuy nhiên, tôi nghĩ Ba và Chị Hai tôi là những người hiểu biết, sẽ chấp nhận tình yêu của mình thôi. Chắc cũng bất cần hôn lễ của mình. Bây giờ tôi đổi tiếng gọi được không?

-Định gọi người ta là gì đây? Bộ gọi tên, hoặc… em, nghe hổng được sao?.. Hay gọi bằng… mình?

-Thì gọi gì cũng được. Nhưng tôi muốn gọi là… Cô. Cô là em, mà Cô cũng là cô giáo đã dạy tôi học. Để tôi không bao giờ quên vợ mình đã từng là… thầy mình, bao giờ cũng phải quí trọng. Có như vậy mới tránh khỏi tiếng nặng tiếng nhẹ với vợ sau này. Tình nghĩa sẽ cao thâm hơn một bậc.

-Á, thôi. Hổng chịu làm thầy nữa đâu. Chịu làm… vợ thôi. Tình nghĩa vợ chồng không thể đậm đà hơn được sao, khi mình yêu nhau tha thiết, khi mà Cậu không nặng lời với tôi, nhất là đừng chê tôi…

-Thôi, không nói tiếp. Nếu chê thì chê… hồi đó lận. Người ta mê muốn xỉu luôn. Đi xa một ngày nhớ muốn đứt ruột. Người ta cũng từng… thất tình muốn chết luôn. Hổng nhớ sao?

-Nhớ mà. Nhớ hoài, nên mới… cưng quá như vậy chớ.

Trong buổi cơm trưa, tôi nghe Hân nói với Dì Năm là tôi đã thi đậu. Hân nhờ Dì Năm đi lên vườn mang rượu và bánh lên cho Cô Tư và nói với Nhàn chọn cho một cặp sầu riêng, một chục xoài đường và mua vài chục nem Lái Thiêu về biếu cho Bác sĩ Quỳnh. Dì đi, mai về, không nên về buổi chiều tối. Nên đi sớm để kịp cho Nhàn lo chọn trái cây cho ngon. Cơm nước xong Dì Năm đi Thủ Giồng Một. Dì đã quen đường xá, xe cộ lâu rồi. Tuy không học nhiều, nhưng là người Sài-Gòn mấy chục năm nên rất rành rẽ mọi việc. Một tay Dì lo tất cả việc nhà, việc mua sắm, chợ búa. Đôi khi Dì còn thay mặt Cô Ba,  trong xã giao, tiếp khách, rất bặt thiệp. Dì rất đảm đang, tận tuỵ, thương yêu lo lắng cho Cô Ba từ lúc còn nhỏ, chẳng khác nào như một người dì ruột.

Đêm hôm đó, Hân và tôi đốt nến lớn trên bàn thờ. Rót rượu, đọc kinh cầu nguyện trước bàn thờ, làm lễ quì lạy trước di ảnh của Ba, Má và Anh Hai của Hân. Sau đó, chúng tôi lên lầu, vào phòng Hân, uống champagne hợp cẩn. Hân và tôi là những người chưa biết gì về thú vui thể xác. Nhưng những nụ hôn đã tìm nhau, hai thân thể trinh trắng quyện vào nhau… say đắm, hoan lạc… Không biết làm cách nào, tôi đã mở khóa được cửa động Đào còn phong kín. Quỳnh hoa đã khai nở. Chúng tôi yêu nhau, mật nhuỵ thấm đến tận cốt tuỷ, tận làn da thớ thịt. Khi đã mãn khai, Hân khóc, gói chiếc khăn tay trắng thêu tên Hân và tên tôi chéo vào nhau… mang những giọt máu trinh nguyên của nàng vào một chiếc hộp thật đẹp. Nước mắt còn rạt rào, Hân nói với tôi:

-Linh hồn và thân xác của người ta hoàn toàn dâng hiến cho… mình hết rồi. Gìn vàng giữ ngọc một đời, chỉ cho một người. Nhưng… em đã tìm thấy hạnh phúc. Sẽ giữ mãi chiếc khăn và nhớ mãi đêm nay cho đến trọn đời. Cậu có nhớ không? Hài lòng không? Có yêu thương vợ nhiều không?

-Đã mở cửa động Đào đã vào Thiên Thai. Ngắm non bồng, tắm nước nhược, mê mẩn cả tâm hồn, quên cả đường về cõi tục rồi… Sao lại không hài lòng. Sao lại không nhớ. Thương lắm! Yêu vợ nhiều lắm!

-Mà thiên thai có đẹp không, động đào có xinh hông? Ngắm tiên, thiếu xiêm y, hay có… Thứ nào đẹp hơn? Nhìn thấy… đẹp không? Có  thưởng lãm, ngắm, nhìn… kỹ hông? Hay mắc… tùm lum, có thấy gì… đâu. Phải hông?

-Thì tiên có xiêm y hay không, cũng tuyệt vời cả mà. Chỉ với gương mặt đẹp, đôi mắt nhìn vời vợi, cái thân hình trắng phau, nõn nà, cũng làm người ta cũng đủ chết ngất rồi. Người ta còn tân chớ bộ. Nếu để…nhìn lâu, đâu… kềm được. Bây giờ… ngắm chưa kỹ thì mai mốt sẽ… Lo gì?

-Thôi, thôi… hổng có… sẽ đâu. Vậy, vậy… được rồi. Người ta mắc cỡ muốn chết mà!

Từ đó, mỗi ngày Hân và tôi làm bổn phận vợ chồng. Ít nhiều cũng ra cái… sự đời.

Có điều khá lạ kỳ.

Ban ngày tôi đâm ra thích nhìn trộm… vợ khi nàng mặc áo dài trắng hay đen ngồi lên vélo, đi làm. Đoan trang, thanh nhã, thuỳ mị. Mặt sáng rỡ, mắt tinh anh. Vòng ngực nổi hây hây. Vòng eo, áo hở hai đường hông, trắng muốt. Vòng mông tròn trịa gọn gàng, gợi cảm, khi vắt vạt áo dài ra trước. Càng thích nhìn trộm vợ ở nhà, mặc áo ngắn tay, đủ màu, trắng trong. Tiếng nói trong thanh, dịu dàng, ngọt ngào. Khi đi, khi đứng, khi ngồi, mởn mơ. Nhất là khi nằm, người gợn sóng dưới lớp lụa khêu gợi, nhìn chỗ nào cũng muốn nổi… mây mưa.

Tôi tự hỏi có diễm phúc gì mà được ôm ấp một giai nhân như vậy? Hơn nữa, tại sao nàng cũng yêu tôi?

Ban đêm, tôi nâng niu vóc ngọc. Vuốt mái tóc huyền buông xoã đến lưng. Vuốt hai cánh tay. Vuốt eo. Xoa mặt. Xoa cổ. Xoa hai bờ vai. Xoa xoa…ở đâu nữa… không nhớ. Hôn lên từng vùng da thịt. Ở đâu cũng có mùi hương thơm dịu dàng, cám dỗ. Rồi… vào giấc xuân miên. Tôi thường thưởng lãm vùng đồi núi nguy nga ngan ngát và ngắm nhìn vùng đồi nhỏ có khe suối, cỏ mượt mà, còn ủ nét hoang sơ. Vợ ngoan hẳn phải chìu. Tuy miệng nói thôi… thôi anh, đừng… đừng mình ơi… nhưng tấm thân nõn nường vẫn uyển chuyển nhích dần, xê dịch, đổi dời, theo sự dìu dắt, đòi hỏi, không biết… có vô lý hay không, miễn sao cho vừa lòng, mãn ý… người yêu.

Tôi sức trai mới lớn, cường tráng, biết thể dục thể thao, biết văn chương chữ nghĩa, nên cũng biết lúc cương lúc nhu trong chuyện gối chăn. Tự học. Tự phát. Đâu cần ai bày vẽ, đâu cần xem sách vở gì, cũng… dạy được vợ biết yêu, biết chìu, biết nói biệt ngữ ái tình và… xít xoa rên rỉ… dù không muốn cũng không giữ được. Đó là thứ tiếng ái ân thiêng liêng khi âm dương giao hưởng, như hiện tượng biểu trưng của đất trời chuyển động. Tình yêu tạo ra sự thông thái, chân lý và bất diệt.

Niên khoá cuối cùng 1952-1953, năm chót của chương trình Tú Tài toàn phần Pháp, tôi không ghi danh học ở trường, mà tự học. Vợ soạn cho bài vở đúng chương trình. Buổi tối, trước khi đi ngủ, Cô Giáo ghi các bài học cho hôm sau. Ban ngày tôi lo học, lo làm bài. Tối, sau buổi cơm, tôi trả bài nầy, rồi trả bài nọ… Đều đều mỗi đêm mà vẫn sáng suốt. Học chữ tới đâu nhớ tới đó. Còn tốn công tìm tòi hiểu thêm. Sách vở trong phòng đọc sách rất phong phú. Công khó nhọc đó đôi khi làm cho vợ ngạc nhiên.

Cô Giáo thì càng ngày càng rạng rỡ hơn. Da dẽ hồng hào hơn, dáng người hấp dẫn hơn.

Mùa thi Tú Tài II năm 1953, tôi thi đậu Ban A, hạng “Bình”. Như vậy là nhờ Cô Ba chu toàn cho tôi hoàn tất chương trình Trung học Pháp trong năm năm thay vì bảy năm. Tôi đã thành Ông Tú hai mươi tuổi tây, hai mươi hai tuổi ta. Thật sự thành người lớn.

Mùa học trò sắp nghỉ mấy tháng hè năm đó, tôi thấy Cô Ba lo đứng lo ngồi. Sợ tôi về Cà-Mau sẽ không bao giờ trở lên nữa. Nhất là sợ gia đình bắt tôi… cưới vợ. Đêm nào Thái Hân cũng than thở, “Làm sao đây… Út ơi? Làm sao trở lên được nữa… Nếu Ba bắt cưới vợ rồi làm sao đây hở… Út?”.

Cây kim trong bọc lâu ngày cũng nhô ra, Dì Năm rồi cũng biết Cô Ba và tôi đã dan díu nhau. Trong một buổi cơm tối, đầy đủ ba người, Dì Năm nói với tôi:

-Cậu Út, cậu không được bỏ Cô Ba. Cậu thi đậu Tú Tài II rồi. Lần nầy về thăm nhà, tìm cách nói với Ông Một, trở lên. Tốt hơn là nói lên trên nầy để đi học thêm, hay để dễ kiếm việc làm. Cậu về ở dưới Cà-Mau luôn, chắc Cô Ba… chết đó! Hay Cậu nói thật với Ông Một, không cưới hỏi cũng được. Chỉ chịu cho hai người ăn ở đời với nhau là được rồi. Cậu đã thành đàn ông. Cô Ba còn trẻ như con gái đôi mươi. Tuổi tác thì quan hệ gì. Mà Dì nói thật nghen, Cô Ba nên… có chửa đi. Ông Một ham cháu nội thì phải chịu thôi.

Cô Ba ngó Dì Năm trân trân:

-Dì Năm, nói chuyện gì kỳ vậy?

-Thì, nói chuyện đó. Chuyện Cô với Cậu Út. Dì biết lâu rồi. Mà Dì tán thành. Thương nhau thì cứ thương. Có… con đi, thì xong hết mọi đàng. Đừng sợ. Dì nuôi… em bé, như nuôi Cô với Cô Út Hằng hồi nhỏ vậy. Có gì đâu mà sợ.

Tôi nín khe, thầm phục cho sự trung thành và tình thương của Dì đối với Cô Ba. Cô Ba hơi ngượng. Nhưng cũng nói:

-Con cám ơn Dì Năm. Con cũng sợ Cậu Út về rồi không lên nữa. Sài-Gòn đâu có trường đại học nào. Không thể viện cớ xin lên đây để đi học thêm. Lại còn không biết Bác Một có lo cho Út qua Pháp học không nữa? Biết đâu! Thôi, còn cái vụ… có chửa, sanh con, thì Chúa cho sao hay vậy. Ai mà biết được.

Tôi nói:

-Dì Năm an tâm. Ba con không cho, thì con cũng lên. Không qua Pháp qua Mỹ, không học hành gì nữa hết. Đủ rồi. Con không còn là con nít nữa. Đã lớn khôn rồi. Không tự mình quyết định được sao?

-Ờ, Cậu nói vậy, Dì an tâm.

Tôi thấy Cô Ba mỉm cười. Tôi đã thật sự thành nhân. Tình yêu có đui mù như Jean de La Fontaine nói hay không? Tôi luôn luôn nhớ đôi mắt  đẫm lệ của Hân trong đêm đầu của cuộc tình. Tôi nhớ đã đọc ở đâu đó dòng chữ nầy “je me rapelle ces larmes qui montraient à quel point on s’aimait, mais je me rapelle surtout à quel point je fais l’amour avec toi et que je t’aimerai toujours.” Anh nhớ nhất những dòng lệ đó đã tuôn rơi ở điểm cao nào đó khi người ta yêu nhau, nhưng anh nhớ nhất là lúc cao điểm khi anh làm tình với em và anh sẽ yêu em mãi mãi.

**

Đầu tháng Bảy, tôi về Cà-Mau một tuần. Bịnh tình Mẹ tôi đỡ hơn. Những cơn mê, hay ảo tưởng của Bà không kéo dài cả buổi hay cả ngày như trước theo lời Chị Hai nói. Chính tôi thấy Mẹ rất sáng suốt trong tuần lễ đó. Lúc đó Ba tôi còn đang giận Anh Năm tôi vì anh đã âm thầm thi đậu vào Trường Võ bị Đà-Lạt, hồi đầu năm. Anh cũng sắp ra trường. Nhưng Ba thấy tôi về sau khi thi đậu, nên cũng quên chuyện Anh Năm. Chị Bảy tôi sắp có chồng là một thầy giáo tốt nghiệp sư phạm cùng dạy chung Trường Tiểu học của thị xã. Chị Hai vẫn đẹp và vẫn tỉnh bơ trước cuộc sống, không buồn, không vui. Chỉ biết Chị luôn luôn kề cận bên Mẹ. Chị là liều thuốc an thần của Mẹ. Vắng Chị một chút là Mẹ hỏi “Chị Hai con đâu rồi?”.

Chị Hai trong mấy ngày liền hỏi tôi đủ thứ. Một hôm Chị hỏi:

-Bây giờ em tính sao? Bội Mỹ coi như chim trời cá nước rồi. Ở Sài-Gòn có cô nào chưa? Hay là để chị chấm một cô khác cho em. Con gái thị xã mình có mấy đứa… mết em lắm. Để chị mời mấy cô đó đến chơi, thử coi em thích cô nào, nghen?

Tôi chỉ cười cười, trả lời:

-Chị khỏi mời mọc ai hết. Không… thích cô nào nữa. Em có bồ rồi.

-Ai vậy? Con nhà ai? Đẹp không? Giỏi không?

Tôi nói:

-Đẹp. Giỏi. Con nhà quan quyền. Có học thức.

-Mà ai vậy? Có ảnh không? Cho chị xem coi mặt mũi ra sao? Coi đẹp bằng Bội Mỹ không? Mỹ có gởi thơ và ảnh về. Bây giờ sang, đẹp, như con gái Hồng Kông. Muốn coi ảnh nó không?

-Thôi, Chị Hai. Cho dĩ vãng qua luôn đi. Em cũng có bồ rồi, xem ảnh Mỹ làm chi nữa. Bồ em đẹp hơn Mỹ gấp bội.

-Vậy mà cứ giấu hoài. Nói cho biết coi.

-Thì mai mốt thế nào cũng biết mà.

-Ủa, em định cưới cô đó sao?

-Dạ, định… cưới.

-Thiệt hông? Để chị lên Sài-Gòn coi mặt rồi trình cho Ba biết nghen.

-Khỏi mà Chị Hai. Chừng nào tới đâu hay tới đó. Bây giờ chỉ nên thưa với Ba cho em trở lên Sài-Gòn kiếm việc làm trước. Có tiền rồi mới… tính chuyện cưới vợ sau. Lo chi sớm vậy. Ba còn định cho em đi Pháp học nữa kìa.

-Ờ, phải rồi. Nhưng cái vụ xuất dương du học bây giờ khó lắm đó. Cũng không chắc đủ tiền cho em qua Pháp học đâu.

-Em đậu hạng “Bình”, nếu xin còn có thể được học bổng nữa. Nhưng thời buổi nầy đi học xa, em không muốn. Vậy, chị nói với Ba giùm em đi. Lo kiếm việc làm để có tiền giúp thêm cho Ba Má. Coi bộ Ba cũng yếu rồi. Nhà mình đâu có dư giả gì. Em đi học mấy năm tốn tiền nhiều lắm rồi.

-Đâu có tốn gì đâu. Thái Hân không chịu lấy tiền trọ, mà còn đóng tiền học cho em nữa. Mấy tháng đầu gởi tiền lên, Hân nói giữ lại đó, mở trương mục ở ngân hàng cho em. Mấy tháng sau, Hân không lãnh ngân phiếu nữa. Gởi trả về. Phải đình chỉ thôi.

-Sao Chị không nói cho em biết.

-Em biết thì cũng vậy thôi. Để cho em an tâm học. Hân dặn dò như vậy. Nên đâu có nói gì. Ba cũng không biết luôn. Không phải chị lợi dụng sự giàu có của Hân. Mà vì tình nghĩa gắn bó giữa hai gia đình từ lâu. Chị là người bạn duy nhất và chí thân của Hân. Vả lại Hân coi em như em ruột. Thôi thì sau nầy có dịp em trả ơn cho gia đình Hân. Nhớ đừng quên. Còn cái vụ thuyết phục ông già để chị nghĩ lại coi phải nói làm sao đây?

Sau mấy ngày bận rộn bên xưởng cưa, một buổi tối Ba tôi bàn chuyện tương lai của tôi với gia đình. Ông hỏi:

-Chuyện thằng Út bây giờ tính sao đây. Tiếp tục học cao hơn, hay tìm việc làm. Ba muốn cho nó đi Pháp học nữa, nhưng chưa biết được không? Thời buổi khó khăn nầy.

Má tôi thì không có ý kiến gì, chỉ ngồi nhìn tôi. Chị Bảy và anh Lễ, hôn thê của Chị cũng ngồi im, không dám có ý kiến. Chị Hai nói với  ông cụ:

-Con nghĩ, Ba nên cho Út trở lên Sài-Gòn sẽ có cơ hội tốt hơn là ở cái quận lỵ nhỏ bé của mình, ăn không ngồi rồi. Lên trên đó, tạm thời có thể xin việc làm nào ở các hảng xưởng Tây, để học thêm tiếng nói. Nếu mai mốt được du học cũng có thêm kinh nghiệm. Nhất định là không ra Hà-Nội học. Việt Minh đánh tứ tung xung quanh Hà-Nội. Nhưng việc du học bên Pháp cũng không phải dễ xin. Ba cứ tiến hành thử coi. Chỉ sợ bị động viên. Tạm thời, cứ để Út ở nhà Thái Hân. Hân sẽ hướng dẫn. Ba coi, nhờ Hân mà chỉ trong năm năm, một cậu bé Tiểu học như Út, đã đậu Tú Tài Toàn Phần. Hân nó giỏi lắm. Ba yên tâm đi. Út cũng còn trẻ lắm, một hai năm nữa, du học vẫn được. Không chừng một vài năm Sài-Gòn sẽ có Trường Đại học, Út có cơ hội đi học tiếp. Chúa định hết. Ba lo cũng không được…

-Ờ, tạm thời thì tính vậy đi. Nhưng Ba cũng phải lên Sài-Gòn lo việc xuất ngoại du học của Út thử coi sao. Còn đến cám ơn Cô Ba Giáo sư nữa. Hôm nào Ba rảnh sẽ đi. Vậy, Út, con liệu chừng nào muốn lên Sài-Gòn thì cứ đi. Nhớ, đừng có ăn chơi, đàn đúm, rượu chè, cờ bạc. Đừng lân la vào Đại Thế Giới, hay vô mấy cái vũ trường. Lậm vô đó là hết học hành, sẽ hư đốn. Con có lần nào vào các nơi đó hay chưa?

-Thưa Ba. Con đâu biết mấy chỗ đó. Lo học tối ngày, đâu có đi đâu.

-Ờ, cứ theo đường cũ mà đi. Thói cũ mà làm. Cũng nhớ đừng làm bận lòng Cô Ba. Như vậy mới phải đạo. Thôi ở nhà mấy ngày nữa cho Má con đỡ nhớ. Rồi hãy đi. Có cần tiền bạc gì thì hỏi Chị Hai.

Tôi thấy Chị Hai nhìn tôi nheo mắt, báo hiệu thành công trong việc thuyết phục Ba tôi. Ở trong nhà, tiếng nói của Chị Hai là được Ba tôn trọng nhất. Mười điều Chị nói là ông cụ nghe theo hết chín điều rưỡi.

Ông cụ vừa đưa Mẹ tôi vào phòng để mẹ nghỉ ngơi, tôi ôm Chị Hai, hôn đánh chụt vào má. Chị la:

-Á, cái thằng sa-tăng nầy. Làm chị muốn té. Cái thằng thiệt… Vậy mà con gái không mê sao được.

Anh Lễ và Chị Bảy cười. Anh Lễ nói:

-Cậu Út đẹp trai quá. Mà galant nữa. Chắc nhiều đào lắm phải không?

-Không nhiều đâu. Một cô thôi. Mà em galant đâu có bằng anh Lễ. Chị Bảy em xiêu lòng là anh ghê lắm đó nha. Chừng nào đám cưới nhớ cho em biết nghen Anh… Bảy.

-Ờ, anh hứa. Ai ngờ có cậu em vợ ngon lành vậy há.

Trở lên Sài-Gòn, tôi vừa vào cửa Dì Năm mừng rỡ, gọi lớn:

-Cô Ba ơi, Cậu Út lên rồi nè.

Hân ở nhà sau bước ra, cầm chiếc khăn tay chậm nước mắt chảy ròng ròng. Tôi không còn uý kỵ nữa, ôm chặt Hân và hôn lên mắt, lên má. Hân cũng ôm tôi, dúi mặt vào vai tôi khóc. Đúng như cảnh chồng đi xa mới về. Không phải như ngày trước, cậu học trò mới ở tỉnh lên, đứng ngoài sân, chỉ nhìn lén Cô Ba, không dám bước vào cửa. Trường đời biến thiên không hiểu nổi.  Dì Năm cười, xách giỏ trái cây tôi bỏ trên nền gạch, ra nhà sau, còn nói vọng lại:

-Khóc cả tuần rồi đó. Sưng mắt hết rồi. Ráng dỗ đi Cậu Út.

-Dì Năm mua giùm con mì, hoành thánh. Mua cho Cô Ba và Dì ăn luôn. Nhớ cho thêm hai ly cam vắt.

Nói xong cũng vừa lên hết cầu thang, tôi bồng Hân vào phòng của nàng. Đặt Hân nằm lên giường, tôi hôn nàng và nhẹ nhàng cởi… dần từng mảng… rào chắn dù là những mảnh… lụa thơm. Cởi tới đâu… hôn tới đó. Nữ thần tình ái cũng rung chuyển huống chi da thịt mượt mà của giai nhân. Trường tình vừa lâm trận, ngựa còn đi nước kiệu nhịp nhàng đã nghe róc rách tiếng suối reo, nước trong nguồn dào dạt báo hiệu sắp bung bờ. Phải phi nước đại… cho kịp kết thúc chiến trường với người ta. Lại nghe người ta thở dồn dập, hợp xướng với tiếng rên nho nhỏ. Rồi… nước vỡ. Chỉ còn biết siết chặt nhau… trân mình chịu trận nước tuôn. Lần lâm trận nầy tuy ngắn ngủi mà thật mỹ mãn, thật tuyệt vời.

Tôi thường học được cái nước tức cảnh sinh tình, buột miệng ngâm, “Đi xa nhớ… chiến trường xa. Về gần, giáp trận ớ… a… đầm đìa.”

Hân nói:

-Thôi, để… tối, mắc đền cho nhiều. Tại người ta nhớ quá chớ bộ. Sớm có một chút mà cũng hỏng chịu, còn than thở nữa. Có vầy có khác chớ bộ. Người ta… tê tái cả người. Bộ hổng thấy, hỏng biết sao?

-Đâu có than đâu. Thấy, biết… hết mà. Bởi vậy, người ta cũng… tái tê nên mới ra…

-Ra… thơ điệu “con cóc trong hang, con cóc nhảy ra.” Phải hông? Làm thơ trên… bụng vợ mà cũng làm. Mấy… ông đại thi sĩ biết, họ bắt chước, thi ca tiêu tùng luôn. Không biết có ai làm thơ về cái vụ nầy không, hay chỉ có mình Cậu biết làm thôi?

-Có, Thi sĩ Xuân Diệu. Nhưng ông nầy đã theo Hồ Chủ tịch… khiến..g chán, chắc tịt nguồn thơ tình rồi. Thơ… nước rút của thi sĩ có câu như vầy, “mau với chứ, vội vàng lên với chứ, em ơi em tình non… sắp già rồi.” Tuyệt hông?

-Tuyệt! Giống hồi nãy mình… đua nước rút quá hén. Em mới biết… đua lần đầu. Mết thiệt! Đâu kém gì đua đường trường.

-Vậy đó… thơ Xuân Diệu đâu thua gì thơ Hồ Xuân Hương hồi trước, “chàng thừa lúc em đang thế bí, đem chốt đầu dú dí vô cung.” Bây giờ thì có… Dì Năm, không biết làm thơ, nhưng biết xúi vợ tui… mau có chửa. Cũng vui vẻ thôi mà. Chớ hỏng có cái vụ đó làm sao… thế giới trường tồn cho được.

-Nói trây phải hông? Choàng cái khăn lớn nầy nè… đi tắm. Rồi đi ăn.

-Thì… mình đi chung đi.

-Hỏng được. Chỗ đó ở trong phòng đọc sách… thánh hiền. Để… tối nghen cưng.

Tuần lễ sau, tôi đã tìm việc làm theo sở thích, tuy chỉ là bước đầu tập sự thôi. Tôi đi làm… ký giả. Thằng bạn học cũ của tôi là nhà văn Dương Hà, người Bạc-Liêu, chuyên viết tiểu thuyết miệt vườn, cưới một cô vợ giàu làm chủ một nhật báo. Tôi tập tành viết phóng sự cho tờ báo của hai người bạn nầy. Rồi được thêm một nhật báo nữa thu nhận. Rồi xin thêm chân phóng viên thu thập tin tức thời sự Sài-Gòn và vùng phụ cận cho một nhật báo Pháp. Mỗi tháng tiền lương bằng lương công chức hạng B.

Mấy tuần sau, Ba tôi lên Sài-Gòn lo việc du học cho tôi. Ghé thăm và cám ơn Cô Ba. Cho biết không hi vọng nhiều, vì lúc đó Chính phủ của Hoàng thân Bửu Hội đã ra lệnh cứu xét rất kỹ việc cho du sinh học ở nước ngoài. Chiến cuộc đang gia tăng rộng lớn. Đã ban lệnh động viên, mở rộng các trường huấn luyện sĩ quan, hạ sĩ quan. Ba tôi gởi gấm… tôi cho Cô Ba. Tội nghiệp, ông cụ có biết gì đâu về việc Cô Ba và tôi!

Trước Giáng Sinh năm 1953, Bộ Ngoại giao ra thông tri sẽ mở khóa thi Tham vụ Ngoại giao vào đầu năm tới. Tôi hí hửng mang thông tri về. Vợ đọc xong đã rơm rớm nước mắt, nói với tôi:

-Mình ơi. Em mất kinh hai tháng rồi!

Tôi ôm Hân vào lòng, hôn tới tấp. Kéo áo vợ lên hôn vào bụng bà bầu, mà chưa thấy bầu. Xé thông tri bỏ xọt rác. Tôi buông mộng hải hồ.

 

Để tiện việc đi lại, Cô Ba định gởi bán chiếc vélo, giữ chiếc xe đạp lại và định mua một Vespa Italy mới. Tôi ngần ngại không muốn. Hân biết ý tôi, nên giải thích:

-Tiền mua xe là của Cậu đó. Tiền thưởng hai giải tennis hai ngàn đồng. Tiền Chị Hai gởi lên, bỏ trong ngân hàng, ba ngàn. Tiền lương của Cậu mấy tháng qua hơn hơn sáu ngàn. Tính ra trên hai mươi lượng vàng. Mua một chiếc vespa đâu có bao nhiêu. Đi mua nghen cưng. Để có xe mà đi… ba người chớ.

-Thì mua thêm chiếc xe vespa, nhưng giữ chiếc vélo lại.

Cô Ba nói:

-Bộ muốn bắt người ta đi vélo một mình nữa sao?

Tôi giật mình. Thật là kém thông minh. Phải nói rõ lại với Cô:

-Không phải vậy. Chỉ muốn giữ làm kỷ niệm. Xe đạp và xe vélo có đôi. Bây giờ tách ra sao được. Còn, ai nỡ lòng nào để cho bà bầu đi một mình. Làm chồng, làm tài xế kiêm vệ sĩ luôn, chịu hông?

Cô Ba cười. Ôm tôi hôn.

-Vậy, mới là cục cưng của người ta chớ. Mai mốt, đẻ cho thằng cu con giống… hệt nghen.

Từ đó, đi đâu tôi lái vespa chở vợ đi. Cô giáo đi dạy mỗi ngày đã có chồng đưa rước. Chiếc vespa thật là hữu dụng cho Hân và tôi.

Lật bật đã gần Tết Nguyên đán năm 1954. Cô Ba mang bầu đã hơn ba tháng. Hết còn eo, cái bầu đã tròn tròn nhô lên áo, ngực và mông phát triển. Hấp dẫn cách khác. Đêm nào rọ rạy, vợ cũng bảo, “nhẹ nhẹ, ít ít thôi nghen… mình, coi chừng… Con so đó nghen mình”.

Thật ra, tôi cũng biết hạn chế cho Hân nghỉ ngơi, ăn ngủ đều đặn. Sanh con cho mạnh. Chưa bao tôi giờ cảm thấy hạnh phúc hơn thời gian đó. Cô Ba cũng vậy. Mỗi buổi tôi đi làm về, thường thấy Cô và Dì Năm ở ngoài vườn. Tôi biết là Cô chờ tôi nhưng nói là hoạt động cho cái thai mạnh và dễ sanh. Còn Dì Năm luôn luôn kèm bên cạnh Cô là do tôi yêu cầu. Tôi cũng biết Cô Ba sợ sự cô đơn đã từng ám ảnh Cô trong cái biệt thự lẻ loi nầy từ bao nhiêu năm về trước, khi cha mẹ mất, anh mất, còn lại người em gái có chồng, cũng bỏ Cô lại với quạnh hiu. Sự hoang vắng tình thương và cô đơn làm Cô luôn luôn sợ cuộc sống đến độ thui chột, mất hết niềm vui của tuổi trẻ.

Tôi đã đến đúng vào lúc sự cô đơn đó lên đến tột điểm. Chúng tôi yêu nhau và biết rằng sẽ không bao giờ rời xa nhau được nữa. Chúng tôi hạnh phúc.

Nhưng… chiến tranh kéo đến như bão tố, cướp mất tình yêu, hạnh phúc và tất cả. Nó gây tang thương, đau khổ, không chừa một ai.

——–ooOoo——-

CHƯƠNG II:

CHIẾN TRANH CỦA NHỮNG NGƯỜI ĐẸP.

Một buổi sáng vào tòa soạn của vợ chồng Dương Hà, Tôi nhận được một bức thư lạ ghi rõ tên tôi. Gởi từ Hồng Kông. Bên trong là một danh thiếp loại lớn bằng carte postale. Trên góc trái in mấy hàng chữ: Giã Kiến Long, Editor-in-Chief Hong Kong Stars Magazine and Cho-Lon Daily News, bằng Anh ngữ. Giữa thiệp viết bằng Quốc ngữ “Kính mời Ông vui lòng đến Khách Sạn Majestic ngày 29 Âm lịch, lúc 7 giờ tối. Ăn Tối và Bàn Việc xuất bản một Nhật Báo Việt ngữ ở Sài-Gòn”. Phía góc dưới ghi “Xin trả lời trước ngày…” Không có ký tên, chỉ ghi ngày tháng gởi thư.

Tôi mang thiệp mời về cho Cô Ba xem. Cô không lộ vẻ mừng và chỉ nói có lẽ họ muốn mời tôi cộng tác trong tờ báo Việt ngữ nào đó sắp xuất bản ở Sài-Gòn. Cứ đi thử, nói chuyện với họ. Nhắm được thì làm, không thì thôi. Tôi viết thơ hồi âm cho Ông Giã Kiến Long là sẽ đến.

Đúng ngày, tôi vận bộ veston màu xanh nước biển đậm, áo sơ-mi trắng, cà-vạt xanh ba sọc xéo trắng nhỏ, giày đen bóng. Vừa mới đứng dậy, đã nghe vợ khen:

-Chúa ơi. Chồng tôi đẹp trai, coi sang trọng quá. Cho em hôn một chút rồi đi. Ăn cơm, bàn việc, rồi về nha. Họ có mời đi đâu, đừng có đi nghen. Anh Hai nói, mấy người Tàu hay mời đi nhảy nhót, uống rượu, thuốc phiện, rồi còn… đưa gái từ Hồng Kông qua nữa. Nói chuyện rồi về. Đừng có bị cám dỗ rồi đi theo họ nghen. Đi về là tui biết đó.

Tôi đi taxi đến Khách Sạn Majestic trên bến sông Sài-Gòn. Sau khi đưa thiệp mời của ông Giã Kiến Long cho người tiếp khách của khách sạn. Người nầy cho bồi phòng hướng dẫn đưa tôi lên phòng của ông Long. Gõ cửa, nghe tiếng một người đàn bà trả lởi:

-Xin mời vào, cửa không khóa.

Mở cửa bước vào, tôi nhìn thấy một phụ nữ, dáng người đẹp, trẻ, sang trọng, mặc bộ áo Thượng Hải dài màu trắng thêu hoa kim tuyến, giày trắng bít mũi, đứng giữa phòng, kế bên một chiếc bàn vuông, trải tấm nắp bàn trắng. Trên bàn đặt một bình hoa hồng thắm đỏ. Hai, chiếc ghế đối diện nhau. Tôi nghe người phụ nữ, đúng hơn là một cô gái, nói:

-Anh Út. Anh chưa hận ra em sao? Nhìn kỹ đi!

Tôi nghe tiếng nói quen quen. Nhìn kỹ hơn. Và nhận ra cô gái là Bội Mỹ. Tôi khá bất ngờ. Nhưng giữ được bình tĩnh, nói:

-Tôi đã nhận ra cô rồi. Bội Mỹ có khoẻ không? Lâu quá…

-Hết… ngộ, nị rồi phải không? Xa lạ rồi. Mới chỉ hơn ba năm thôi mà. Chắc là anh không nhớ rõ đâu. Mời anh ngồi.

Tôi định ngồi xuống ghế, nhưng thấy Bội Mỹ vẫn đứng im. Vì lịch sự, tôi bước đến sau lưng Mỹ, kéo ghế mời. Mỹ chần chừ một lúc… rồi ngồi xuống ghế. Có lẽ Bội Mỹ chờ một vòng tay ôm hay ít nhất cũng một lần tay nắm tay sau nhiều năm xa cách. Tôi không làm gì hơn, trở lại ngồi xuống ghế đối diện, nhìn Mỹ. Mỹ đã thật sự là một cô gái đẹp. Tóc bới cao thời trang, gương mặt trắng, đẹp rạng rỡ, mắt trong sáng, mi mắt cong lên, mũi thẳng, môi chỉ thoa son hồng tươi phớt nhẹ, miệng cười với hàm răng trắng đều đặn. Dáng điệu đã thay đổi, lịch sự, đài các như một tiểu thơ.

-Anh Út. Sao nhìn em trân trối vậy. Bộ em lạ lắm sao?

-Cô khác trước nhiều lắm. Đẹp và sang hơn trước rất nhiều. Giống như một người đẹp Hồng Kông. Không còn là một cô gái nhu mì hiền hậu, mái tóc chỉ oăn ở ngọn, kẹp, hay buông xoã xuống vai, của thị trấn nhỏ bé ngày xưa. Đi ra đường chắc không nhận ra.

-Bộ trông em dữ lắm sao, thay đổi nhiều lắm sao? Ngay ở đây, anh còn chưa muốn nhận ra em, chớ đừng nói ở đâu.

-Tôi xin lỗi. Nhưng cô…

-Khoan, để em gọi thức uống trước. Rượu ngọt khai vị hay champagne nghen. Anh còn thích tôm, cua, sò, cá nướng trui, như ngày trước ở quê nhà không? Hay nay đã thích beefsteak bơ, con đuông sữa, ốc nhồi nấm, hay gà nướng mật ong, cavia. Súp bào ngư, vi cá, hay yến. Thích rượu vang, hay rượu mạnh? Thôi, mình uống champagne mừng ngày gặp lại hôm nay nghen.

-Chúa ơi. Cô thay đổi đến như vậy sao Mỹ? Tôi chỉ uống nước đá lạnh, nước chanh hoặc nước cam thôi. Tôi chưa từng nếm qua những thứ rượu đó. Cô nghĩ là tôi thay đổi nhiều lắm phải không?

Bội Mỹ bấm chuông gọi bồi phòng, bảo đem hai ly nước cam và một chai champagne, súp yến, ốc nhồi thịt nấm, beefsteak, khoai tây và salade.

-Anh nói là anh không thay đổỉ. Chỉ một mình em thay đổi thôi, phải không? Em không nghĩ như anh. Ai thay đổi thì anh biết rõ hơn em. Cô Giáo sư có thai rồi phải không?

-Sao Cô biết?

-Sao không biết. Em… Tôi… nhìn tận mắt mà. Anh dắt tay bà bầu đi dạo phố mà. Chỉ mới chiều hôm qua thôi.

-Sao bây giờ cô nói chuyện nầy. Cô đã… lập gia đình rồi mà.

Mỹ mở champagne, thành thạo, chỉ một chút bọt trào ra miệng chai. Rót vào hai ly. Mời tôi:

-Uống đi anh. Mừng ngày hội ngộ hôm nay đi. Biết đâu sẽ không bao giờ gặp lại nhau lần nữa.

Tôi chạm ly với Mỹ. Và đó là lần thứ hai tôi biết uống loại rượu của giới sang trọng. Tôi không hề quên ly rượu đầu tiên vào… đời với  Thái Hân. Bây giờ lại uống với Bội Mỹ. Tôi mong đây không phải là ly rượu  bội phản. Tôi nghe Mỹ nói tiếp:

-Anh vừa nói là tôi đã lập gia đình rồi phải không? Chưa. Tôi chưa lập hôn thú, chưa thành thân với ông Long. Tôi còn con gái. Một nụ hôn cũng chưa có. Tôi còn tự do. Tôi còn tự quyết định được cuộc đời tôi cho đến hôm nay. Ông Long đối với tôi không có nghĩa gì cả. Tôi không yêu ông ta. Tôi yêu… anh và anh đã phụ bạc tôi.

-Như vậy, cô mượn thiệp ông Long viết mời tôi đến đây không phải nói chuyện báo chí mà chỉ để nói cho hả lòng, phải không?

-Đúng, mà không đúng. Tôi nói Ông Long viết thiệp mời anh. Thật sự có ý mời anh cộng tác với… tôi ra một một nhật báo ở Sài-Gòn mà tôi sẽ là chủ nhiệm. Tôi muốn về Sài-Gòn làm báo là… vì anh. Anh đã đến. Vậy, anh có thì giờ nghe tôi nói hay không? Tôi còn nói nhiều chuyện khác nữa. Nếu anh sợ Cô Ba… ghen thì… cứ tự nhiên. Còn không, xin anh cho tôi chừng một đến hai tiếng, cho tôi nói hết, được không?

-Thôi thì Cô hãy nói cho hết đi. Sự thật, tôi cũng muốn gặp cô từ lâu để nói một lần cho hết chuyện lòng của tôi.

-Xin anh đừng nói chuyện… lòng của anh nữa. Tôi ở Đài Bắc, nhưng cũng biết khá ít nhiều chuyện của anh, dù gia đình anh không biết gì hết về Anh và Cô Ba. Em trai tôi, thằng Toàn, đang học ở Sài-Gòn, Tết này nó đã mười bảy. Ở trọ học nhà một người bà con, gần nhà Cô Ba. Nó gần như thấy anh chở Cô Ba đi, về, trên con đường đó hằng ngày. Nó còn đề cập cả đến vòng tay Cô Ba ôm anh sát sao như thế nào nữa, khi ngồi trên vespa. Nó biết anh rất rõ. Chỉ có anh là người vô tình với tôi và gia đình tôi. Năm bảy năm về trước anh biết nó. Bây giờ anh quên nó cũng như đã quên tôi. Tôi biết. Nhưng tôi không ngừng yêu anh. Anh có biết tôi yêu anh khi mình học chung lớp ở Cà-Mau hay không? Anh nói đi.

-Có, tôi cảm thấy.

-Anh chỉ cảm thấy thôi sao? Sao anh không nói là anh biết.

-Phải, tôi không nói là tôi biết. Bởi vì lúc đó tôi… nể cô giỏi quá. Học nhất lớp. Tôi có mặc cảm thua kém. Không dám thương cô.

-Vậy là anh biết tôi yêu anh. Trời ơi, nếu hồi đó tôi biết anh nghĩ như vậy, tôi đã giả ngu giả dại để chiếm tình yêu của anh rồi. Tôi yêu anh bằng mối tình đầu chơn chất của một cô học trò mười bốn, mười lăm. Đã sáu bảy năm qua rồi, tôi đã trưởng thành. Tôi vẫn yêu anh. Tôi yêu anh vì cái tài hoa ẩn chìm của anh, vì sự im lặng ít nói của anh và cũng vì vẻ đẹp trai thích hợp với người trong mộng của tôi. Cuối cùng tôi không hiểu tại sao tôi yêu anh…

Mỹ uống một hớp nước cam, rồi nói tiếp:

-Cho đến một ngày tôi gặp Cô Ba. Tôi biết tôi là người thua cuộc. Tôi thất vọng, thất tình… Nên tôi quyết định chịu làm lễ hỏi với ông Long và bỏ xứ mà đi… Vì tôi biết, trước vẻ đẹp chim sa cá lặn như vậy, làm sao tôi không mất anh! Bây giờ anh muốn biết tôi đang nghĩ gì về anh hay không?

-Cô nghĩ gì thì việc cũng đã dĩ lỡ rồi. Tôi yêu Cô Ba. Và chúng tôi sắp có con. Cô biết rồi đó.

-Vậy anh nghĩ là mọi sự đã chấm dứt giữa anh và tôi rồi chớ gì? Tôi thì tôi nghĩ trái lại. Tôi sẽ nói rõ cho anh nghe. Rồi xin anh chọn giùm tôi một giải pháp thích hợp nhất giúp tôi an định tâm hồn. Dứt khoát một lần nầy mà thôi.

-Cô nói đi, điều gì có thể làm được tôi sẽ làm cho Cô.

-Trước tiên, tôi muốn nói với anh rằng, có lúc tôi căm hận anh ngút ngàn.  Lúc đó, nếu anh là thứ ung nhọt trong đầu tôi, hay ngay cả trong tim tôi, tôi cũng muốn giải phẫu, cắt, vứt bỏ, quăng ném cái ung nhọt đó, dầu có nguy hiểm đến tính mạng. Nhưng ác nghiệt thay, anh không phải là thứ hữu thể độc hại đó, mà như là một bào ảnh, lúc ẩn, lúc hiện trong trí não tôi, trong tim phổi tôi. Làm sao mà tôi có thể cắt bỏ cho được. Anh như là chiếc bóng vô hình nhưng hiện hữu trong tim óc tôi rõ từng nét mặt điển trai, thiệt thà, đôi mắt nhìn hiền hậu, cái miệng không nói mà chỉ cười. Tôi đã khóc, vì không dứt bỏ được bóng hình anh.

Thời gian đó là lúc anh bệnh, Cô Ba đưa anh từ Sài-Gòn về. Tôi nhớ anh quá, lại lo không biết anh bệnh ra sao? Mấy ngày liền, tôi hết nhờ Chị Hai đến Chị Bảy, giúp cho gặp anh. Anh nhất quyết không chịu gặp mặt tôi. Tôi định vào phòng thăm anh. Anh nói với Chị Hai… cấm tuyệt không cho tôi vào. Tại sao anh xử tệ với tôi như vậy?

-Lúc đó tôi đang bệnh và không còn nghị lực để gặp Cô.

-Có đúng không? Không đúng, tôi cho rằng anh sợ gặp tôi trước mặt Cô Ba. Sau đêm tôi nói chuyện với Cô Ba, tôi biết rằng anh yêu Cô và Cô cũng đã yêu anh. Anh thường nói tôi là một cô gái thông minh. Đúng phần nào. Vả lại năm đó tôi đã mười tám tuổi. Đâu còn nhỏ nữa. Tôi biết hai người yêu nhau mà không nói được. Anh thất tình sinh bệnh. Chớ có gì đâu. Tôi hiểu không sai đâu, vì tôi cũng thất tình như anh. Tôi yêu anh. Anh yêu người ta. Tôi ghen tị và khổ sở lắm. Nhiều lần tôi đã nói tâm sự tôi cho Chị Hai nghe. Anh có biết không? Kìa sao anh không ăn, cứ nhìn tôi đăm đăm vậy? Đồ ăn nguội hết.

-Có thật cô muốn đãi tôi ăn không? Hay cô muốn hành hạ tôi.

-Thật tình tôi muốn làm lành với anh, muốn anh ăn ngon. Nhưng thấy anh mặc đẹp như vầy, càng điển trai hơn gấp bội ngày xưa, và thực sự thành đàn ông, nên tôi càng… ghen. Tôi nói cho vơi bớt nỗi đau trong lòng. Đắng cay quá, không thể ngậm mãi bồ-hòn mà chịu được nữa.

Mỹ khóc. Chiếc khăn tay chặm mắt, lệ vẫn chưa vơi.

-Thôi Mỹ… đừng khóc. Tôi nghe cũng đủ rồi. Tôi đã hiểu rồi. Bây giờ cô nói mấy cái… giải pháp gì đó đi.

-Anh húp hết chén súp yến cho ấm lòng rồi nghe tôi nói tiếp.

 

-Từ ngày đi Đài Loan cho đến nay, tôi ở với gia đình cô tôi, là vợ của một ông Tham vụ Lãnh sự quán Việt Nam tại Đài Bắc được sự tin cậy của ông Tổng Lãnh sự. Chính bà cô này đã làm mai mối cho ông Giã Kiến Long về Cà-Mau, đi… hỏi tôi. Tôi nhân dịp đó nhất định đi xa để… quên anh. Qua bên đó, tôi mới biết ông Long là một thương gia cơ hội. Ông ta bắt tay với nhân viên Tòa Lãnh sự quán Việt Nam chỉ với mục đích đó. Cha là người Đài Loan nhưng mẹ là người Việt, ông Long lịch lãm và phóng túng trong tình trường và đã trên ba mươi tuổi. Làm chủ báo là hình thức che đậy hoạt động thương mại của ông ấy. Các tờ báo đó cũng là phương tiện giúp ông ta thành công. Tóm lại ông ta là tay đầu cơ lém lỉnh. Tôi biết, nên không bao giờ đi chơi riêng rẽ với ông Long. Tôi định từ hôn.

Trong khi đó, thì có một ông Tham vụ ngoại giao trẻ, độc thân, người miền Trung, thường đến nhà cô tôi chơi, gặp tôi và… mê tôi. Đã từng tỏ tình với tôi. Tôi cũng làm ngơ. Vì tôi vẫn hi vọng có một ngày trở về với anh.

Một người muốn lợi dụng tôi. Một người nói là yêu tôi. Một người tôi yêu. Tôi như kẻ đứng trước ngả ba đường đời. Cảm thấy bị lạc lõng ở xứ người. Tôi suy nghĩ rất nhiều. Sau cùng, tôi chọn con đường quay về với anh. Nhưng tôi bị trở lực lớn lao quá, không thể vượt qua nổi. Anh nghe rõ tình cảnh và tâm trạng của tôi chưa?

Tôi thở mạnh, nghe xốn xang trong lòng.

-Anh thở dài. Và im lặng. Không trả lời tôi. Như vậy là anh còn nghĩ đến tôi. Anh nói thật đi. Ngày xưa, anh có từng thầm kín yêu tôi hay không? Mấy năm học ở Sài-Gòn nầy, có lúc nào anh nghĩ và nhớ đến tôi không? Hay chỉ biết có Cô Ba mà thôi.

-Tôi … … …

-Anh không nói được. Nghĩa là anh có yêu tôi. Có nghĩ, có nhớ tôi… Phải không?

-Tôi … … …

-Anh lại không nói. Anh vẫn là anh Út ngày xưa của tôi. Im lặng. Không nói. Thôi để tôi nói. Tôi yêu anh. Tôi coi anh là người tình đầu và duy nhất của tôi. Anh nghe rõ đây. Tôi đã nghĩ kỹ rồi. Đời người chỉ có một lần. Tôi muốn trao tặng tiết trinh… cho anh. Ngay hôm nay, hay bất cứ lúc nào tôi còn ở Việt Nam. Ngày mai, Ba Mươi Tết, tôi về Cà-Mau thăm gia đình. Mồng Sáu tôi trở lên. Tôi sẽ ở lại khách sạn nầy một tuần nữa, đợi anh, trước khi đi Đài Loan, sẽ không trở về nữa, dù tôi có lập gia đình với ông Long hay ông Tuấn, Tham vụ Ngoại giao.

-Tôi biết cô yêu tôi. Ừ, thì cho rằng lúc còn đi học tôi thân với cô, tôi có thầm yêu cô. Khi lên Sài-gòn tôi có nhớ cô và cũng biết cô đau khổ. Tôi đâu phải là người vô tình, hay không có tình cảm. Nhưng tôi… không thể làm… như vậy với cô đâu. Tôi đã ăn ở với Cô Ba. Tiết trinh là phẩm giá của một người vợ, phải đề dành cho chồng cô sau nầy.

-Phải, tôi biết. Nhưng tôi cũng từng hỏi tôi. Tôi sẽ chọn ai làm chồng tôi đây? Và tôi đã nói với anh. Anh biết người đó là ai rồì. Tôi cần phải lặp lại nữa sao? Còn Cô Ba, ai chứng nhận đã là vợ của anh? Thôi, anh suy nghĩ lại. Bây giờ… anh về đi. Kẻo người ta đợi.

-Định đuổi tôi phải không? Thôi, thì tôi về.

-Khoan, anh đợi một chút. Anh đứng lên đi và đứng yên cho tôi… ôm anh, hôn anh một lần. Tôi xin anh. Tôi sẽ không đòi hỏi anh ôm hay hôn tôi đâu. Tôi không hề ân hận vì đã yêu anh. Mai mốt xa anh, tôi vẫn nhớ là tôi đã ôm hôn… được anh. Không phải là nằm mơ thấy mình ôm hôn hình bóng của người yêu trong mộng.

Tôi xiêu lòng, không thể từ chối. Đứng lên. Mỹ như ngạc nhiên, dường như rụt rè. Bỗng… Mỹ đứng dậy, bước tới ôm tôi thật chặt, hôn lên má, lên môi rồi tựa vào vai tôi khóc. Tôi nghe được hơi thở thơm dịu và dồn dập từ… bộ ngực êm ái, nhấp nhô của Mỹ. Rụng rời, nhưng tôi… để yên. Không dám ôm Mỹ và cũng không hôn, dù là cái hôn trả, phớt trên môi. Mùi hương trinh nữ phảng phất, thấm vào tận tâm não tôi. Mùi thơm của Mỹ hay của Hân? Tôi tự hỏi, có phải tôi đã phản bội Bội Mỹ không? Hay đã phản bội Thái Hân, khi đứng trơ như một pho tượng để cho Mỹ hôn và khóc, nước mắt thấm ước vai tôi? Có phải tôi là một tên hư đốn… trong lớp con người sớm đầu, tối đánh, như Ba tôi nói hay không? Dù sao tôi vẫn là một con người, một thanh niên. Tôi bàng hoàng trước sắc đẹp và tấm chân tình của Mỹ.

Đàn ông có vợ, khác hơn đàn bà, không giữ được thuỷ chung. Họ dễ xiêu lòng và dễ bị cám dỗ hơn là các bà vợ. Nếu các bà đã có chồng mà còn lăng nhăng thì người đời cho là lẳng lơ, lăng loàn. Họ lại quá rộng lượng với các ông chồng ham đó bỏ đăng, năm thê bảy thiếp. Bước về thương vợ con, nhưng bước ra là mèo mỡ. Những người này sống trong một xã hội đốn mạt, cần đào thải.

Tiếc thay tôi là một người con trai, một người đàn ông, sống trong cái xã hội đó. Biết tôi có giữ được thuỷ chung với Cô Ba hay không? Ngay lúc Mỹ tựa vào vai tôi khóc, tôi đã cảm thấy xiêu lòng. Cảm thương cho nàng đã sớm khổ vì tình yêu. Đã khổ vì yêu tôi…

Tôi biết, nếu còn đứng mãi như vậy, bội Mỹ sẽ còn ôm tôi mãi, không nỡ buông ra. Còn tôi, tôi sẽ… đuối sức. Chịu đựng… không nổi nữa. Không còn cách nào khác, tôi bồng Bội Mỹ đặt lên giường… Thấy Mỹ nhắm mắt lại, như phó mặc. Có lẽ Mỹ nghĩ là tôi sẽ thoả mãn yêu cầu của Mỹ. Tuy nhiên, tôi chỉ đặt nàng nằm xuống để cho nàng… một mình, hôn nhẹ lên trán rồi bước ra, đóng cửa phòng lại. Không biết Mỹ có khóc tiếp hay không?

Cái hôn phớt nầy tôi phải trả giá… đắt sau đó.

**

Tôi thẫn thờ bước vào cửa hàng rào sắt trước sân, Dì Năm hối hả chạy ra, nói nhỏ:

-Chết rồi Cậu Út ơi. Cô Út Hằng và con trai ở Nha Trang đi xe lửa về hồi tối. Thằng nhỏ ngủ rồi. Còn Cô Út đang tố khổ Cô Ba trên sân thượng.

-Tố khổ việc gì? Còn anh Thành có về không?

-Không. Tố khổ việc… cái bầu đó. Cậu phải dàn xếp sao cho yên. Coi bộ khó quá!

Tôi đi thẳng lên phòng, thay đồ, đi tắm. Xong tôi trở lại phòng, đóng cửa, lên giường nằm. Đêm đã sắp vào khuya. Vắng lặng, trừ tiếng gõ mõ của gánh mì bán dạo trong đêm. Tôi không biết hai người đàn bà đẹp, chị em ruột nầy, nói với nhau những gì. Một lúc sau nghe ngoài hành lang có tiếng động. Tôi nghĩ là Cô Út Hằng đi xuống lầu. Chừng năm phút sau, nghe tiếng gõ cửa thật nhẹ. Tôi bước ra. Cô Ba nắm tay tôi ra sân thượng. Cô không nói gì, kéo tay tôi đặt lên cái… bầu, rồi gục đầu vào vai tôi, khóc. Cũng may, vì đang tủi thân, nên cô không hỏi han gì về chuyện tôi đi… ăn cơm khách buổi tối. Tôi cũng không biết mùi hương thơm của Bội Mỹ còn vương vấn trên mặt mũi tôi hay không.

Tôi xoa bụng Hân, hôn và má nàng, hỏi:

-Cô Út sanh… giặc rồi phải không?

Chỉ thấy Hân gật đầu, không trả lời.

-Thôi, đừng khóc. Để ngày mai, tôi nói chuyện với Cô Hằng. Thương nhau, thì phải có con chớ. Tôi có trốn chạy đi đâu, mà nặng nhẹ với Hân.

Chúng tôi ngồi im một lúc lâu. Hân nói:

-Em mệt rồi. Để đi ngủ. Đêm nay… mình về phòng, không ngủ ở bên nầy, nghe. Đừng buồn.

-Mình cũng đừng buồn. Đi ngủ đi, khuya rồi. Đừng khóc nữa, động thai, không tốt.

Tôi đưa Hân vào phòng ngủ. Ôm hôn môi. Đợi Hân lên giường nằm, tôi bước ra, đóng cửa phòng lại. Đêm ấy, tôi lại trằn trọc, khó ngủ. Đủ thứ chuyện trong đầu.

Tuần lễ trước, tôi đã nói với Cô Ba nếu Cô Út Hằng không về Sài-Gòn thì tôi sẽ ở lại ăn Tết. Nếu Út Hằng về thì ngày Ba Mươi tôi sẽ về Cà-Mau. Cô Ba tưởng tôi sẽ về quê như đã nói trước, nên gõ cửa phòng tôi sớm. Tôi đã thức lâu rồi, ngồi ở bàn viết, đọc sách. Mỗi sáng tôi thường uống một ly nước mát lớn và đọc sách, như một thói quen. Tôi mở cửa, nghe Cô Ba nói thật nhỏ:

-Út về Cà-Mau không?

-Không, tôi chờ nói chuyện với Cô Hằng.

-Thôi hay mình về đi, để khỏi gặp mặt. Sợ sanh sự lớn. Nó đang giận lắm. Mồng Bốn, mẹ con nó về Nha Trang. Hôm đó mình trở lên.

-Không được, tôi đi hôm nay, Cô Hằng tưởng tôi sợ, trốn. Nếu có đi cũng vài ngày nữa, sau khi nói chuyện với Cô ấy.

-Thôi, muốn vậy cũng được. Để xuống coi Hằng thức chưa.

Gần nửa giờ sau, tôi còn đang tiếp tục đọc sách trong phòng thì Dì Năm gõ cửa nói Cô Ba mời xuống ăn sáng. Tôi xuống bàn ăn ở nhà sau tầng trệt, thấy Cô Ba, Cô Út Hằng và bé Danh đã ngồi vào bàn. Bé Danh đang ăn. Hân và Hằng đang chờ tôi. Cô Ba ngồi ngó lên thang lầu khi tôi đang bước xuống. Cô Út Hằng ngồi đối diện, xoay lưng về hướng của tôi, nên không nhìn thấy mặt. Tôi bước xuống, đi đến bàn ăn, chỗ Bé Danh đang ngồi, kế cô Út. Bé Danh thấy tôi, mừng rỡ đặt ly sữa xuống bàn, đứng lên khoanh tay thưa:

-Thưa Cậu Út.

-Danh giỏi lắm. Đâu cho cậu hun một chút coi. Danh đẹp trai giống ba quá. Tôi vừa nói vừa ôm hôn Bé

Tôi bỗng nghe Cô Út nói chen vào:

-Danh, gọi lại, Thưa D…ượng Ba, không gọi là cậu nữa, nghe chưa?

Thằng bé hơn sáu tuổi, hỏi lại:

-Sao vậy má? Cậu Út mà.

-Không hỏi. Bảo gọi vậy là gọi vậy. Hôm nào má nói cho biết.

Tôi chen vào:

-Phải đó Danh, gọi là Dượng Ba nghen. Không gọi cậu nữa.

-Sao vậy… Dượng Ba?

-Tại Dượng là… chồng Dì Ba của Danh

-A, con biết rồi. Giống như ba với má con vậy, phải hông Dượng Ba?

-Phải.

Út Hằng nói với Danh:

-Con uống hết ly sữa đi rồi đi ra vườn chơi với Bà Năm. Bà hái ổi chín cho con ăn nha.

Xoay qua Dì Năm, Hằng nói:

-Con nhờ Dì coi chừng Bé Danh một chút.

Tôi hôn Bé Danh lần nữa. Chờ Dì Năm dắt bé đi rồi, tôi bước qua bên kia bàn ngồi xuống chiếc ghế cạnh Cô Ba. Nhìn Cô Út Hằng, cười…

-Cậu cười gì. Không biết mắc cỡ. Mấy người coi lại mình đi. Coi có giống ai không?

Cô Ba đứng dậy, pha cà-phê sữa, lấy chén múc bò kho và đem một dĩa có bánh mì, mang đặt trên bàn trước mặt tôi. Cô Út… sôi lên:

-Cưng quá mà. Người ta không lừng sao được!

Cô Ba nín thinh. Chảy nước mắt. Tôi đứng dậy, rút khăn tay trong túi, chặm nước mắt cho Cô. Quay lại nhìn Hằng, tôi nói:

-Chị, à…  Dì Út…

Hằng cướp lời:

-A. Bây giờ định làm lớn rồi há. Cậu biết chìu chuộng quá há. Trông cậu đẹp trai ra, thành người lớn rồi. Bởi vậy…

-Dì Út. Đừng gọi tôi bằng Cậu nữa. Gọi là Anh Ba.

-Ai cho phép cậu nói như vậy?

-Chúa, Đấng Chúa Trời Ba Ngôi cho… Ba, Má, Anh Hai cho.

-Nói gì. Tôi không hiểu?

-Vậy,  tôi xin phép Cô Ba, nói cho Dì hiểu.

Tôi dìu Hân ngồi xuống ghế, tôi cũng ngồi xuống, nói tiếp với Hằng:

-Tôi được biết, khi Dì có người yêu, rồi làm đám cưới trong nhà Thờ, có các Cha làm lễ, có họ hàng quyến thuộc, có bạn bè. Có đãi đằng, tiệc lớn tiệc nhỏ. Rượu Ý, bánh Tây, khách ăn uống mềm môi. Pháo hồng, đèn hoa. Áo cưới, phòng loan. Ai lo cho Dì được rỡ ràng như vậy? Sau lễ cưới, Dì đi theo chồng. Sống hạnh phúc. Dì bỏ lại chị mình hiu quạnh trong biệt thự rộng lớn nầy. Ai biết cho tâm sự của người cô đơn? Mất cha mẹ, mất anh và mất luôn cả em. Cô Ba có phải là gỗ đá không?  Dì nghĩ lại đi.

Tôi dừng lại. Không thấy Cô Hằng trả lời. Nói tiếp:

-Sao ngày nay, Dì không nghĩ đến Chị Ba của Dì. Cô Ba và tôi yêu nhau, cũng làm đám cưới trong Nhà Thờ, trước Đấng Chúa Trời, Đấng Chúa Jésus, Đấng Thánh Linh. Chúng tôi đã thề nguyền kết thành vợ thành chồng. Chỉ có Chúa chứng giám và chấp nhận. Âm thầm lặng lẽ. Không áo cưới, nhẫn xoàn. Không bạn bè, thân hữu. Không tiệc lớn, tiệc nhỏ. Không đèn hồng, hoa thắm. Đời người con gái chỉ có một lần… Cô Ba chỉ vì yêu mà… thiệt thòi đủ thứ. Có ai thương đến cho! Biết đến cho! Thử hỏi người đời có ai chấp nhận tình yêu và hôn phối của vợ chồng tôi? Chỉ có Chúa thôi! Tuy vậy, Cô Ba và tôi vẫn giữ nề nếp của ông cha. Không vượt quá lễ giáo.

Hớp một ngụm cà-phê, tôi nói tiếp:

-Hân và tôi đâu phải làm cái chuyện mèo mả gà đồng. Sau khi làm lễ thề nguyền trước Thánh Chúa, cho đến hơn một năm sau mới chính thức ăn ở với nhau. Buổi tối đó, Cô Ba và tôi đốt nến lớn trên bàn thờ Chúa. Trước vong linh Ba, Má và Anh Hai, vợ chồng đã rót đầy những chung rượu hiếu nghĩa, ân tình, xin phép Ba, Má và Anh Hai làm lễ tơ hồng. Rồi sau đó mới… uống chung rượu giao bôi mà thành thân. Chúng tôi có làm gì trái đạo lý. Hay chỉ có sự cách biệt về tuổi tác thôi. Đó có phải là lý do chính mà hôm nay Dì viện ra để hành hạ Cô Ba. Tôi thử hỏi… Dì có cái quyền đó hay không?

 

Tôi thấy Cô Ba khóc. Hằng nín lặng. Tôi nói tiếp:

-Nếu, Dì còn hà hiếp Chị Ba của Dì nữa. Thì ngay hôm nay, tôi sẽ nói với Hân giao căn biệt thự nầy cho Dì. Tôi đưa vợ tôi về quê, làm những người tỉnh lẻ mà có nghĩa, có tình, có đạo lý. Còn hơn làm dân Sài-Gòn nầy mà thiếu ân tình, thiếu đạo nghĩa, thiếu hiểu biết. Người ta thường nói “một mái nhà tranh, hai quả tim vàng”, tưởng là nói châm biếm chơi. Nhưng Hân và tôi sẽ làm được. Chúng tôi sẽ sống và yêu nhau trong mái nhà nghèo nàn đó. Dì nói đi…

Cô Ba khóc sụt sùi. Hằng cũng chảy nước mắt.

-Hay thôi, để tôi nói cho hết ý.

-Tôi nói lời cuối cùng. Dì nên biết lỗi của Dì. Khi tôi đi làm, Dì và Cô Ba, lên nhà trước, cầu nguyện. Rồi Dì xin lỗi Chị Ba của Dì trước Chúa và Ba, Má, Anh Hai. Bây giờ tôi phải đi. Buổi trưa trở về, nếu những lời tôi nói bị bỏ qua, nghĩa là Dì vẫn coi tôi là con nít. Tôi sẽ thực hiện điều tôi vừa nói với Dì. Còn Cô Ba không chịu đi với tôi… Tôi sẽ về xứ một mình. Tôi sẽ ở vậy, không cưới vợ cho đến khi Dì chọn được cho Cô Ba một tấm chồng xứng đôi, vừa lứa.

Tôi nói xong, kéo ghế, đứng đây, ôm Hân hôn vào trán, hôn vào cái… bầu, rồi bước đi, không nhìn lại. Nhưng tôi cũng kịp thấy Út Hằng đang còn khóc, bước sang bên kia bàn, ôm Cô Ba. Hai chị en ôm nhau, khóc… nhiều hơn.

Buổi trưa tôi về, Dì Năm ra mở cửa, nhìn tôi cười, nói nhỏ, “yên rồi, cậu hay quá, hồi sáng nói gì mà hai cô hết hục hặc. Còn lên bàn thờ cầu nguyện nữa.”

Bước vào nhà, tôi thấy bàn thờ nến thắp sáng, có thêm bình bông hồng. Trước bàn thờ còn bày thêm một chiếc bàn vuông nhỏ, trải nắp bàn trắng. Tôi nghĩ, chắc là Hân đang chuẩn bị mâm lễ… rước ông bà về ăn Tết. Gia đình tôi Công giáo, nhưng tôi vẫn thấy Ba Mươi Tết năm nào Chị Hai tôi cũng làm vậy. Đây là lần đầu tôi nghĩ là Hân cũng sẽ làm như vậy. Hèn chi hai bà nầy thân với nhau quá. Khi lên cầu thang, nhìn thấy hai chị em Cô Ba đang ở dưới bếp, nấu nướng gì đó. Tôi chợt nhớ, sao không thấy Bé Danh đâu? Tôi quay xuống hỏi Dì Năm:

-Dì Năm, Bé Danh đâu?

Nghe Cô Ba trả lời:

-Cậu vào phòng đọc sách coi, nó mới ở trong đó mà.

Tôi quay lại tìm Bé Danh. Thằng nhỏ đang mê đọc quyển sách Hồng “Dế Mèn Phiêu Lưu Ký”. Tôi bước vào, nó mừng rỡ ôm tôi nói “Thưa Dượng Ba, con đọc sách, hay lắm.” Tôi tặng Danh một chiếc xe lửa nhỏ, vặn giây thiều, chạy được trên bàn học, chạy được trên nền gạch bông. Tôi mới mua ở Bonnard. Thằng bé cám ơn tôi, bỏ quyển sách lại, ôm chiếc xe lửa chạy xuống lầu, la mừng, khoe ầm ĩ:

-Má ơi. Dượng Ba mua xe lửa cho con. Đẹp quá má ơi.

Tôi đứng trên cầu thang nhìn xuống, thấy hai chị em Hân nhìn Bé Danh ôm chiếc xe lửa nhỏ, cười nói vui vẻ. Tôi tự nói, “yên rồi, hết làm giặc rồi…” Tôi để yên không xuống bếp hôn Hân như mọi ngày. Đi tắm, lên giường nằm đọc lại quyển sách Hồng “Dế Mèn Phiêu Lưu Ký” của Bé Danh, do Nhà văn Tô Hoài viết. Hay quá, con nít không mê sao được. Tôi nghĩ, tôi cũng chỉ là con dế mèn kia thôi, đang phiêu lưu trong kiếp con người…

**

Trận chiến giữa các người đẹp nầy vừa chấm dứt, bỗng nhiên Cô Ba lại phải đối đầu với trận chiến khác… lớn hơn. Cô Ba hiền quá nên luôn luôn là tấm bia đở đạn, để cho người ta, những người đẹp khác, tấn công.

Bội Mỹ nói với tôi, Mồng Sáu Tết mới trở lên Sài-Gòn. Không ngờ chỉ tối Mồng Bốn đã có mặt trong phòng khách nhà Cô Ba, có cả Chị Hai tôi nữa. Hai người đẹp nầy đi chung từ Cà-Mau lên.

Mỹ về Cà-Mau thăm gia đình, ăn Tết… đã không quên đem chuyện thời sự… hấp dẫn của tôi nói cho Chị Hai nghe. Bà Chị Hai tánh nóng như lửa, thấy Tết tôi không về thăm Má, nên đã nổi trận lôi đình. Ba ngày Tết vừa qua, Chị giao Má lại cho Chị Bảy nuôi bệnh, rủ Bội Mỹ lên Sài-Gòn ngay. Cô này hăng hái… đi liền, bỏ những ngày Tết còn lại cho ai muốn hưởng thêm thì hưởng. Đó, chuyện thời sự… trai gái sôi nổi, hấp dẫn như vậy đó.

 

Tôi vừa đem chiếc vespa vô sân, Dì Năm vừa đóng cửa rào xong, đi theo, nói;

-Cô Hằng và Bé Danh về Nha Trang hồi sáng, buổi chiều Cô Hai, chị Cậu và một cô gái nào đó, đẹp lắm, đến cả nửa giờ rồi. Họ nói gì không biết, Cô Ba đang… khóc, trong phòng khách.

Nghe tôi về, Chị Hai bước ra cửa, nói ra sân:

-Út, vô đây. Chị hỏi một chút coi.

Tôi bước vào cửa, không chào Bội Mỹ đang ngồi ở ghế xa-lông. Chị Hai trở vào, ngồi ở một ghế khác. Còn Cô Ba ngồi trên trường kỷ, đang khóc. Tôi bỗng thấy giận Chị Hai:

-Chị bỏ Má ở Cà-Mau, đi với Cô Mỹ lên đây làm gì? Chị nghe, thấy, biết hết rồi. Còn hỏi gì, nói gì… cho Cô Ba khóc?

Tôi đi thẳng đến trường kỷ, ôm đầu Cô vào ngực, hôn lên đôi mắt đỏ hoe tràn nước mắt. Ngồi xuống bên cạnh. Cô thấy tôi, nước mắt càng tuôn tràn nhiều hơn. Tôi tội nghiệp quá, nổi nóng với Bội Mỹ:

-Cô Mỹ. Tôi cám ơn Cô đến thăm. Nhưng tôi nhớ là không có mời Cô.

-Dạ phải, thưa anh Út. Nhưng tôi đâu phải đến thăm anh, mà thăm Cô Ba. Tôi nhân dịp đi lên cùng Chị Hai, ghé thăm một chút, bộ… vô lễ lắm sao? Thôi, vậy để tôi chào Cô Ba, tôi về.

Chị Hai chen vào:

-Khoan. Út, em nói chuyện gì vậy? Bội Mỹ, em ngồi đó. Một lát nữa chị đưa em về. Không về bây giờ.

-Em có muốn đi về đâu? Tại Anh Út đuổi xô mà…

Mỹ vừa nói, vừa cầm khăn lau nước mắt. Khóc.

A khóc. B khóc. Tôi ngỡ ngàng. Sao người nào cũng khóc hết vậy? Tới C, Chị Hai, nhìn tôi trân trối, nhìn Cô Ba, nhìn Bội Mỹ, rồi cũng… khóc. Chúa ơi, nước mắt đàn bà sao ở đâu mà nhiều quá vậy? Ba người đẹp nầy ngồi trước mặt tôi cùng khóc. Nhưng tôi biết mỗi dòng lệ nầy đều có tiếng nói riêng, nguồn cơn riêng, tâm sự riêng.

Tôi nghĩ không có một nhà khoa học nào nếm nước mắt của những người đàn bà đổ ra trong mỗi trường hợp riêng, để có thể sẽ phân chất được độ ngọt, nhạt, mặn, nồng, cay đắng hay chua chát, của nước mắt. Họ đã từng phân chất được tất cả mọi thứ nước, mọi chất lỏng trên thế gian nầy, trừ nước mắt. Nước mắt là một hợp chất tâm lý huyền bí đối với khoa học thực nghiệm. Nhưng… các nhà tâm lý học phân tích được. Họ còn có thể viết ra hàng chục trang giấy, hay nhiều hơn nữa, của mỗi trường hợp. Tôi nghĩ như vậy.

Tiếc thay, tôi học, đọc, rất ít các sách về tâm lý học. Nhưng khi nhìn những người đẹp nầy im lặng ngồi… khóc, cũng có thể phỏng đoán được. Tôi cảm thấy xót xa trong lòng.

Giọt nước mắt của Cô Ba là giọt nước mắt tủi thân khi biết người khác tuy miệng nói cười vui vẻ mà không thiếu ý mỉa mai kèm thêm cái nhìn châm biếm trong ánh mắt vì… cái bầu. Giọt nước mắt của Bội Mỹ  có thể nghĩ là bị hất hủi và ghen tị khi tôi ôm hôn Cô Ba trước mặt, không một chút đếm xỉa gì đến Cô. Tôi thật kém tế nhị. Làm như vậy là khiêu khích, càng làm cho Bội Mỹ căm tức Cô Ba hơn nữa… Còn Chị Hai, tại sao lại khóc? Hay tại vì chị nghĩ là chị bị người bạn thân nhất phản bội, bị đứa em út mà chị cưng yêu nhất lừa gạt.

Rõ ràng, Chị Hai nhìn tôi, nhìn Cô Ba, nhìn Bội Mỹ là để so sánh. Không còn biết làm gì hơn được trong tình trạng đó, tôi đứng dậy rời bỏ phòng khách cho ba người đẹp, đi lên phòng riêng. Còn nghe Chị Hai nói vọng theo:

-Út, Út sao bỏ đi vậy?

Thái Hân nhìn theo. Nhưng biết rằng Út ngồi lại cũng không giải quyết được gì. Chính mình phải tự mình đối đầu với người bạn thân cũ và cô tình địch trẻ đang cay cú nầy thôi.

-Hân, mi coi đó. Không ngờ nó thay đổi đến như vậy?

Bội Mỹ, châm thêm dầu vào lửa:

-Chị Hai bây giờ mới biết. Em thì biết từ lâu rồi. Hồi ba, bốn năm về trước. Ảnh đang trẻ măng. Mới mười bảy, mười tám, nhưng mỗi lần về Cà-Mau em thấy như ảnh… già hẳn đi. Chững chạc, ít nói như ông cụ non ba mươi không bằng. Mỗi lần về đầu óc như bỏ ở đâu. Ở được một hai ngày đã nôn nả trở lên Sài-Gòn.

-Chị có để ý đâu mà biết. Thì cứ tưởng nó lo việc học hành…

Thái Hân không còn khóc nữa. Đã lấy lại được sự tự chủ. Thấy cần phải tự bảo vệ, như trước đây đã từng có những phản ứng tinh tế đối phó với thầy giáo cách mạng Trường Kỳ. Chẳng lẽ mình như vầy mà lép vế một cô gái mới lớn, dù đã học hỏi ở nước ngoài về, như Bội Mỹ sao?

Hân nói với Thuỷ:

-Nầy, Thuỷ, chắc cậu đang trách mình đó phải không? Nếu Út không lo học hành thì có đỗ đạt được hay không? Người ta nói “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”. Đúng hay sai? Còn, Mỹ chị xin lỗi em nghen, cho chị nói năng thiệt tình với em được không?

-Dạ, em xin nghe.

-Nghe Thuỷ nói, lúc trước em cùng học chung lớp với Út ở Cà-Mau, em… mết Út lắm, phải hông? Nhưng chị nói thiệt nghen, con gái mà… đường đột quá, con trai nó… sợ. Để “trâu tìm cột chớ đừng để cột tìm trâu”, thì hoạ may…

Chị Hai chen vào:

-Hân, mi nói vậy là tại… thằng Út, chớ không phải tại mi sao? Nó còn con nít, biết gì cái vụ đó?

-Mi không tin hả? Hỏi Út đi…

Bội Mỹ nói:

-Chị Hai à. Cô Ba nói, gần đèn thì sáng mà. Sau này anh Út lên Sài-Gòn học, giỏi hơn lúc cùng học chung với em. Hồi đó ảnh tối mù, nhờ ở gần Cô Ba, nên ảnh sáng ra, học… tiến bộ lắm. Không nhờ Cô Ba làm sao ảnh biết chuyện nầy, chuyện nọ được. Cô Ba còn nhiều kinh nghiệm dạy dỗ nữa… nên anh Út học… mau lắm.

-Này Mỹ, em thông minh quá, hiểu biết nhiều quá. Chắc là lúc trước Út… tối mù như em nói, chưa biết gì hết. Vậy, Út đã… học hỏi… em, phải hông? Em… chỉ, em dạy Út còn sớm hơn chị nữa đó. Chị nghe em nói, biết em giỏi quá, còn phải nể. Hèn gì Cậu Út ngán. Nể. Không dám yêu em cũng phải thôi.

-Thưa Chị Ba, xin chị cũng cho phép em nói thiệt tình với chị nghen. Chị đẹp, chị hiền, chị giỏi. Anh Út… ở gần chị lâu ngày… mết chị là phải rồi. Em là con trai em cũng mê chị luôn. Em nói thiệt, bây giờ ảnh chọn chị. Chê em con nít. Nhưng vài năm nữa… thời gian thay đổi, biết đâu ảnh lại không đi tìm những người con gái tân… Sợ còn trẻ hơn em nữa. Mặc cảm… tuổi tác mà Chị Ba. Thức đêm mới biết đêm dài…

Chị Hai thấy, lời nói của Hân và Mỹ tuy nghe êm ả, nhưng tình trạng căng thẳng thêm, nên nói:

-Mỹ à, chuyện hiện tại nói còn chưa hết, em nói chi chuyện tương lai dài dòng như vậy. Thôi cũng tối rồi, để chị đưa em về, kẻo thằng Toàn nó chờ cơm.

-Hay để mời Thuỷ và em Mỹ ở lại ăn cơm tối nghen. Ăn uống đạm bạc thôi nha. Có gì ăn nấy. Còn ăn uống được hôm nay là quí rồi. Tương lai giặc giã tới nơi, chuyện đời thay đổi. Mất còn, ai mà biết được? Nên, nhân tiện cũng nói cho em nghe ý nghĩ đơn sơ của chị. Hôm nay, Chúa cho thứ nào thì cứ giữ, cứ quí thứ đó. Nhiều người muốn… chưa chắc có. Ham muốn, đòi hỏi cũng không được. Mà tâm lý chung, càng thiếu thốn càng ham muốn dữ dội hơn. Đòi hỏi ráo riết hơn. Đâu dễ gì. Tôi nghiệp cho họ. Nếu biết an phận thì tốt hơn. Còn chuyện gì về sau, mình sẽ tính sau.

Chị Hai nói:

-Thiệt, mấy người nói chuyện triết lý quá. Hân, để mình đưa Mỹ về. Chờ mình về ăn cơm. Thằng Toàn, em Mỹ đợi nó lâu rồi.

-Thưa Chị Ba, xin phép, để em về. Xin lỗi chị vì không mời mà đến. Để chị nghỉ ngơi. Trước khi đi Đài Loan, thế nào em cũng sẽ trở lại chào từ giã chị… với anh Út. Chị Hai, em về một mình được rồi. Gần mà. Chị đưa làm chi cho mất công đi, lại, tốn tiền xe.

Chị Hai nói:

-Vậy cũng được. Để chị đưa em ra đón taxi.

-Thôi, Bội Mỹ về nhen. Hôm nào rảnh ghé chơi. Cô Ba thêm.

**

 

Út ngồi ăn cơm tối với hai người đẹp và Dì Năm như ngồi trên bàn chông. Chị Hai cứ soi mói hết nhìn Cô Ba lại nhìn Út. Không ai nói gì. Nhưng đó là sự im lặng trước cơn bão lớn.

Hân thấy Út ăn thật nhanh. Chưa uống hết ly nước đã rời bàn ăn, lên cầu thang. Thuỷ lắc đầu, nói trỏng:

-Mới bây lớn mà to gan, lớn mật.

-Thôi, mi muốn nói gì, thì nói với tui. Mà cũng để ăn cơm xong cái đã.

-Thấy đã muốn no rồi, Ăn uống gì nữa. Mình lên sân thượng trước đây. Có bầu, ăn cho no đi. Uống nước cũng chầm chậm một chút, đừng có vội vàng, nức-cục, không tốt đâu.

-Tui có bầu, tui biết lo… Hân trả lời.

Thuỷ đi lên cầu thang. Dì Năm nói nhỏ với Cô Ba:

-Coi bộ Cô Hai cũng… lo cho cô đó.

-Lo, mà hồi chiều đưa cô đó tới nhà. Nói năng như bênh vực nữa. Dì coi, tiếc cô đó, sao không đi… cưới cho Cậu Út đi. Hồi nãy Dì có nghe không? Nói vầy nghe được không, “thấy đã muốn no rồi”. Thấy cái gì. Bộ đứa nhỏ trong cái bầu nầy không phải là cháu của cổ sao? Sao, cô gì đó hỏng mang cái bầu đi cho cổ vui? Con tủi thân lắm.

-Ối, tủi thân cái gì. Cô hơi đâu mà lo ai thương, ai ghét. Cậu Út là đủ rồi. Cô lên lầu đi. Coi Cô Hai nói gì nữa…

 

Cô Hai ngồi ở chiếc băng dưới cửa sổ, trên sân thượng, ngoài phòng ngủ của Hân. Thấy Cô Ba lên, nhích qua một bên, nói:

-Ngồi xuống đây đi.

Hân do dự một chút mới ngồi xuống. Nói với Thuỷ:

-Mi binh nó quá mà. Sao không giỏi cưới nó cho Út đi?

-Thằng Út có chịu đâu mà cưới hỏi gì.

-Vậy nữa. Biết không chịu mà còn dẫn lên đây làm gì? Thăm hả, hay cho Út coi mắt lại người ta bây giờ đẹp cỡ nào phải không? Đi ngoại quốc về, học hỏi theo lối mới, đẹp lắm, sang lắm, lanh lợi lắm. Hỏi Út đi. Nếu vừa ý thì cưới đi. Tôi nuôi con tôi. Có ăn có chịu.

-Đâu phải. Tại nghe nói mi có… bầu, nên mới lên. Nó đòi đi theo thăm mi nên cho nó đi theo, chứ đâu phải dẫn nó lên cho Út coi mắt, coi mũi gì đâu?

-Mà làm sao biết tui có bầu. Ai nói? Út hả?

-Đâu phải.

-Vậy chớ ai?

-À, thì Bội Mỹ… nói.

-Ủa, làm sao biết? Lạ vậy… ở tận Đài Bắc mà.

-Ờ, thì thằng Toàn, em Mỹ, học trên nầy, ở trọ gần đây, nên thấy… mấy người đèo nhau trên vespa hằng ngày. Đôi khi còn nắm tay nhau đi… bộ dạo mát buổi chiều tối nữa. Nó nói, coi bộ hai người thương yêu nhau lắm.

-Hèn chi… Chắc nói cho cô Mỹ nghe. Bộ… cổ ghen lắm hả, mới đòi theo mi lên làm bộ thăm viếng. Hồi chiều, mi còn nói hùa theo nữa. Mi tiếc… em dâu… hụt phải không?

-Thôi, đừng nói cái vụ đó nữa. Mi có bầu rồi. Nó còn hi vọng gì nữa.

-Biết đâu. Bây giờ chiến tranh lớn rồi. Ở ngoài Bắc, Việt Minh đánh vô vòng đai Hà-Nội. Đánh lên tới Lào. Thanh niên miền Nam đi sĩ quan, đi lính, bị đưa ra ngoài đó hết rồi. Trai thiếu gái thừa mà… Ủa, sao mi… khóc?

Chị Hai trả lời:

-Thì, thằng Năm, ra trường Sĩ quan Đà-Lạt, tình nguyện đi Nhảy Dù. Nó ra ngoài Bắc cả tháng rồi.

-Thằng Năm là ai vậy?

-Em trai mình. Anh của thằng Út chớ ai.

-Chúa ơi! Có ai biết gì đâu?

-Cũng không dám cho ông già biết nữa… Một mình tui chịu đựng hết mọi chuyện buồn, khổ, của gia đình.

 

Hân nghe nói, thấy thương Thuỷ quá, ngồi nhích lại gần ôm Thuỷ, vuốt vuốt vào lưng, dỗ dành:

-Tội nghiệp… Chị Hai quá. Thôi đừng khóc nữa.

Chị Hai chặm nước mắt, nói:

-Bộ, bộ mi mới gọi mình là Chị Hai, phải không?

-Chớ gọi bằng gì… bây giờ? Bộ không phải Cô Hai của… thằng nhỏ… trong bụng nầy sao?

-Sao Hân biết… nó là thằng nhỏ?

-Thì… tại… em muốn như vậy. Đẻ thằng cu cho nó… giống ba nó.

-Bộ mi thương Út lắm hả?

-Hỏng thương… lắm… lắm, làm sao… có bầu.

-Mấy tháng rồi?

-Hơn ba tháng.

-Thôi nghen. Nói với nó tô…ốp bớt nha.

-Thì… nói rồi. Mà cứ rọ rạy. Ủa, mà sao Chị Hai cũng biết cái vụ nầy nữa há. Giấu hoài. Nói nghe coi. Ví… ai vậy. Dân cây nhà lá vườn hả?

-Đừng nói bậy nghe. Dân Sài-Gòn đàng hoàng.

-Ý, giỏi quá. Vậy lén lên trên nầy hoài thăm bồ, mà giấu tui.

-Nữa, nói bậy nữa. Nói, là nói chuyện hồi xưa. Đâu phải bây giờ.

-Hồi xưa. Là hồi nào? Sao tui không biết?

-Thì… hồi ở đây nè… Mi biết, mi phá đám, hổng giấu sao được.

-Ủa. Hồi đó, đi đâu cũng có tui đi kèm mà. Có thấy ai đâu?

-Bởi vậy. Kém thông minh quá đi… mới có bầu với tên nhà quê.

-Kệ tui. Miễn tui chịu… là chịu. Có hai, ba cái bầu cũng… chịu nữa.

A, a, hay là… Phải rồi, hay là… Anh Hai của tui. Phải hôn? Cha, giỏi thiệt. Đàng nào cũng làm… Chị Hai người ta hết. Ủa sao nín khe vậy. Hồi đó tui biết tui còn xúi tới nữa. Ai mà phá đám. Ủa, sao lại… khóc nữa…

Nhưng khi thấy Chị Hai khóc, Hân cũng không cầm được nước mắt. Anh Hai của Hân mất đi là cái tang chung cho cả hai người. Hai chị em ôm nhau khóc.

Trời đã về khuya, sương thấm lạnh. Tết vừa qua, nhưng giá đông vẫn se siết. Cơn mưa phùn bất chợt từ đâu kéo đến. Hai ngọn đèn đêm ở hai trụ cột ngoài sân thượng như sáng hơn, soi rõ những giọt mưa lất phất bay bay trên sân. Chị hai kéo Hân đứng lên và dìu bà bầu đi vào cửa sắt, đã thấy Út bước ra, đỡ tay cho Chị, đưa Hân vào phòng. Hân mới có bầu hơn ba tháng, đâu có ăn thua gì, đâu cần nương tựa ai để đi đứng. Nhưng thấy Chị Hai rồi cả Út ra dìu mình vào. Biết Út cưng, nên  tựa vào vai Út, bước vô cửa sắt, vào buồng ngủ. Chị Hai đi theo, nhìn, lẩm bẩm:

-Coi đó, cưng ghê hông? Đúng là duyên nợ mà.

Vừa ngồi xuống giường, Hân đã nói:

-Út về phòng, ngủ đi. Khuya rồi. Mai còn đi làm. Chị… Hai đêm nay ngủ đây hay xuống ngủ dưới phòng lớn?

-Thì, ngủ ở đây với Hân. Mình tâm sự. Lâu lắm mới lên một lần…

Út chợt nói:

-Khuya rồi, hai bà làm ơn đi ngủ giùm tôi. Còn tâm sự gì nữa. Để hôm khác không được sao? Đi ngủ đi, cho cái thai… ngủ. Mai mốt nói tiếp. Được hông?

-Ý cha! Bây giờ có uy dữ há. Chị Hai nói.

Hân thêm vào:

-Thì vậy đó. Thôi đi ngủ. Hỏng nói nữa.

**

Nếu ai tin rằng, các cô, các bà trí thức trẻ không nói trây, nói… tục ngữ là một nhầm lẫn lớn. Con người, trước vấn đề tình… yêu, ai cũng như ai. Bên ngoài trông các cô e lệ, làm duyên, làm dáng. Ăn nói nhỏ nhẹ, dịu dàng. Nhất là các cô gái đẹp. Các cậu thanh niên trẻ tuổi nghe các cô nói là chân không muốn bước… rời xa người đẹp. Mắt chỉ muốn nhìn cái miệng hàm tiếu, tiếng nói ngọt như mía lùi, như mật ong. Mê tơi luôn.

Còn các bà trí thức, trên dưới ba bốn mươi, ăn nói tế nhị, thông minh êm ái. Thảnh thót như nước trên suối thượng nguồn. Trong như tiếng hạc gọi sương. Thanh nhã tuyệt vời như tiếng nhạc Beethowen, Chopin hay Mozart, nghe còn mê mẩn gấp bội các cô.

Nhưng khi hai người đẹp trí thức, cùng trang lứa, cùng tần số trong tình cảm, trong tình yêu… gặp nhau ở bối cảnh riêng tư, thuận tiện nào đó, họ tâm sự về các chuyện ái tình mùi mẫn hết ý luôn. Không chắc các cô các bà nầy biết xổ… Nho. Nhưng có thể… xổ biệt ngữ ái tình tiếng Việt, tiếng Tây, thao thao bất tuyệt.

Ở trường hợp khác, nếu phái đẹp có lý do để khởi chiến, muốn có hoà bình không phải dễ, khi một bên còn vướng mắc gì đó, chưa được thoả mãn. Nhưng nếu một khi đã có… hòa bình rồi, các người đẹp nầy sẽ giải bài tâm sự với nhau. Những người bạn tâm đắc như Chị Hai và Cô Ba chẳng hạn, thì câu chuyện nói với nhau nghe không kém hấp dẫn. Không thiếu thứ gì. Mùi mẫn như trong Hồng Lâu Mộng của Tào Tiết Cần.

Khuya hôm trước, Út bảo đi ngủ nên Thuỷ chưa hỏi được Hân về sự tích của cái… bầu mà Hân ám chỉ là do Út chủ động. Chẳng lẽ, Út nó dám vào phòng Hân mà… nhặng xị hay nhăng nhít được với Hân hay sao? Cái vụ nầy đáng nghi lắm, phải hỏi Hân lại mới được. Út nó hiền lành, nhát như thỏ đế. Đối với Bội Mỹ, cũng chưa dám cầm tay, hay hôn hít, chớ đừng nói tới cái… vụ đó. Nó đâu biết như Anh Hai mà… lung tung đủ… mọi thứ vậy? Phải hỏi lại trước khi… hoà ước thừa nhận… cái bầu được hội thuận, không còn thắc mắc nữa.

Hôm sau, Mồng Năm, nhân Út đi ăn cơm khách với… ông Giã Kiến Long, như Út nói; sau buổi cơm tối, Chị Hai và Cô Ba lên sân thượng, ngồi trên chiếc băng cũ. Chị Hai hỏi Cô Ba:

-Nầy Hân, nói lại cho rõ một chút được hông?

-Nói rõ chuyện gì?

-Chuyện “trâu tìm cột” Hân nói với Bội Mỹ đó. Ai tìm ai? Bộ Út nó gan trời như vậy sao?

-Đâu có gan trời. Chỉ dám ôm người ta… hôn đại thôi.

-Chúa ơi! Thiệt sao? Mà ở đâu, hồi nào?

-Thì lâu rồi. Bốn, năm năm rồi. Hồi Út đi Vũng Tàu đánh cúp quần vợt đó. Mấy ngày liền ở ngoài đó.

-Bộ mi đi với nó hả?

-Chớ hỏng lẽ bỏ… cho đi một mình. Hồi đó, mi luôn nhắc nhở tui, phải bảo vệ Út. Đâu dám cho đi xa một mình?

-Vậy là ở chung. Mướn phòng ngủ chắc? Rồi ăn uống, ngủ nghê làm sao?

-Thì, Trường mướn phòng ngủ cho cả đoàn. Rẻ hơn. Mỗi gia đình tuỳ ít nhiều, ở chung trong một hay hai phòng. Ăn uống trả tiền riêng.

-Mi và Út ở chung một phòng, phải hông?

-Chớ, không lẽ mướn mỗi người một phòng riêng sao? Ở chung phòng, nhưng ngủ hai giường riêng.

-Vậy, là tiêu rồi. Mi đẹp quá, nó chịu không nổi, ban đêm… mò qua   giường mi chớ gì nữa. Lửa gần rơm mà.

-Đâu có. Út có mò qua đâu.

-Vậy, mà mi nói nó ôm hôn… đại. Chớ hôn ở đâu?

-Ở ngoài… bãi biển.

-Sao lạ vậy. Trong phòng riêng, trong bóng tối, không làm gì, mà ra chỗ sáng, chỗ đông người, mới… ôm hôn?

-Hỏng phải. Tại đi tắm biển, ban đêm. Mà chỗ đó ít người, cũng tối tối, đâu có sáng đâu.

-Nó ôm… hôn đại ngoài bãi biển sao? Mi không chịu làm sao nó dám làm hỗn?

-Tại lúc đó xuống dưới nước rồi, đứng tới ngực. Mình không biết lội… đương sợ, run muốn chết… phải nắm tay Út, cái bị… ôm, rồi bị hun tới tấp. Người ta còn con gái, rụng rời tay chân hết trọi. Có vẫy vùng gì được đâu. Bủn rủn… mà… rần rần trong da thịt, chịu hổng nổi. Thì… thây kệ. Cho… làm gì đó thì làm.

-Bộ nó… làm… luôn sao?

-Làm gì… À, đâu có. Chưa. Mới bị ôm khít rịt rồi hôn… môi thôi mà. Vậy mà… muốn xỉu luôn. Nên…

-Nên gì nữa, bộ không… muốn sao. Làm bộ hoài. Bộ, người ta không biết sao mà giấu.

-A, té ra… Chị Hai cũng bị Anh Hai làm cho chết đứng, chết ngồi rồi phải hông? Bị ảnh hôn, rồi… tới luôn phải hông?

-Đâu có, mấy lần sau, mới bị ảnh… chớ đâu phải bị… liền trong lần hun đầu đâu.

-Biết… mà, con gái tân, bị hun, chịu đâu có nổi. Bề nào rồi cũng tiêu mà.

-Chuyện của mi, chưa nói xong mà nói sang đàng rồi.

-Thì tui, cũng vậy. Có bị… liền đâu. Mà ai như bà, chỉ mới chờ tới… mấy lần hun sau. Còn tui, tui phải nhịn hơn cả năm lận. Lúc đó nếu tui mà không còn con gái tân, tôi cho Út… luôn ở dưới nước rồi.

-Sao vậy, con gái còn tân, hay không còn, khác gì đâu.

-Bởi vậy, mi… mất là phải. Mất thì cũng phải để cái gì lại cho họ biết. Họ… làm, họ phải biết mình còn, và họ là người hưởng đầu tiên. Nếu tối đó, để Út… ở dưới nước thì làm sao tạo được tình yêu bền vững sau nầy. Nói thiệt nhen, lúc đó, mình cũng muốn… tới bến luôn. Nhưng sợ nước biển bôi xóa hết, trôi sạch hết dấu vết tiết trinh, rồi làm sao ăn nói với Út. Nên… mình kềm lại, bảo Út đi về phòng ngủ.

-Đương hứng mà về phòng ngủ, cũng giỏi. Về tới nơi, thì… tiêu tùng rồi chớ gì? Cho Út… luôn, phải không?

-Đâu có, mình sợ, run quá, nên leo lên giường nằm. Út… nhát, không dám làm tới. Nằm giường bên kia, trăn trở. Mình cũng… nuốt nước miếng chịu, không dám hó hé. Sợ… Nếu Út dám làm tới nữa, mình…  tiêu thiệt. Nhưng mà, nếu… trên… giường thì dấu vết con gái nguyên si… sẽ giữ lại được. Nhưng Út đâu phải dạn dĩ  như… bồ của mi. Mi không có bầu sớm là may đó.

-May cái gì. Có bầu, mới bắt ảnh được. Ảnh đẹp trai, con nhà giàu, học giỏi. Chờ đợi gì nữa. Nhưng, đâu có nhiều đâu mà có bầu. Phải có bầu được, thì tốt quá. Tiếc là, tại chỉ mới có… ít, ít thì ảnh mất rồi. Còn mi dù có trễ, mà hà rầm đêm ngày, làm sao mà không có thằng nhỏ trong bụng cho được.

-Ý, nghe nói, có người chỉ bị… hãm một lần thôi, đã có thai rồi. Đâu phải tại nhiều hay ít. Mà làm sao mấy người làm ăn được?

-Hồi đó, phải chờ cho nhà… vắng vẻ. Đâu được tự do như mấy người đâu. Có khi mình đang tắm, ảnh theo vô… nhà tắm trong phòng đọc sách nữa. Còn cái vụ con gái nguyên si, mình cũng đâu có ngu mà hỏng giữ… làm kỷ niệm. Ảnh biết rõ quá mà.

-Mấy người chờ cơ hội… thuận tiện. Còn tui và Út phải nhịn, chờ… Chờ cho Út thi đậu. Mình chỉ bài cho Út trong phòng đọc sách đó hằng đêm, mà đâu có như mấy người. Vậy mà còn cật vấn. Phải chi cái cô gì đó có bụng với Út chắc là mừng lắm phải không? Bộ hồi đó, mi không khen tui đẹp sao. Hỏng đẹp hơn cô đó sao? Lớn nhỏ tuổi ăn thua gì. Bộ Út còn nhỏ nhít gì sao mà không biết. Còn dạy người ta đủ thứ hết.

-Biết gì mà dạy. Út mới lớn mà.

-Mới lớn gì. Mạnh như lực sĩ vậy. Bồng người ta… lên giường, nhẹ nhàng… Biết đủ thứ. Hỏi, học ở đâu? Nói, không học gì hết. Cái vụ đó tự nó… phát triển thôi. Mấy bà, mấy cô ham tiền… hay ham cái gì, lấy chồng… già. Hỏng biết ra sao?.. Chớ chồng trẻ, nó cưng hết biết. Đầy ắp. Dư dật. Muốn chừng nào có chừng đó. Muốn lúc nào có lúc đó. Phủ phê, mà hỏng chịu, còn muốn cái gì nữa.

-Vậy là mi… mê mệt chớ gì?

-Nói thiệt nghen, tui mê… Út đó. Út… còn mê tui hơn nữa, chớ bộ. Bây giờ, dòng họ Võ có người nối dõi rồi, còn muốn gì nữa? Vậy mà Út cũng biết giữ gìn lắm. Biết nhịn. Nếu không, bây giờ hai ba đứa rồi. Rõ chưa Cô Hai. Biết vậy hỏng thèm chờ, hỏng thèm nhịn.

-Mấy người ham… sản xuất quá há. Mà nói chuyện chồng con cũng tự do quá. Bây giờ có bụng như vầy, rồi làm sao mà tính được chuyện gì đây?

-Thôi, chờ cho đến khi Chị Hai tính, thì biết đến chừng nào? Mà không biết có ai chịu không nữa. Tụi nầy làm lễ hôn phối rồi…

-Vụ làm lễ trong Nhà Thờ, Dì Năm nói cho nghe rồi. Khỏi nói.

-Muốn nói là… cả mấy năm sau mới thật sự kết tình chồng vợ. Chúng tôi đâu có phạm Đức Tin. Làm chuyện tự nhiên của vợ chồng. Đâu có làm chuyện phạm giới cấm. Chị Hai hỏi thì phải nói cho hết thôi.

 

Im lặng một lúc. Bỗng Chị Hai, thở dài, nói:

 

-Thiệt là hết nói nổi. Sao không chịu cho biết, coi người ta tính sao. Biết đâu ông già chịu, thì danh chánh ngôn thuận biết mấy.

-Có chắc chịu không. Hay chính Chị Hai là người chống đối đầu tiên? Bây giờ đã biết hết rồi. Hiểu rõ hết rồi. Xin nghe tôi hỏi: “Cô Hai có chịu nhận đứa bé trong bào thai nầy hay không?” Tôi biết, gia đình họ Võ, tiếng nói của Cô Hai là mạnh nhất đối với Ba, Má. Chị nhận là cả nhà nhận. Còn nếu không nhận, tôi sẽ cho nó mang họ Hoàng. Cũng tốt thôi. Nhà tôi không ai nối dõi.

Thái Hân mủi lòng. Lại khóc. Một mối tình, biết bao nhiêu là nước mắt!

Chị Hai nghe xong, không còn lời nào để bắt bẻ nữa. Bây giờ Thuỷ chỉ sợ một điều duy nhất là sợ câu nói của Bội Mỹ. Sợ giùm cho Thái Hân. Mới hôm qua, Mỹ đã nói: “Bây giờ ảnh chọn chị. Chê em con nít. Nhưng vài năm nữa… thời gian thay đổi, biết đâu ảnh lại không đi tìm những người con gái tân… Trẻ hơn em nữa”. Thuỷ nghĩ, quả thật, cô gái nầy thông minh quá. Biết nhìn xa, thấy trước. Út đẹp trai, lại giỏi, dễ gì tránh khỏi bị… các cô… xí mất.

Thuỷ thấy cần an ủi Hân:

-Hân à, từ nay gọi mình… là Chị Hai, nha. Chị nhận cháu của chị mà. Rồi Ba cũng cưng thằng nhỏ đó cho coi. Ráng sanh con trai nghen. Ổng nội mà thấy cháu nội trai là mê nó luôn đó. Nhưng mà, nghe chị nói nè. Sanh nở xong, phải biết tập tành, thể dục, giữ… co. Ăn diện cho đẹp đẽ. Đàn ông con trai đi ra ngoài thấy gái đẹp là híp mắt, quên vợ nhà. Nhớ không?

-Chị Hai đừng lo. Em biết tánh tình và lòng dạ của Út. Chồng có đi đâu, có vợ bé hay có mèo, vợ dù có ghen, cũng phải giữ mực thước. Lấy chồng trẻ, đẹp, giỏi, thì phải biết. Nếu muốn giữ được chồng, dĩ nhiên là phải giữ sắc đẹp. Quan trọng hơn là phải giữ đạo làm vợ, lo lắng, thương yêu chồng con. Nhất là đừng lời nặng, tiếng nhẹ, ghen tuông, gây gổ… Mấy thứ đó chỉ làm cho gia đình mau tan vỡ mà thôi.

-Ờ, phải như vậy mới được. Biết như vậy là giỏi.

Hân nói tiếp:

-Chị Hai yên chí đi, khi nào Út về nhà Út là chồng em. Em cưng yêu, chìu chuộng. Nếu Út bước chân ra cửa, cứ coi ảnh như là… bồ, là… chồng của người khác. Làm sao mà giữ chồng mình ở ngoài đường cho được. Chỉ cần giữ mình đừng lăng loàn, đừng phản bội chồng, trung thành là nết kiên trinh… Không bao giờ chồng bỏ được. Ai mà không thương vợ, thương con.

-Phải rồi. Em nói đúng.

-Sinh thằng nầy xong. Em đẻ nữa, đẻ hai ba đứa nữa. Mỗi đứa buộc chân ba nó một sợi dây. Mỗi đứa chiếm một góc tim ba nó. Rứt đâu có ra. Bỏ vợ nổi, bỏ con không nổi đâu. Mà để rồi chị coi nhe, em còn… giữ cho mình đẹp cho tới già luôn. Em sẽ cố giữ cho đẹp người, đẹp nết… sợ người ta thương không hết, nhớ suốt đời luôn. Bỏ hỏng nổi đâu, Chị Hai. Đi đâu rồi cũng chạy về thôi.

-Ờ, thì ráng mà giữ.

-Mà em hỏi thiệt. Sinh nở… Chị Hai có giúp em được hông. Hay làm lơ. Làm lơ là không cho hôn cháu luôn. Nhớ nha.

-Thôi đi, Mợ Út, nhõng nhẽo từ hồi đời nào tới bây giờ. Lớn rồi cũng chưa bỏ. Nhớ, nhắm chừng mươi bữa, nửa tháng trước khi sanh, gởi điện tín cho chị biết. Để lên cho kịp, nuôi đẻ, nha.

-Nhớ mà. Nè, cho Cô Hai rờ cháu một chút nè. Coi chừng nó… đá tay nghe.

**

Tối Mồng Năm, Bội Mỹ chờ đón tôi ở phòng khách Majestic, thay vì tiếp tôi ở phòng riêng như lần trước. Mỹ cho Toàn, em trai, đến mời tôi từ buổi sáng. Thật là khó xử. Đành phải nói dối Cô Ba là đi ăn cơm khách. Thấy Mỹ đón tôi ở phòng khách, tôi thầm cám ơn. Đỡ rắc rối. Mỹ nói:

-Em muốn nói chuyện đứng đắn với anh, ở nơi nào đó, vắng vẻ được không?

-Tôi không biết một nơi nào như vậy. Tôi không biết Sài-Gòn nhiều ban đêm. Thôi, đi uống gì đó trong một quán café bên Khánh Hội nghen.

-Đi đâu cũng được. Tôi ngồi vespa với anh được không? Hay chỉ để dành riêng cho Cô Ba thôi?

-Thôi, đừng nói mát nữa.

Tôi chở Bội Mỹ đi. Cô ôm hông tôi, chẳng khác nào Cô Ba.

Tiệm café nầy nằm bên kia cầu Khánh Hội, chỉ cách một dãy phố. Chủ quán là vợ của một ký giả đồng nghiệp quen biết. Quán về đêm, chỉ có một vài người khách. Tôi gọi hai ly chanh muối.

-Cô định nói chuyện gì nữa?

-Chuyện của tôi. Nói để anh khỏi bất ngờ sau nầy.

-Cô có lắm điều làm tôi bất ngờ rồi. Có thêm cũng không lạ nữa.

-Tôi không đi Đài Loan nữa. Ở lại Sài-Gòn.

-Còn ông Long, còn ông Tuấn, bỏ cho ai?

-Cho ai cũng được. Họ muốn ai cũng được. Không phải là tui. Họ làm gì kệ họ. Tôi đã gởi điện tín cho Cô tôi, từ hôn ông Long. Và cũng điện cho ông Long biết, đừng mong đợi gì tôi hết. Tôi… đã hiến tiết trinh cho người yêu xưa của tôi rồi. Đừng đi tìm tôi nữa. Vô ích.

-Trời đất. Còn người yêu xưa nào nữa vậy? Ai đó?

-Anh đó!

-Tôi có nghe lộn không? Tôi… tôi có làm gì đâu?

-Anh ẵm tôi. Anh hôn tôi. Có không?

-Ờ… Thì có. Chỉ có vậy thôi.

-Vậy là… đủ mất rồi. Nam nữ thụ thụ bất thân mà. Không thương sao ôm ẵm người ta? Hôn người ta? Đừng có nói thương hại nghe. Anh có thương tôi, có yêu tôi. Hôm trước anh đã… nói với tôi mà. Quên sao? Bây giờ anh… bị Cô Ba cám dỗ. Tuổi tác như vậy, thì anh thương được bao lâu nữa? Mai mốt anh bỏ Cô Ba, lấy người khác. Họ có yêu anh không? Còn tôi, tôi yêu anh. Tôi lo cho anh. Tôi đẻ con cho anh. Mai mốt về Cà-Mau… tôi dọn đồ về nhà… anh ở. Nói với Ba anh, là anh đã… lấy tôi rồi. Tôi cũng nói với Má tôi nữa.

-Trời đất! Cô định ăn vạ sao?

-Thì người ta bắt anh cách nầy. Tôi bắt anh cách khác. Bộ tôi không đẹp bằng Cô Ba sao? Chỉ có mình cổ biết có thai sao. Tôi đi khám bác sĩ rồi. Bà đó nói tôi sinh đẻ được. Không có khiếm khuyết gì hết. Cô Ba… còn con gái… không? Tôi… thì… còn y nguyên.

-Thôi mà, Mỹ. Đừng làm khó tôi mà…

-Không làm khó anh đâu. Tôi nói thật. Để coi. Thế nào mai mốt anh cũng… đi tìm gái tân… còn trẻ, cho xứng với anh. Mặc cảm… tuổi tác mà. Tôi chưa chắc đã giữ anh nổi, chớ đừng nói Cô Ba.

-Cô nói chuyện gì… xa vời như vậy? Cô đừng có về Cà-Mau… làm càn. Ba tôi biết tôi… tùm lum như vậy là cô giết tôi đó.

-Thà anh… chết cho rồi. Chớ như vầy, chướng tai gai mắt lắm, tôi chịu hết nổi rồi. Trẻ, hây hây như vầy mà không thương, đi thương… bà…

-Thôi, nín. Không nghe nữa. Đi về…

-Thì… nín. Thì về. Cho em… xin lỗi. Thôi, đừng giận mà. Em có muốn nói đâu. Tại… tức quá đi.

-Bảo… nín mà. Có nghe không?

Bội Mỹ đã lên ngồi trên yên xe rồi, mà chưa hết… tức:

-Chưa gì mà ăn hiếp người ta. Thương… họ quá. Binh quá. Nói một chút cũng cấm.

-Nói… chắc no rồi phải không? Muốn đi ăn. Hay muốn nhịn đói đi về?

-Hỏng biết.

-Uống chanh muối xót ruột quá. Đi tiệm Tàu, hay tiệm Tây? Đi Chợ Cũ hay vô Chợ-Lớn?

-Đi, đi. Đi đâu thì đi. Lên Thiên đàng, hay xuống Địa ngục cũng được. Tui theo tới cùng. Đói meo cũng được.

-Thôi mà. Còn giận sao? Giận mất khôn. No mất ngon. Còn đói… thì mất cái gì đây?

 

Nghe tới đó, Mỹ nổi nóng nói tiếp mấy hơi liền:

-Đừng nói đói mất… cái đó nghen. Đừng nói đến chuyện “bán tr… nuôi miệng nghen”. Đó là chuyện đói… thương tâm. Nên thương xót, quí mến và tôn trọng những người vì hoàn cảnh đói, khổ, nghèo của gia đình… mà phải làm cái chuyện đó. Họ đáng quí, dù họ bán tr… nhưng không bán nước. Hi sinh là hành động đáng quí dù phải làm cái chuyện không tốt đẹp.

Ngừng một chút, Mỹ nói tiếp:

-Họ không là nàng Kiều của Nguyễn Du. Kiều là ăn cắp của người ta, rồi tô son chuốt chữ cho đẹp… mê hoặc lòng người. Không có gì gọi… là sáng tạo. Kiều “bán tr… nuôi miệng”. Đói… thì mất cái đó, đã đành. Không ai dám trách. Nhưng tệ hại nhất là Kiều “bán cả… nước”. Hiếu thảo gì, tình nghĩa gì. Buông xuôi tấm thân như “chiếc bách giữa dòng…” Tư tưởng thấp hèn. Ru ngủ nhiều thế hệ, già trẻ, trí thức bình dân, làm mất ý chí tự cường, quyết tâm tự lập. Ngồi, nằm, đó mà ngâm Kiều, bói Kiều, lẩy Kiều, tán Kiều. Đủ thứ Kiều. Bán trôn… rồi bán đứng… Từ Hải luôn. Lúc đó Từ Hải đã lập riêng một triều đình rồi. Bán Từ Hải là hành động bán nước. Bất trí, ngu si, đần độn, tham lam, sớm Sở, tối Tần. Chỉ biết lấy cái lỗ miệng che mất cái lỗ rốn. Mà người đời… khen đáo để. Chữ nghĩa hoa hoè ru ngủ như… vậy, mới mất nước. Đành rằng chữ Việt còn, nước Việt còn. Nhưng không phải thứ chữ láng lẩy, ủy mị, mà phải là chữ hùng tráng, kiên cường như của Cụ Nguyễn Trải, của Lý thường Kiệt, của Trần Nhân Tông, của Trần Quốc Tuấn, xa hơn nữa như của Bà Triệu, bà Trưng.

-Tôi cũng biết thương hại và tội nghiệp cho những người chị, người em, người con gái phải cam tâm bán tr… nuôi miệng hay nuôi gia đình. Họ có… quyết tâm đáng thương hại. Nhưng tôi cũng chê nàng… Kiều của Nguyễn Du như cô.

-Còn riêng tui. Nếu phải mất… cho anh thì… cho mất luôn. Mất cái gì… cũng được. Mất cho người mình yêu thôi. Chết cũng chịu. Chớ đừng nói đói. Không vì đói, vì ham, mà lòng dạ lang chạ như ai… giống như nhà đại thi hào đó đâu. Lê thì Lê, Nguyễn thì Nguyễn. Không phải là thứ đầu Lê, đít Nguyễn đâu. Hỏng nói giỡn đâu. Nói thiệt đó.

-Ý, không được đâu, đừng nói nhiều quá, động chạm. Nói năng lung tung rồi. Đi ăn cơm rồi về. Bỏ cái vụ… mất mát đó đi. Cho xin lỗi đã hỏi… bậy nghen.

-Ờ thì bỏ cái vụ đó. Nhưng hỏng bỏ cái vụ kia đâu! Cho. Cho hết, mới mắc đền người ta được. Thích mà sợ…

-Thiệt. Dai… quá.

Tôi biết Bội Mỹ giỏi, nhưng không ngờ cô quá giỏi và nhận xét tinh tường về Kiểu của Nguyễn Du, nhất là hiểu rõ tôi. Mỹ nói thêm:

-Ai bảo bồng người ta lên giường, còn hôn nữa. Thương… mà làm bộ bãi bôi. Mà thương tui trước… họ nữa. Ôm… là hốt luôn hồn người ta. Biết hông? Người ta còn con gái, chớ bộ.

-Ờ. Thôi. Để…

-Nhớ nhen. Nhớ nhen. Chịu rồi phải không? Hứa rồi đó nha. Thôi đi ăn. Rồi cho về… Nhớ… họ rồi phải hông?

-Không phải… chịu rồi đâu. Có hứa gì đâu? Tôi có ý nói là… để coi lại.

-Anh định coi lại cái gì? Coi có đẹp bằng người ta không hả? Không có thua đâu! Còn trẻ hơ hớ mà, hổng hơn thì thôi. Mà… định chừng nào coi? Để tui biết. Chọn ngày lành.

-Ý, nói như… thiệt vậy. Đâu phải… ba cái vụ đó đâu?

-Thôi, đừng có giả bộ nữa. Cho… gia hạn đó.

-Thiệt. Hết nói nổi!

Chị Hai về Cà-Mau. Mỹ cũng theo về. Chỉ mấy tuần sau Mỹ đã trở lên Sài-Gòn, mướn nhà ở đường Trần Hưng Đạo ở với em trai và đem một người giúp việc nhà từ Cà-Mau lên. Không biết cách nào mà cô đi dạy Anh ngữ ở Trường Trung học Bác Ái, khá lớn, của ngưởi Trung Hoa ở đường Nguyễn Trãi, gần Chợ Quán. Không lâu sau đó, tôi được Mỹ cho biết, trong ba năm sang Đài Loan, Cô học Hoa ngữ, học Thương mại, có bằng Quản lý Trung cấp ở Đài Bắc. Nhất là Mỹ đã học Anh văn, lấy được bằng cấp Proficiency. Có đủ khả năng dạy Anh ngữ các lớp Trung học Đệ Nhất cấp ở Việt Nam. Mỹ học giỏi từ nhỏ. Tôi không ngạc nhiên khi nghe Mỹ đậu được các cấp bằng đó. Bây giờ Mỹ nói được tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Hoa, đủ để giao dịch với các giới chức nhà nước và khách hàng trong việc thương mại.

Không nghe Mỹ đề cập đến việc làm báo chí nữa. Ngược lại, chỉ mấy tháng sau, thấy cô mở nhà nhập cảng hàng vải và đấu thầu cung cấp vải kaki và văn phòng phẩm cho Quân Đội Quốc Gia. Căn phố một tầng lầu mướn ở Trần Hưng Đạo, gần Sở Cứu Hỏa, trở nên văn phòng xuất nhập cảng. Lầu một, phía trước, hai phòng ngủ là nơi ở của Mỹ và em trai; phía sau là nhà kho. Tầng trệt, phía trước, là tiệm bán dụng cụ, giấy in và văn phòng phẩm đủ loại. Phía trong, làm văn phòng xuất nhập cảng. Mỹ trở thành một bà chủ một cơ sở thương mại ở Sài-gòn, tuy không lớn. Cô thu nạp bốn năm người giúp việc văn phòng, kế toán, lo việc xuất nhập hàng hóa và người bán văn phòng phẩm. Mỹ chỉ mới trên hai mươi mà thật giỏi, khó người trẻ nào bằng, kể cả thanh niên trên dưới ba mươi.

 

Khoảng đầu tháng Ba năm 1954, Mỹ có ý muốn nhờ tôi làm quản lý cơ sở thương mại cho Cô. Tôi không nhận. Nhưng thỉnh thoảng ghé qua văn phòng thăm Mỹ. Đôi khi cùng đi ăn sáng hay ăn trưa với nhau. Không thấy Mỹ nói chuyện… lẩm cẩm yêu đương như những lần trước. Tôi nghĩ chuyện giữa Mỹ và tôi coi như… yên rồi. Chỉ là… bạn học của ngày xưa thôi. Thỉnh thoảng Mỹ hỏi thăm bà… bầu Thái Hân. Cũng không tỏ gì hờn ghen như mấy lần đầu sau khi từ Đài Bắc về. Nhưng tôi lầm.

Tôi không dám nói chuyện về Mỹ với Cô Ba. Thật ra thì tôi thương Cô Ba quá, sợ làm bà bầu của tôi buồn. Cái bầu đã hơn năm tháng rồi.

Tôi đã thuyết phục được Cô Ba dời xuống phòng ngủ lớn tầng trệt. Không dám để Cô lên xuống cầu thang nữa. Sợ nguy hiểm. Nếu Út Hằng và chồng con có về Sài-Gòn, sẽ ở phòng của Cô Ba. Phòng của tôi vẫn giữ nguyên. Nhưng tôi cũng đã di cư xuống… phòng dưới mỗi đêm. Không dám để bà bầu ngủ một mình. Tôi mới biết rằng gian phòng ngủ nầy cũng trang trí giường, tủ, bàn ghế như hai buồng ngủ trên lầu, theo phong cách phương Tây. Rộng. Đẹp. Để chuẩn bị trước cho em bé, Cô Ba đặt đóng một cái nôi cây thật đẹp. Nệm, mùng trắng tinh, chiếc mền nhỏ màu xanh đọt chuối và hai chiếc gối nhỏ xinh xinh.

Ở một góc phòng, tôi còn thấy một chiếc tủ sắt lớn, chứa đựng tiền bạc, nữ trang và giấy tờ quan trọng của gia đình Ba, Má, của Cô Ba. Bây giờ tất cả đều do Cô quản thủ. Thật ra Cô Ba ở phòng ngủ lớn, tầng trệt, mới là chủ nhân của gia đình, danh chính ngôn thuận. Mặc dù tài sản là chung của Hân và Hằng. Gia đình còn có thêm một số điền đất ở miền Tây, có nơi vẫn thu hoa-lợi hằng năm hay vào mùa lúa. Còn phần khác nằm trong vùng Việt Minh kiểm soát, không thu nhập được.

Tôi không biết, không hỏi về tài sản của Cô Ba, trừ những gì nghe Cô nói. Cô Ba cũng sợ làm phiền tôi, nên tự tính toán sổ sách. Tôi cũng không biết gì về công việc làm ăn của Bội Mỹ. Đó không phải là chuyện tôi quan tâm. Tôi chỉ nghĩ, Cô Ba là vợ và Bội Mỹ chỉ là người bạn. Vậy thôi.

Tôi không ngờ, một hôm đến thăm Mỹ, đang ngồi chờ trong văn phòng riêng của Cô, chợt thấy một cô thơ ký đem vào cho tôi một ly café đen. Cô nầy cũng khá đẹp, đang hỏi tôi chuyện gì đó. Bất chợt Bội Mỹ đi dạy về tới, mở cửa phòng bước vào, thấy cô thơ ký đang nói chuyện với tôi. Mỹ nhìn tôi, nhìn ly café đen, bảo cô thơ ký:

-Em mang ly café đen ra. Nhờ em xuống bảo nhà bếp… làm giùm tôi hai ly cam vắt. Từ rày trở đi, ông Dân đến là không mang café đen vào nữa nghe em.

Khi cô gái bước ra ngoài, tôi nghe Bội Mỹ nói:

-Sao, cô thơ ký đó có đẹp không? Bộ thích café đen lắm hả?

-Tôi có thích café đen đâu. Con gái như vậy, coi cũng được?

-Biết lắm mà… Anh đến lâu chưa? Cổ nói gì với anh vậy? Cổ còn… léng phéng một lần nữa là tôi cho… nghỉ việc đó. Mấy lần trước, thấy anh đến là mặt mày tươi rói, đến đỗi mấy người làm chung cũng biết.

-Điệu này, chắc tôi hết dám đến đây nữa.

-Thì… ở nhà… ấp bà bầu đi. Tôi cũng nói trước, ngoài Cô Ba ra, anh đừng có mong hà rứa với ai được nữa đâu. Tui không hiền như cổ đâu.

-Thiệt, chặt không đứt, bứt không rời. Vậy mà tôi tưởng yên rồi. Không phải nhựa, mà dính chặt quá. Còn nước lã mà.

-Tôi có làm gì anh đâu? Để cho yên… với Cô Ba rồi. Giữ giùm cho người ta thôi. Tui được cái gì? Nhưng người đời thường nói “nước lã khuấy nên hồ mà”. Chặt không đứt, bứt không rời, phơi không khô, chụm không cháy, phải hông? Mà không có nước là không xong đâu. Chết khô đó. Tôi bận công việc, chớ đã… bỏ hồi nào đâu, mà người khác mong… xí. Giặc giã lung tung rồi. Bây giờ tôi lo làm cho có tiền để lo cho anh và… con anh, chớ ai vô đây, mà anh không biết.

-Tui có bảo cô làm vậy đâu. Có… gì đâu mà có con. Hay có rồi phải hông? Con ai vậy?

-Anh không bảo tôi cũng phải làm. Con ai… mai mốt biết. Hỏi chi sớm vậy? Nói cho biết, anh đi lính tới nơi rồi. Mấy ông nhà binh làm lớn trong quân đội nói với tôi đó.  Sắp tới, họ động viên thanh niên đi lính hết. Tui nói với họ… anh là chồng tui, làm nhà báo, có một người anh làm sĩ quan trong quân đội. Không biết xin hoãn hay miễn động viên được không? Họ nói Bộ Quốc Phòng sẽ xét từng trường hợp. Không nói chung chung được. Phải chi có hai người anh em ruột đã đi lính, đang tại ngũ, hay đã tử trận, người thứ ba chắc chắn được miễn dịch. Trường hợp của anh không biết ra sao? Tôi đang lo cho anh mà anh không biết gì hết. Lo ôm cái… bầu. Nói đến là… làm giận, làm hờn. Thiệt, không biết tại sao tôi khổ với anh quá vậy.

-Thôi mà, nói riết thành… bà già, không ai dám lấy làm vợ đâu?

-Ờ, phải mà. Người ta ít nói nên còn trẻ mãi, còn được trai tơ mê. Còn tui… làm sao thây kệ tui. Tức quá mà. Nói cái gì ra cũng bị chê. Thương cả chục năm rồi cũng không… đoái hoài tới.

-Tôi bảo thôi. Để bà bầu của tôi… yên được không? Ít nói một chút được không?

Chợt tôi thấy Mỹ khóc.

Khóc nữa. Tôi biết đã… nặng lời với Mỹ. Biết Mỹ khóc chắc nghĩ rằng bị tôi hất hủi. Thiệt, tôi sợ nước mắt các cô hơn sợ cọp, sợ hùm. Hùm beo bắt người, chỉ bắt được cái xác. Nước mắt các cô bắt người bắt cả hồn lẫn xác. Anh hùng, hào kiệt còn phải lụy. Không biết cách nào gỡ cho ra. Không biết Tây Thi ngày xưa khóc đẹp như thế nào, người đẹp Bội Mỹ càng khóc càng đẹp. Tôi cầm lòng không được, thấy tội nghiệp quá, lấy khăn tay chặm nước mắt và ôm đầu Mỹ vào lòng. Cử chỉ thương yêu như một người anh hơn là một người tình.

-Xin lỗi Mỹ, tôi có muốn nói như vậy đâu. Thôi nín đi, rồi đi ăn trưa.

Cô thơ ký bưng một cái khay đựng hai ly cam vắt vào phòng, nhìn thấy tôi ôm cô chủ đang khóc, nhanh nhẹn đặt cái khay xuống bàn và chạy tháo lui thật nhanh. Cô nầy có biết chuyện gì đâu.

Mấy lần sau đến, tôi có cảm tưởng như mấy thầy, mấy cô, trong cửa hàng và văn phòng nhìn tôi và chào hỏi với vẻ nể nang, trân trọng hơn. Cô thơ ký hôm trước chỉ len lén nhìn trộm Mỹ và tôi mỗi khi bưng khay nước cam vắt vào, không dám hé môi nói gì hết mà vẫn bị cô chủ ngó đăm đăm từ khi bước vào cho đến khi bước ra cửa. Tôi nói… cám ơn… thay Mỹ, cũng bị Mỹ liếc xéo.

Lạ một điều là Mỹ không còn đố kỵ với Cô Ba gay gắt như trước. Giờ giấc tôi đi về nhà với Cô Ba, Mỹ biết rõ, cũng không dám làm phiền tôi. Đôi khi còn nhắc nhở để cho tôi về sớm. Sợ Cô Ba ngóng chờ ở ngoài sân, ngoài vườn. Nhất là ban đêm. Có lẽ, Mỹ biết rằng tôi yêu Cô Ba lắm, không thể nào lay chuyển được tôi, nếu động chạm đến Cô. Ngược lại, Mỹ lại tỏ ra ghen tuông với bất cứ người đẹp nào tỏ ra thân thiện khi tiếp xúc với tôi.

Như vậy là Mỹ đã… chịu thua Cô Ba.

 

Thật ra đôi khi tôi cũng nói rõ hoàn cảnh bất hạnh, đáng thương, và sự cô đơn của Cô Ba thời gian trước khi tôi lên Sài-Gòn học. Tôi nói cho Mỹ nghe sự chăm sóc và dạy dỗ tôi của Cô. Tôi cũng nói hết mối tình của Cô và tôi, kể cả việc kết hôn thầm lặng của chúng tôi.

Đôi khi Mỹ cũng bày tỏ sự thán phục Cô Ba đã làm biến đổi một cậu học trò dốt nát như tôi thành một người mà Mỹ hằng mong mỏi chỉ trong một thời gian vượt bậc. Tôi đã thật sự là hiện thân con người trong mộng của Mỹ. Người đó lại do Cô Ba đào tạo. Mỹ đã hiểu rõ tình yêu của tôi dành cho Cô Ba. Vì vậy Mỹ biết không thể làm cách nào xóa bỏ được hình bóng Cô trong tim óc tôi. Bây giờ lại còn sắp có con với tôi nữa. Dù Mỹ có yêu tôi cách mấy cũng đành chịu… lép vế với Cô Ba thôi. Mỹ cũng biết, nếu làm găng với Cô Ba, chỉ chọc cho tôi thêm giận và sẽ xa lánh Mỹ. Vì vậy, Bội Mỹ đã thay đổi hẳn thái độ với Cô Ba và với tôi. Ăn nói dè dặt hơn. Không chanh chua với tôi về Cô Ba nữa. Trái lại tôi đã phải ngạc nhiên về sư thay đổi lớn lao này.

Một buổi tối đi làm về, tôi thấy Mỹ đang ngồi nói chuyện với Cô Ba. Hai người tỏ ra thân mật với nhau. Thấy tôi về, Mỹ dường như thẹn. Xin phép Cô Ba ra về. Đến đêm vào giường, tôi hỏi bà bầu về Bội Mỹ. Mới biết Mỹ đã đến thăm mấy lần, khi tôi vắng nhà, và xin lỗi Cô Ba về câu chuyện trước đó. Mỹ tỏ ra cảm mến Cô Ba và hai người đã tâm sự với nhau, đả thông mọi thắc mắc. Còn kết chị em với nhau nữa. Mỹ yêu cầu Cô Ba đừng nói với tôi chuyện hai người kết thân với nhau. Mỹ còn hứa, nếu Chị Hai lên không kịp nuôi đẻ, Mỹ xin được đến… thế Chị Hai. Để kết luận, Cô Ba nói:

-Tôi thấy Bội Mỹ rất chân thành. Tánh tình rất tốt. Trung hậu. Biết nghe, biết nhận lỗi lầm. Lại rất giỏi và còn… rất mê Cậu. Mai mốt, Cậu có muốn tìm… vợ nữa, tôi không hẹp hòi, nếu Cậu chịu cưới Mỹ. Mỹ trẻ, đẹp, biết phải quấy, biết chị biết em. Còn hơn là Cậu đi tìm người khác. Đâu biết tánh tình họ ra sao? Gia đình đổ vỡ là không được rồi.

Tôi nghe Cô Ba nói, thấy thương quá, an ủi Cô. Cũng nói thật là Mỹ đã có lần tỏ ra muốn… cho không. Nhưng tôi vì thương… vợ quá nên từ chối. Cô Ba có vẻ cảm động, ôm tôi hôn và khóc. Cũng không quên kết luận:

-Thì… có sao đâu. Cậu cũng cần có vợ trẻ như vậy. Cho giống người khác. Tôi không ghen đâu. Miễn đừng bỏ mẹ con tôi mà… biến mất luôn với cô nào nữa là được rồi. Nghe rõ hông? Trai năm thê, bảy thiếp. Nhưng ráng… nhịn bớt, có hai người thôi. Chịu hông?

-Không đâu. Người ta… cưng muốn chết mà. Bỏ qua đi… Mợ Út.

Nói thì nói như vậy, nhưng không biết có phải bà bầu của tôi đang muốn dò la tình cảm của tôi đối với Bội Mỹ hay không? Các bà… ghê lắm. Có đủ cách để… thử người yêu, thử chồng.

Thật ra, tôi không hề quên câu nói của Bội Mỹ trước khi lên đường đi học Trung học, “ráng lên Sài-Gòn học giỏi nghen, mai mốt về em thưởng”. Phần thưởng… bí mật của Mỹ vẫn dành để cho tôi. Nhưng tôi đâu thể nào dám nhận lãnh. Mỹ đã quyết tâm giữ lời hứa ngày xưa là nỗi khổ tâm của tôi.

Tôi biết Bội Mỹ lòng dạ chung thuỷ, nhưng tánh tình bộc trực. Tuy giỏi, nhưng vì tánh khí như vậy, nên thường nói thẳng, dễ mất lòng. Nhiều lần tôi khuyên Mỹ nên giữ gìn tư cách đúng mức của một người chủ có người giúp việc, dù ít, dù nhiều. Ăn nói chững chạc đã đành nhưng phải biết giữ cho lời nói êm tai. Hiểu biết nhiều mà nói ít thì càng quí, đáng nể hơn. Mỹ nghe lời khuyên, nên thay đổi nhiều.

**

Trung tuần tháng Ba năm 1954, chiến tranh đã nổ lớn. Giới thượng lưu, trí thức, kể cả giới trung lưu ở Sài-Gòn đều biết. Riêng giới báo chí biết nhiều, tường tận lắm. Nhưng báo nào dám đăng tiết lộ những tin tức nhạy cảm, báo bị tịch thu, hoặc bị đóng cửa. Tuy vậy, các nhà báo hằng ngày gặp nhau luôn bàn tán về chính trị trong nước, về chiến sự ở Bắc Việt và trên Lào. Tin tức được nhắc đến nhiều nhất là tin về Ông Ngô Đình Diệm được Quốc trưởng Bảo Đại mời về làm Thủ tướng thay thế Hoàng thân Bửu Hội và tin tức về chiến trận ở Lào, ở Điện Biên Phủ, một căn cứ quân sự của quân đội Pháp ở Bắc Việt, giữa biên giới Việt Nam và Lào.

Bội Mỹ tuy thường tiếp xúc với các giới chức quân sự Pháp và Việt Nam về việc cung cấp vật liệu đấu thầu, nhưng không biết nhiều như Cô Ba. Cô Ba đọc báo Pháp, Anh và báo chí trong nước hằng ngày. Nhật báo, tuần báo và nguyệt san, nên có thể phân tích tình hình khá chính xác cho tôi nghe. Vả lại Cô là cô giáo dạy thế giới sử ở các lớp đệ nhị, đệ nhất Trung học chương trình Pháp, nên nghiên cứu chu đáo và nhận định có cơ sở, lý luận chặt chẽ. Đặc biệt, Cô thường tìm hiểu để giải thích những gút mắc của lịch sử thế giới mà không ít người đã bỏ qua, không nêu lên.

Một buổi tối, cuối tháng 3, trong phòng đọc sách, thấy tôi đang lục tìm sách báo viết về chiến tranh Trung Nhật để tìm hiểu về Mao Trạch Đông và Đảng Cộng sản Trung Quốc mà tôi nghĩ là đang yểm trợ cho Việt Minh đang đánh lớn với quân viễn chính Pháp ở Đông Dương, Cô Ba nói:

-Để em kể lại cho mình nghe, khỏi tìm mất công. Chịu không?

-Nếu được vậy thì tốt quá. Cám ơn vợ. Để anh nhờ Dì Năm làm cam vắt uống, mới kể lâu được chớ.

-Thiệt, nói một đêm không hết đâu. Cuộc chiến nầy bắt nguồn sâu xa từ Thế Chiến II và còn xa hơn nữa. Em nói từ từ thôi.

-Chừng nào mình thấy mệt, thì nghĩ.

-Mà nghe rồi… tối ngủ… yên nghe, cho chiến tranh nó thấm, không thì quên hết đó. Mình làm báo phải có kiến thức rộng về tình hình thế giới. Chẳng những thế, còn phải hiểu tường tận về tên bành trướng khổng lồ phương Bắc, luôn luôn là tai họa của đất nước mình.

Theo Cô, thì cuộc chiến ở Việt Nam, đúng hơn ở Đông Dương, là cuộc chiến nóng thu hẹp giữa hai thế lực, Khối Cộng sản Quốc tế và Khối Thế giới Tự do. Cô Giáo nói, gần như tóm lược:

-Sau Thế Chiến II, Staline lãnh đạo Hồng Quân Liên Xô thôn tính các nước Đông Âu, thành lập Khối Đế quốc Cộng sản Quốc tế. Chính Staline đã giúp Đảng Cộng Sản và Hồng Quân Trung Quốc, chiếm trọn lục địa Trung Hoa cuối năm 1949. Rất tiếc, Tổng thống Hoa Kỳ Truman và vị cố vấn, Đại Tướng George Marshall, quyết định bỏ mấy triệu quân Quốc Dân Đảng, người bạn đồng minh trung thành của Hoa Kỳ trong thế chiến, chống Nhật Bản, cho định mệnh của họ.

-Không lẽ Hoa Kỳ bỏ quân của Tưởng Giới Thạch không có lý do?

-Tất nhiên phải có lý do. Đến nay, chưa ai tìm ra được lý do xác đáng nào đó. Nên nó trở thành một bí ẩn của lịch sử. Tháng 12, năm 1945, Tổng thống Truman cử Tướng Marshall sang Trung Hoa như Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền với nhiệm vụ hòa giải giữa khối Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch và Đảng Cộng Sản Trung Quốc của Mao Trạch Đông. Mãi đến tháng 2, năm 1946 Tưởng và Mao mới ký hiệp nghị thành lập Quân Đội Trung Hoa gồm 50 sư đoàn Quốc Dân Đảng và 10 sư đoàn Hồng Quân Cộng Sản. Thực ra Mao được vị đại sứ thường trực Hoa Kỳ, Patrick J. Hurley đưa từ Diên An đến Trùng Khánh gặp Tưởng từ tháng 8 năm 1945, và hai bên đã thoả thuận hợp tác rồi sau gần hai tháng hội đàm.

-Như vậy, Tướng Marshall sang Trung Hoa để hoà giải Tưởng và Mao có phải là thừa hay không?

-Đối với Hoa Kỳ, vai trò của Tướng Marshall ở Trung hoa không thừa mà là “cần thiết”.

-Tại sao?

-Tại vì nhà chiến lược thông thái Marshall thừa biết sự hợp tác Quốc, Cộng, Trung Hoa là không thể thực hiện được. Ông ta đến Trung Hoa với sứ mệnh khác và thực thi sách lược mới của Hoa Kỳ trong giai đoạn đó. Hợp tác Quốc, Cộng đã từng hai lần diễn ra trước đó và mỗi lần kết thúc là một lần đẫm máu. Lần thứ nhất từ năm 1923 đến 1927. Lần thứ hai từ năm 1937 đến năm 1941. Mỗi lần bốn năm, nhưng không bao giờ hợp tác chặt chẽ để chống quân Nhật. Nhất là trong lần hợp tác sau. Các thời điểm của hai lần hợp tác này ít ra cũng có tiêu đề gọi là để kháng chiến chống Nhật. Nhưng lần thứ ba nầy, Nhật đã đầu hàng vô điều kiện rồi. Tại sao Washington kêu gọi hai phe Quốc Cộng Trung Hoa hợp tác, với mục đích gì? Tại sao phải gởi một nhà chiến lược lớn nhất của Hoa Kỳ sang để thực hiện cái điều không tưởng nầy? Các động thái chính trị của Hoa Thịnh Đốn hẳn phải mang một lý do hay một ý nghĩa trọng đại nào đó. Phải không?

-Có thể là… Hoa Kỳ muốn cho lục địa Trung Hoa yên để rảnh tay lo ở các nơi khác.

-Cũng đúng một phần. Nên nhớ, ngay khi Nhật tuyên bố đầu hàng vô điều kiện ngày 10, tháng 8, 1945, Hoa Kỳ đã có năm vạn thuỷ quân lục chiến ở các vị trí chiến lược và mười vạn quân bộ chiến ở các tỉnh phía đông nam Bắc Kinh, không kể những đơn vị không quân và hải quân ở nhiều căn cứ khác. Sau chiến tranh, nhất thiết phải đưa đoàn quân lớn lao gồm hơn hai trăm ngàn người nầy ra khỏi Trung Quốc. Đến khi Nhật đầu hàng, Hoa Kỳ đã tốn hơn 4.4 tỷ mỹ kim cho chiến phí ở Trung Quốc rồi. Mặt khác, nếu chiến tranh Quốc Cộng diễn ra mà Hoa Kỳ phải tiếp tục yểm trợ cho cánh quân to lớn gần ba triệu quân Quốc Dân Đảng đánh nhau với Hồng Quân Cộng Sản thì coi như tiếp tục một cuộc chiến tranh vô lý, quá tốn kém, sau một cuộc đại chiến khốc liệt vừa chấm dứt. Phải đành buông tay, nếu không tìm một giải pháp chính trị ổn thoả nào đó. Giải pháp tốt là hoà giải và hợp tác các lực lượng Quốc Cộng. Nhưng giải pháp tối ưu là bỏ rơi lục địa Trung Hoa rộng lớn, nghèo đói và chia cắt, để đổi lấy một vùng đất đai quan trọng hơn cho lợi ích của Hoa Kỳ và của đồng minh châu Âu.

-Như vậy, không phải bỏ rơi lục địa Trung Hoa một cách vô lý. Mà dùng lục địa nầy như là một phương tiện chính trị chiến lược, phải không? Nhưng bỏ rơi cách nào?

-Trước tiên là Hoa Kỳ bỏ rơi quân đội của Tưởng Giới Thạch. Diễn tiến như sau: Tháng 2, 1946, hiệp ước hợp tác Quốc Cộng chưa ráo mực thì tan rã. Từ cuối tháng 3 đến tháng 6, Tưởng Giới Thạch huy động hơn một triệu sáu trăm ngàn quân tấn công toàn bộ căn cứ của Hồng Quân Cộng Sản, đánh bật họ lên mạn tây bắc Trung Hoa và Mãn Châu, tạo những chiến thắng lớn. Những thành quả nầy làm cho Tướng Marshall có thêm chứng liệu là cuộc hợp tác đã tan vỡ và chiến tranh sẽ khởi động trở thành cuộc nội chiến toàn diện rộng lớn. Đó là lúc ông ta phải hành động. Cuối tháng 6, Marshall ra lệnh cắt toàn bộ viện trợ cho quân Quốc Dân Đảng và Hồng Quân Cộng Sản. Tiếp theo, đến đầu tháng 9, Tướng Marshall ra lệnh cho toàn bộ thuỷ quân lục chiến, các sư đoàn bộ binh, các đơn vị không quân và hải quân Hoa Kỳ rời khỏi lục địa Trung Hoa. Đầu tháng 1, 1947, Marshall tuyên bố không hoàn thành nhiệm vụ ở Trung Hoa, trở về Hoa Thịnh Đốn.

-Như vậy biện pháp của Marshall là cắt viện trợ và rút quân tác chiến Hoa Kỳ ra khỏi lục địa…

-Đúng. Là bỏ rơi đạo quân Quốc Dân Đảng của Tưởng. Để cho họ chiến đấu đơn độc. Còn quân Cộng Sản của Mao đã được Staline yểm trợ đầy đủ. Liên Xô đã giao trọn Mãn Châu cho Mao, còn trao tất cả quân dụng, vũ khí, súng đạn, đại bác, chiến xa và các kho thực phẩm của hơn một triệu quân Nhật thua trận bỏ lại ở đó cho Hồng Quân của Mao. Nghĩa là lực lượng cộng sản của Mao không thiếu một thứ gì để đánh nhau trường kỳ và chiếm ưu thế ngoài mặt trận.

-Tất nhiên quân của Tưởng Giới Thạch phải thua thôi.

-Phải, đúng vậy. Thiếu vũ khí, đạn dược và mọi thứ tiếp liệu khác, kể cả thực phẩm, chỉ trong vòng ba năm, một đạo quân Quốc Dân Đảng lớn lao của Tưởng đã bị đánh tan rã dần. May là chưa bị tiêu diệt. Từ tháng 6, năm 1947, Tưởng Giới Thạch mất hết thành phố này đến thành phố khác. Ngày 30 tháng 9, năm 1949, Mao Trạch Đông thành lập nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Rốt cuộc, tàn quân Quốc Dân Đảng và Chính phủ Dân Quốc, chừng hai triệu người, phải rút ra đảo Đài Loan cuối năm 1949. Tưởng tái thành lập chủ quyền dân chủ trên đảo nầy và các đảo nhỏ gần Đài Loan như Bành Hồ, Kim Môn, Mã Tổ.

-Như vậy Ông Tưởng Giới Thạch mới lập lại chính quyền ở Đài Loan mới có hơn năm năm. Vậy mà tháng 11, năm 1951, chỉ mới hai năm sau, Bội Mỹ dám sang đó du học. Kể cũng gan thiệt.

-Bội Mỹ lúc đó còn nhỏ có biết gì nhiều đâu. Vả lại ngay khi Tưởng rút quân ra Đài Loan, Chính phủ Truman như hồi tĩnh, biết rõ bỏ lục địa Trung Hoa cho Cộng Sản Trung Quốc của Mao là một sai lầm trọng đại về chiến lược toàn cầu, nên đã vớt vát, thay đổi sách lược, quay lại yểm trợ cho Tưởng Giới Thạch thiết lập lại thể chế dân chủ và giúp Đài Loan phát triển mọi mặt nhanh chóng.

-Nhưng một chính phủ với một đạo quân vừa bại trận làm sao phục hồi nhanh chóng cho được? Tôi hỏi.

-Có nhiều yếu tố. Nhưng hai trong số đó được coi là quan trọng nhất. Một là, khi Tưởng rời bỏ lục địa, giới trí thức, các nhà tư tưởng, văn nhân, giáo sư, và các nhà kinh doanh lớn; nói chung là đại đa số những người thuộc tầng lớp cao của xã hội Trung Hoa thời đó, sợ cộng sản, cùng theo Tưởng ra Đài Loan. Hai là, Tưởng đã mang theo toàn bộ kho dự trữ vàng và ngoại tệ của quốc gia, tích trữ sau khi triều đình nhà Thanh sụp đổ. Số nhân lực ưu tú và khối tài sản quốc gia to lớn nầy giúp khôi phục mau lẹ chính thể Trung Hoa Dân Quốc.

-Hèn chi…

Cô Ba thêm:

-Như đã nói, Hoa Kỳ dùng lục địa Trung Hoa để trao đổi với Liên Xô. Đây là giải đáp, cũng là giả thuyết của riêng tôi. Tôi nghĩ rằng, Truman nhà lãnh đạo khối liên minh thế giới tư bản tự do và Staline thủ lãnh khối cộng sản đệ tam quốc tế đã mật ước với nhau về trật tự của một thế giới mới sau chiến tranh. Đến cuối năm 1945, khi Thế chiến thứ II đã hoàn toàn chấm dứt, mật ước nầy bắt đầu được thực hiện và kéo dài trong gần mười năm. Dĩ nhiên, trật tự thế giới mới đó phải bảo đảm sự an toàn cho các nước Tây Âu và Nam Âu, kể cả Thổ Nhi kỳ, cửa ngõ của Trung Cận Đông.

Cô Ba dừng lại, đến kệ chứa bản đồ, chọn ra hai bản đồ Âu Châu và Á Châu rồi để trên chiếc bàn lớn giữa phòng đọc sách

Trước tiên, Cô trải rộng bản đồ Châu Âu và chỉ vào hai nước Áo và Nam Tư cùng có chung biên giới, còn để trắng, nằm phía dưới Tây Đức màu xanh lá cây, rồi đến Đông Đức. Nếu tính từ biển Baltic ở phía bắc chạy dài xuống phía nam là các nước Đông Đức, Ba Lan, Tiệp Khắc, Hung Gia Lợi, Lỗ Ma Ní và Bảo Gia Lợi. Sáu nước nầy đã bị Liên Xô nhuộm đỏ bởi các chính phủ cộng sản bản địa do Liên Xô trực tiếp dựng nên và kiểm soát chặt chẽ với Hồng Quân Liên Xô chiếm đóng. Trong đó có Bảo Gia Lợi cùng chung biên giới với Hy Lạp ở đông nam Âu châu.

Cô nói:

-Cậu nhìn cho kỹ xem. Phía bắc của biển Baltic là ba nước, như một chùm ba trái dưa leo, tính từ trái sang phải là Na Uy, Thuỵ Điển và Phần Lan. Hai nước sau trung lập, nhưng một phần lãnh thổ Phần Lan cạnh biên giới Nga bị Liên Xô chiếm. Cửa ngõ thông biển Baltic ra Biển Bắc là Đan Mạch. Nếu bốn nước nầy bị Hồng Quân Liên Xô thôn tính thì Đế quốc Liên Xô sẽ kiểm soát toàn diện vùng Biển Bắc và Bắc Âu. Trực tiếp đe dọa Anh ngoài biển khơi, và các nước ven biển Đại Tây Dương như Hà Lan, Bỉ, Tây Đức, và Pháp, Bồ Đào Nha. Còn các nước ở Nam Âu châu là Ý và Hy Lạp, kể cả Thổ Nhi Kỳ, cũng sẽ rơi vào tay Staline nếu Hoa Kỳ và đồng minh Anh, Pháp bỏ rơi Áo và Nam Tư.

-Như vậy, Hoa Kỳ và các đồng minh Anh, Pháp, phải giữ an toàn cho các quốc gia tự do từ biển Baltic, xuống bờ đông Đại Tây Dương và cả các nước trên bờ bắc Địa Trung Hải.

-Phải, cậu đã nhận thấy vấn đề trọng yếu nầy rồi. Vậy, mình tạm dừng ở đây, tối mai nói tiếp nghen.

-Được rồi. Thôi, đừng xuống lầu nữa. Mình ngủ đêm nay ở phòng cũ trên nầy đi. Để nói với Dì Năm nướng bánh mì cho mình chấm sữa. Ăn rồi ngủ, nghen. Hay muốn ăn mì đêm.

-Em muốn ăn mì hoành thánh, uống sữa. Nhớ nói với Dì Năm đem bình thuỷ nước nóng lên nha.

-Nhớ chớ. Mình đợi một chút. Tôi xuống nói với Dì Năm gọi gánh mì bán đêm tới. Tôi cũng muốn ăn nữa.

Ăn mì xong, Cô Ba và tôi còn đứng gần lan-can trên sân thượng, nhìn sang gánh mì bên kia đường. Chú Chệt, chủ gánh mì, bắt đầu gõ mõ rao đêm như mọi khi. Nhưng lần nầy, sau khi đánh xong một chập mõ, chú Chệt để mõ để dùi xuống mặt chiếc ghế xếp, đứng dậy múa một bài quyền và cất tiếng hát, giọng buồn bã, ta thán, lanh lảnh trong đêm trường tĩnh mịch. Giọng ca tiếng Quảng Đông ai oán dường như nói lên tiếng lòng ray rức… tình hoài hương da diết, miên man của Chú.

Cô Ba thở dài, nói:

-Chú Chệt nầy biết đâu không phải nạn nhân của cuộc nội chiến Trung Hoa hay cuộc cách mệnh lật đổ Nhà Thanh của Tôn Dật Tiên. Biết đâu ông ta không là một tướng lãnh hay võ quan của một cánh quân Trung Hoa nào đó, thất lạc rồi… tha hương cầu thực. Ôi chiến tranh biển dâu   làm vật đổi sao dời và lòng người còn mang mang nỗi hận…

**

Ngày kế tiếp, sau buổi cơm tối, Cô Ba và tôi lên phòng đọc sách. Tôi cẩn thận dặn Dì Năm canh chừng lối một tiếng thì mang nước chanh hoặc nước cam lên để Cô Ba giải khát và nấu chè đậu đỏ hoặc đậu xanh để ăn trước khi đi ngủ. Vừa nói xong đã nghe tiếng chuông gọi cửa reo. Thì ra người khách chập tối đó là Bội Mỹ. Cô Ba nói với Dì Năm mời khách lên phòng đọc sách và đem nước giải khát lên. Bội Mỹ chỉ đến thăm Cô Ba, nhưng cũng có lẽ là đến… thăm chừng tôi, vì mấy ngày qua tôi bận rộn không ghé văn phòng Mỹ. Mỹ cho biết đã cơm nước xong, chỉ đến thăm nói chuyện phiếm với Cô Ba thôi. Không có chuyện gì quan trọng.

 

Lần đầu tiên, Mỹ mới nhìn rõ bên trong nội thất trí tuệ của gia đình Cô Ba. Phòng đọc sách đẹp đẽ, tiện nghi, ấm cúng với cả mấy trăm bộ sách trên tầng lầu làm Mỹ ngạc  nhiên. Tôi nói với Mỹ hôm nay Cô Ba nói tiếp cho tôi nghe tình hình thế giới liên quan, hay gây ảnh hưởng lớn đến chiến tranh đang diễn ra ở Việt Nam và ở Lào.

Cô Ba hỏi Mỹ:

-Em có muốn nghe chị kể chuyện tam quốc trên thế giới hiện nay hay muốn chị em mình tâm sự riêng, thì… chị nói với Út đi dạo mát ở đâu đó đi, để yên cho mình nói thoải mái hơn. Chịu không?

-Thôi Chị Ba. Chị kể chuyện đi, em nghe… ké. Đừng để ảnh đi đêm một mình, nhỡ bị lạc vào động thiên thai nào đó, họ bắt mất. Phải coi chừng nghe Chị Ba.

-Vậy cũng được. Mai mốt chị… ủy thác Út cho em. Được hông? Có ý kiến gì không?

-Ý. Thôi, không được đâu. Ảnh dữ với em lắm. Như cọp vậy. Ảnh xé xác em lúc nào không hay. Em đâu dám.

-Đâu có, tui hiền khô mà. Hỏi Cô Ba coi.

Cô Ba chỉ cười. Mỹ nói tiếp.

-Chị coi. Ảnh làm bộ hiền hiền vậy, tưởng lù khù ai ngờ… vác cái lu mà chạy, gọn hơ.

Nói xong, hình như Mỹ biết mình nói hớ, len lén nhìn Cô Ba. Hân giả bộ làm ngơ không nghe câu nói nầy của Bội Mỹ. Tôi nói:

-Thôi đi cô Mỹ. Uống nước đi. Rồi nghe Cô Ba kể tiếp. Còn khúc đầu để nói lại sau. Hay để viết báo xong rồi, tôi đưa cho coi sau.

Cô Ba chen vào:

-Không sao. Mỹ cứ nghe tôi kể rồi sẽ hiểu rõ đầu đuôi mà.

-Vậy thì Chị Ba bắt đầu đi. Mỹ nói.

Cô Ba uống một ngụm nước chanh rồi nói:

-Tôi dạy thế giới sử cận đại. Dạy môn sử phải nghiên cứu cả địa lý, chính trị, quân sự, kinh tế và sự phát triển xã hội, chế độ chính trị của các sắc dân tộc từng quốc gia và nhiều yếu tố khác nữa, ở từng vùng trên các châu lục. Quan tâm nhất là các cường quốc có khả năng tạo chiến tranh hay hoà bình. Riêng tôi, tôi muốn tìm hiểu thêm về nước Tàu, vì bất kỳ thời đại nào, Trung Quốc cũng muốn thôn tính Việt Nam. Bất cứ ai có lòng, trong mỗi thế hệ, cũng phải tìm hiểu kẻ thù truyền kiếp nầy mới mong giữ được nước.

-Dĩ nhiên. Em đồng ý với Chị Ba. Mỹ nói.

-Thật ra là đàn bà mà học các môn nầy đã khó rồi huống chi nói đến  nghiên cứu chuyện đông tây, kim cổ và đứng lớp dạy cho học trò, thiệt là khóc khăn lắm. Tránh sao khỏi nhầm lẫn và có rất nhiều sơ sót. May mắn là tôi đã đọc được những tài liệu quan trọng về môn học mới là địa lý chính trị, giới chính trị và quân sự gọi là geopolitics. Nếu hiểu biết sâu rộng về các vùng địa lý chính trị của thế giới thì có thể phân tích được vì sao có chiến tranh và quan trọng hơn là dự đoán được ở mỗi giai đoạn của lịch sử nhân loại ở đâu sẽ có chiến tranh, ở đâu sẽ hưởng hoà bình.

Bội Mỹ mở tròn đôi mắt ngạc nhiên, hỏi:

-Thiệt sao Chị Ba. Mà đó là môn học… tiên tri khoa học về chiến tranh và hoà bình phải không? Hay quá. Em muốn nghe lắm.

-Thật ra, môn tiên tri khoa học nầy chỉ có những chiến lược gia đại tài

mới nắm bắt được. Thí dụ như ngày xưa, nếu Bội Mỹ và Cậu Út có đọc truyện Tàu, tất đã biết, hơn ba trăm năm trước Công nguyên, nhà Tần, là một nước mạnh thời Chiến Quốc, muốn gồm thâu sáu nước khác ở trung nguyên, đã thấy xuất hiện ba chiến lược gia, cũng là những thuyết khách thuộc phái “Tung Hoành Gia” nổi tiếng là Trương Nghi, Công Tôn Diễn và Tô Tần. Họ là những người nắm vững quan niệm sử dụng địa thế vào sách lược chính trị và quân sự, đem kiến thức đó du thuyết vua của bảy nước Tần, Yên, Tề, Triệu, Nguỵ, Hàn, Sở. về cái thế “hoà và chiến”, ở một phần đất ở phía bắc sông Hoàng Hà đến phía nam sông Dương Tử, hay Trường Giang, của lục địa Trung Hoa ngày nay.

Tôi chen vào, hỏi Cô Ba:

-Có phải đó là các sách lược Hợp Tung và Liên Hoành hay không? Không biết tại sao, người đời sau chỉ biết có Trương Nghi và Tô Tần mà ít người nói đến Công Tôn Diễn, hả mình?

Tôi vô tình, phát ra chữ “mình” không hợp lúc, nên thấy Bội Mỹ liếc xéo. Cô Ba cũng nhìn thấy, nhưng mỉm cười, trả lời:

-Phải rồi. Tôi sẽ nói từ từ. Nên nhớ, ở thời đó người Trung Hoa chưa biết trái đất hình cầu, mà cứ tưởng là một mặt phẳng vô tận. Các đấng tung hoành gia này cũng vậy thôi. Nhưng họ biết tung là chiều dọc, từ bắc xuống nam; hoành là chiều ngang từ tây sang đông. Nước Tần ở miền rừng núi tây bắc, vùng Thiểm Tây ngày nay, nước Yên ở phia đông bắc tỉnh Hà Bắc lên tới Đông Tam Tỉnh, tiếp đến là nước Tề vùng Hà Bắc, Sơn Đông ngày nay. Đây là hai nước trên ven biển. Ba nước Triệu, Nguỵ, Hàn, thoát thân từ nước Tấn, nằm ở trung ương. Phía nam là nước Sở là nước có lãnh thổ lớn nhất, từ nội địa bắc, nam Trường Giang ra tận biển Đông. Trong bảy nước đó, ba nước mạnh là Tần, Tề và Sở. Trương Nghi, người nước Ngụy, đem sách lược “Liên Hoành” thuyết cho vua Tần Huệ Văn Vương, nên kết thân với các nước theo chiều ngang, gọi là liên hoành. Kỳ thật là liên kết với nước xa đánh nước gần, hay là chiến thuật “viễn giao cận công”. Khi thì kết thân với nước Sở đánh Nguỵ, là nước gần nhất. Khi thì kết thân với Tề đánh Triệu, là nước phía bắc nước Nguỵ. Sách lược mềm dẻo. Tần, khi áp dụng sách lược nầy luôn luôn chiếm ưu thế, uy hiếp các nước khác.  Một chiến lược gia đồng thời là Công Tôn Diễn, cũng người nước Nguỵ, đưa ra sách lược “Hợp Tung” thuyết vua Nguỵ nên lập liên minh các nước từ bắc xuống nam theo chiều dọc để chống quân Tần. Hợp tung lần thứ nhất gồm Nguỵ, Hàn, Triệu, Yên và Tề, năm 319-TCN tấn công vào lãnh thổ Tần. Một, hai năm sau đó, liên minh hợp tung lần thứ hai gồm Nguỵ, Triệu, Yên, Hàn và Sở cũng tấn công nước Tần. Công Tôn Diễn hai lần được phong làm Tướng quốc của năm nước. Cả hai lần tấn công nầy đều bị thua lớn, nên hợp tung của vị tướng quốc đầu tiên của năm nước nầy tan rã năm 316-TCN.

-Nghe Chị Ba nói, em mới nhớ lại. Năm em học hết lớp Tiếp liên. Ở nhà giúp má bán vàng ở Cà-Mau, lúc rổi rảnh em đọc gần hết các bộ truyện Tàu. Hết Đông Châu Liệt Quốc, thời Thời Xuân Thu, rồi Thời Chiến Quốc, Hán Sở Tranh Hùng, Tam Quốc Chí, Thiết Đường và còn nhiều nữa. Rồi, đến năm mười tám, mười chín, bị… thất tình, em bỏ hết, quên hết, quên luôn. Bây giờ nghe Chị Ba nói, em nhớ lại chút chút rồi.

-Có đúng không đó? Có phải nghe chị nói mới nhớ, hay đã gặp lại người yêu, hết thất tình, rồi nhớ lại… hết chớ gì? Thì dĩ vãng có buồn chút chút, hiện tại mới vui, và tương lai còn vui hơn nữa. Phải không?

-Thôi mà Chị Ba, chọc quê em hoài. Nói nữa đi…

Tôi cười. Cô Ba nói tiếp:

-Nước Tần, dùng pháp chính để trị dân. Chế độ hà khắc, các nước khác cho là man rợ. Nhưng Tần có quân đội hùng mạnh, thiện chiến. Các vua tiếp theo Tần Huệ Văn Vương vẫn không tử bỏ tham vọng thôn tính sáu nước kia, vẫn áp dụng sách lược của Trương Nghi mặc dù ông này đã chết năm 309-TCN. Hơn ba mươi năm sau, một chiến lược gia khác là Tô Tần lại mang sách lược “Hợp Tung” của Công Tôn Diễn, đi du thuyết sáu nước trung nguyên, cũng chỉ để kết liên minh hợp tung chống lại nước Tần. Tô Tần lại được vua các nước Yên, Tề, Nguỵ, Triệu, Hàn phong làm Tướng quốc của năm nước này trong liên minh hợp tung năm 287-TCN đó. Tô Tần giữ hoà bình được mười lăm năm. Sách lược Hợp Tung, thật ra rất cứng ngắt, nên không bền vững, vì các thế lực trong liên minh va chạm nhau về nhiều mặt, nhất là về lãnh thổ; phần khác các triều thần của các nước ganh tị. Cuối cùng, Tô Tần bị bãi chức, liên minh hợp tung tan rã lần nữa. Ít lâu sau Tô Tần bị ám sát chết.

-Có lẽ Tô Tần điền khuyết sách lược hợp tung cũ trở thành một thuyết liên minh rộng lớn hơn, chặt chẽ hơn, nên người đời sau chỉ nói đến Tô Tần, mà không ai biết Công Tôn Diễn chớ gì? Tôi nói thêm.

Bội Mỹ chen vào:

-Anh Út cứ phá đám hoài. Để Chị Ba nói nghe hay hơn. Anh chỉ… giỏi hơn em thôi. Thì đến bây giờ em mới vỡ lẽ ra là mình đã lầm lẫn, vẫn tưởng Tô Tần là người đồng thời, và là bạn học cùng một thầy với Trương Nghi.

Cô Ba lại hớp thêm ngụm nước chanh rồi nói tiếp:

-Cho rằng Tô Tần là bạn học của Trương Nghi là không đúng. Nếu nói họ có một người thầy chung thì đúng hơn. Nhưng không phải hai ông này là người đồng thời, mà cách nhau gần hai thế hệ. Đây là một sự nhầm lẫn lịch sử, kể cả những sử gia sau này cũng lầm. Sách lược “Hợp Tung” của Công Tôn Diễn và Tô Tần, nói chung, đều thất bại. Vì hơn bốn mươi năm sau khi Tô Tần bị ám sát chết, Thái tử Doanh Chính nối ngôi Tần Trang Tương Vương năm 247-TCN, tiếp tục sách lược “Liên Hoành” của Trương Nghi, với tướng giỏi, quân mạnh, gồm thâu được lục quốc, thống nhất nước Tàu. Tần Vương Chính chiếm nước Hàn năm 230-TCN, nước Nguỵ năm 225-TCN, nước Sở năm 223-TCN, hai nước Triệu và Yên năm 222, và nước Tề năm 221-TCN.

-À, ông vua này xưng là Tần Thuỷ Hoàng. Ông này ép cha ruột là Lã Bất Vi tự tử và đày mẹ, phải không Chị Ba? Bội Mỹ hỏi.

-Thì, ai có đọc truyện Tây Hớn Chí đều biết như em vậy. Nhưng đây  là một nhầm lẫn khác của lịch sử, như Tư Mã Thiến đời sau viết. Thật ra, Trang Tương Vương, khi còn gọi là Dị Nhân, con của Thái tử Doanh Trụ nước Tần, bị đưa sang nước Triệu làm con tin, vua Triệu bạc đãi, nhưng may mắn được thương buôn Lã Bất Vi, giàu có, dùng tiền đầu cơ chính trị, cung phụng mọi thứ, còn đem người thiếp là Triệu Cơ dâng cho. Mười hai tháng sau khi lấy Dị Nhân, Triệu Cơ mới sinh ra Triệu Chính, sau gọi là Doanh Chính. Vậy, Chính là con của Dị Nhân.

-À, ra là vậy. Mỹ nói.

-Khi Dị Nhân về nước được đổi tên là Tử Sở, được phong thái tử, rồi nối ngôi, tức Trang Tương Vương. Vương phong Doanh Chính làm Thái tử, lập Triệu Cơ làm Vương hậu. Để trả ơn cho Lã Bất Vi, Vương phong cho làm Thừa Tướng, tước hầu. Lên ngôi được mấy ngày Vương chết, Doanh Chính nối ngôi lúc mới mười ba tuổi, gọi là Tần Vương Chính. Triệu Cơ, lúc đó là thái hậu, và Lã Bất Vi lại tư thông với nhau. Ít lâu sau, họ Lã dâng Lao Ái dâm loạn với Triệu Cơ, có hai con. Chuyện Tần Vương Chính sau đó tru di tam tộc Lao Ái, bức tử Lã Bất Vi, đày mẹ và giết hai con riêng của bà, ai cũng biết. Câu chuyện này hiếm có, nên thiên hạ đời sau đã thêm thắt cho lâm ly mà mục đích là làm tăng tội ác của Tần Vương Chính lên cho nhiều hơn. Nhưng chuyện này không liên quan gì đến sách lược hợp tung, liên hoành, mà tôi muốn nói. Thật ra, ông vua Tần nầy rất giỏi. Giỏi nhất trong lịch sử vua chúa của Trung Quốc. Nhưng nếu câu chuyện hợp tung liên hoành kết thúc khi Tần Thuỷ Hoàng thống nhất Trung Quốc, thì chị kể lại làm chi.

-Xin lỗi Chị Ba, em hỏi chuyện lạc đề. Bội Mỹ nói.

-Không sao. Cũng nói thêm cho biết. Đọc sử cũng thấy lắm chuyện bắt phải suy gẫm. Làm cô giáo thì phải tìm thêm cho biết rõ hơn.

-Ủa, vậy còn chuyện gì dây dưa nữa sao chị Ba? Bội Mỹ hỏi tiếp.

-Còn. Hơn hai ngàn năm sau, các học thuyết chính trị, quân sự “Hợp tung, Liên Hoành” của Tô Tần và Trương Nghi đã được các chính trị gia, chiến lược gia, tướng lãnh phương Tây nghiên cứu và biến cải thành những liên minh chính trị và quân sự, lẫn kinh tế, rộng lớn và hiệu quả hơn để ổn định trật tự thế giới và tạo hoà bình cho nhân loại. Quan niệm về môn học địa lý thế giới liên quan đến cục diện chung của địa cầu cũng được các nhà địa lý chính trị khai triển, nghiên cứu và phân tích rõ ràng, giúp thêm cho các chiến lược gia các nước mạnh hoạch định chính sách toàn cầu của họ. Và nếu các sách lược mới, học thuyết mới này không liên quan đến Việt Nam, chị cũng không nói, rườm tai, mất thì giờ vô ích.

-Ý, thiệt vậy sao Chị Ba. Hay quá anh Út ơi. Em nghe Chị Ba nói, mê Chị luôn. Mê thiệt. Hèn chi…

-Thôi mà Mỹ, ngồi im nghe, có được không? Phát biểu lởm cởm nữa bây giờ.

-Chị Ba coi, anh Út ăn hiếp em hoài. Vừa mở miệng ra chưa biết em muốn nói gì, là ảnh cúp luôn, không cho nói nữa. Thôi để em về, để ảnh nghe một mình đi. Không ai cãi cọ làm phiền Chị Ba nữa.

-Khoan, để nói Dì Năm đem chè lên ăn, rồì Út chở về. Con gái không đi đêm một mình. Mai, em đến sớm ăn cơm tối, chị mời. Xong mình nói tiếp. Chịu không?

-Ảnh không chịu chở em về đâu.

-Út chịu mà. Phải không Út? Thôi nhờ… cậu nói với Dì Năm cho ăn chè đi, để Mỹ về cho sớm. Gần khuya rồi.

**

Ngày hôm sau, thành phố vừa lên đèn đã thấy Bội Mỹ đi xích-lô tới. Sau buổi cơm tối, Cô Ba, Bội Mỹ và tôi lại lên phòng đọc sách. Bội Mỹ nhanh nhẩu kéo ghế mời Cô Ba ngồi và tự động ngồi xuống cạnh Cô Ba, không cho tôi ngồi cạnh Cô như đêm trước. Tôi nghĩ đây là thứ… ghen ngầm của Bội Mỹ, lẽ nào Cô Ba không biết. Cô cũng chỉ mỉm  cười. Tôi hơi tức tức, nhưng cũng đành sang ngồi bên kia bàn đối diện với Cô Ba. Khi đã ngồi vào chỗ rồi, bấy giờ Bội Mỹ mới thấy là mình dại. Nhấp nha nhấp nhỏm, nhưng không dám thay chỗ ngồi. Vì ngồi như vậy, tự Mỹ thấy tôi là nhân vật chính, hay thính giả chính, còn cô chỉ là người phụ thính. Cô Ba hình như cũng biết rõ ý nghĩ của Bội Mỹ. Nên khi Dì Năm đem ba ly nước chanh vào, Cô Ba nhân cơ hội này bước lại bàn rửa mặt, rửa tay. Xong, Cô đi vòng qua chiếc bàn dài, kéo ghế ngồi cạnh tôi, đối diện với Bội Mỹ. Không hiểu Bội Mỹ nghĩ gì, chỉ thấy cô nhìn tôi… với đôi mắt buồn buồn. Thật khó mà dò được sự thay đổi tâm lý của các cô gái đang ghen… khi biết rằng người khác đã làm chủ trái tim của người mình yêu. Cô Ba như thông cảm, mở lời:

-Chị định nói với Cậu Út đến nhà chở em, ai ngờ em đến sớm.

-Cám ơn Chị Ba. Nhưng như vậy sợ làm phiền Anh Út, nên em tự động đi đến cho ảnh yên thân. Hồi đêm qua chở em về, coi bộ ảnh quạu đeo. Không nói với em tiếng nào hết. Em sợ, chỉ biết ngồi mà nắm chặt yên ghế vespa, sợ té mà không dám động đến ảnh.

Cô Ba xoay qua nhìn tôi, nói:

-Có không Cậu Út? Đàn ông con trai gì mà hổng galant chút nào hết vậy. Nầy Mỹ, tối nay, Út chở em về, em… ôm Út cho chặt, thử coi sao. Coi có dám than phiền không?

Bây giờ thì đến tôi cũng không biết Cô Ba đang nghĩ gì đây? Hay cũng là một cách nói… ghen. Thật là các bà, các cô, khó hiểu quá. Nghĩ cho cùng là đàn ông, con trai… ngu hơn các bà các cô trong việc phán đoán về tình yêu. Chỉ biết hùng hục xông tới. Không sành tâm lý phụ nữ chắc có ngày… nằm chèo queo. Chừng đó mới biết thân. Chợt, tôi nghe Bội Mỹ nói:

-Em không dám đâu Chị Ba. Ảnh chê em… hôi mùi nhà quê. Ôm ảnh ảnh xô xuống xe, chắc là… từ chết tới bị thương.

-Không có đâu em. Út thích… mùi thơm con gái lắm đó. Phải không Út?

-Thôi mà, mấy bà nói chuyện vòng vo. Khó hiểu quá. Bắt đầu… kể tiếp đi mà… Cô Ba. Tôi cắt đứt câu chuyện của Cô Ba và Bội Mỹ.

-Mà tới đâu rồi? Cô Ba hỏi.

Mỹ nhắc:

-Tới chỗ mấy nhà chiến lược thời nay nghiên cứu lại sách lược của các tung hoành gia thời Chiến Quốc đó.

-À, chị nhớ rồi. Nhưng để chị nói thêm mấy điềm quan trọng này. Các học giả cận đại nghiên cứu về Tần Thuỷ Hoàng tiết lộ rằng khi Tần Vương Chính chiếm xong nước Tề ở vùng tỉnh Sơn Đông ngày nay, kéo quân đến tận biển Đông, chính Vương đã lội xuống bãi biển và tiến xuống nước, khuấy động tung tóe nước, cười to và thét lớn cùng biển cả như bộc lộ sự mừng rỡ đã thỏa mộng đông chinh. Hàng nghìn binh lính nhà Tần, cũng theo vua Tần, mang cả y giáp lội xuống bãi biển tung hô nhà vua và thoả thích vui đùa với biển nước bao la.

Cô Ba dừng lại, hớp một hớp nước chanh rồi nói tiếp:

-Một câu chuyện đồn đãi khác ở cố đô Ung Thành của nhà Tần, phía tây Hàm Dương, là có hàng nghìn ngôi mộ của dân chúng ở đó, kể cả mười tám ngôi cổ mộ của các vua Nhà Tần, trước Tần Thuỷ Hoàng, đều quay đầu về hướng đông, khi chôn. Hướng đông là hướng đi ra biển. Kết hợp hai câu chuyện này, các sử gia, học giả hiện đại cho rằng “tâm lý chung của dân chúng miền đất nước không có biển, thường là muốn tiến về hướng vùng đồng bằng miền biển để an cư lập nghiệp”. Hướng ra vùng bình nguyên của biển là tâm lý chung không riêng của nước Tần mà của cả các nước mạnh ở Châu Âu sau này, như Nga và Đức trước đây và hiện nay. Họ không quên cho rằng chính sách bành trướng của người Tàu hay đúng ra là sắc tộc Hoa Hạ, ở phía tây bắc sông Hoàng Hà, chính ra xuất phát từ đời nhà Tần, mặc dù trước đó nhà Chu đã chuyển đô sang hướng đông, mới gọi là nhà Đông Chu từ mấy trăm năm trước thời Chiến Quốc. Tâm lý tiến về hướng biển là tâm lý chung của người Hoa Hạ. Tần Thuỷ Hoàng đã ra tận biển. Câu hỏi đặt ra là nhà Tần ra đến biển Đông rồi, họ sẽ tiến về đâu nữa?

-Dĩ nhiên họ sẽ tràn lên phương bắc và tiến xuống phương nam mà thôi! Bội Mỹ trả lời, nếu họ chưa đủ sức mạnh tấn công biển để ra khơi.

-Câu trả lời của em đúng. Mặc dù, lúc đó Tần Thuỷ Hoàng chưa đủ sức tràn lên phương bắc, nên đã tu bổ và cho đắp thêm các thành quách cũ của các nước Yên và Triệu, trở thành Vạn Lý Trường Thành để chống các nước Kim, Liêu và Mông Cổ là các nước mạnh phương bắc. Nhưng một ngày họ sẽ vượt trường thành để tiến lên mạn bắc mà thôi. Nhưng thôi mình tạm biết và dừng lại ở đây về tâm lý người Tàu và những cuộc trường chinh của họ. Để tôi nói tiếp về các học giả địa lý hiện đại đã dựa trên khinh nghiệm thời chiến quốc mà lập thuyết trong thế kỷ này mà tôi vừa mới nói sơ qua ở trên.

-Đây là câu chuyện em muốn nghe nhất đó Chị Ba.

-Các nhà học giả hiện đại, nghiên cứu về sách lược và tâm lý của vua, quan, quân, tướng nhà Tần trong thời Chiến Quốc đã phát minh nên khoa địa lý chính trị, bao gồm cả địa thế có ích lợi trên phương diện chiến tranh, và tâm lý dân tộc cũng là nguyên nhân gây ra chiến tranh. Tâm lý sâu xa nhất là “tiến ra biển”. Thế giới đi tìm “nước”, rồi mới đến “thực phẩm,” sau đó mới tới “vàng” và các thứ khác để cung phụng cho cuộc sống, “ăn no, mặc đẹp, hưởng thụ và khoe khoan.”

-Phải rồi. Em hiểu ra rồi, Chị Ba! Bội Mỹ buột miệng nói.

Một ý nghĩ chợt loé sáng trong đầu tôi. Tôi nói:

-Tôi nghĩ con người tìm xuống các vùng bình nguyên giáp biển là muốn tự tạo ra lương thực để sống. Muốn tạo ra thực phẩm, phải khai thác đất đai để trồng trọt hoa màu. Biển lớn sẽ cho mưa nhiều, nước ngọt. Nước mang lại sự tươi nhuận và mầu mỡ cho đất đai. Nước là nguồn sống của con người. Loài người tự làm ra lương thực mà ăn. Còn loài muông thú chỉ biết ăn mà không biết tạo ra thức ăn. Giống hiền lành thì ăn trái cây rừng, ăn cây cỏ, giống có nanh vuốt thì săn đuổi nhau, xâu xé nhau, ăn tươi nuốt sống lẫn nhau. Mạnh thì sống mống thì chết mất xác. Cũng như trong biển lớn, cá lớn nuốt cá nhỏ vậy mà.

-Phải, đó là sự khác nhau giữa loài người và muông thú.  Nhưng đây là vấn đề hết sức rộng lớn gồm nhiều mặt, về ý thức hệ và thực tiễn hóa công cuộc tạo thành xã hội loài người, về hợp đồng nhân loại hai mặt “cuộc sống và con người”. Trên hết,  kinh tế chi phối đời sống của loài người, đưa đến sự phân hóa những chủ thuyết và thể chế chính trí hiện đại, không phải là đề tài chúng ta muốn nói đến hôm nay. Tôi chỉ muốn nói đến một khía cạnh khoa học địa lý để tránh cho loài người tránh xâu xé nhau. Các nhà địa lý chính trị, geopoliticians, dựa vào việc nghiên cứu lịch sử để phát minh ra phương thức giúp các lãnh tụ chính trị thế giới tránh chiến tranh. Tức là họ mang tư tưởng tìm cho ra phương thức tránh cho con người biến thành muông thú, bớt xâu xé lẫn nhau. Tránh cho sinh linh bớt đồ thán, bớt chết chóc. Tránh tận diệt nhau.

-Họ tìm ra phương thức gì vậy Chị Ba? Bội Mỹ hỏi.

Cô Ba hớp một hớp nước chanh, rồi nói tiếp:

-Tôi nói xong Bội Mỹ và Cậu Út sẽ tự tìm ra giải đáp hay các phương thức đó. Trước hết, tôi muốn hỏi Bội Mỹ và Cậu Út hiểu thế nào về môn khoa học địa lý?

Không ai trả lời câu hỏi nầy vì Mỹ và tôi đều bỡ ngỡ. Thật ra, tôi học nhảy lớp để thi cho đậu, nên trong đầu còn nhiều lỗ hổng, không hiểu môn học nào đến nơi đến chốn. Tôi cũng hiểu Bội Mỹ chỉ hiểu được chút ít môn địa dư về địa thế nước Việt Nam bậc tiểu học. Làm sao trả lời được câu hỏi bất chợt nầy của Cô Ba.

-Thôi, để tôi nói, môn khoa học địa lý gồm các mặt rộng lớn về địa cầu cả ba chiều. Chiều cao là không gian. Chiều rộng là mặt nổi của hình thể thế giới, núi non, sông biển. Và chiều sâu là kết tầng địa chất. Người xưa thường nói, những bậc thánh hiền trên thông thiên văn dưới đạt địa lý. Vậy, địa lý và không gian có liên hệ hữu cơ với nhau. Xét về phương diện này thì quả thật người Trung Hoa ngày xưa thua xa các bậc hiền triết phương Tây, kể cả các bậc hiền triết Ấn Độ, phương Đông. Trừ một Lão Tử, hay Trang Tử, hiểu được lẽ huyền vi của Trời, Đất. Nhưng ông nầy cũng chưa từng nói là trái đất, hay môi trường sống của chúng ta hình tròn. Sau khi ông nầy biến mất vào không gian, thì sự hiểu biết của ông về vũ trụ và con người đã biến thái thành các môn Chiêm Tinh, Tử Vi khi nói về Thiên Văn, và môn Phong Thuỷ khi nói về Địa Lý. Kinh Dịch sâu sắc của Trang Chu đã biến thành những môn học dị đoan. Những biến thái nầy làm mai một nền triết học phương Đông. Họa hoằng mới có một Kim Dịnh của Việt Nam nghiên cứu đến nơi đến chốn Kinh Dịch và triết lý Trang Chu.

-Nhưng, Cô Ba, cho tôi xin hỏi. Cô có nói, hiện nay các học giả  phương Tây đang nghiên cứu sự hiểu biết về địa lý của Trương Nghi, Tô Tần, cả về tâm lý hướng ra biển của sắc tộc Hoa Hạ mà lập nên học thuyết địa lý chính trị ngày nay. Như vậy là nghĩa làm sao? Tôi hỏi.

-Phải, các học giả phương Tây hiện đại đã nghiên cứu các điều trên như tôi đã nói. Nhưng những điều họ tìm hiểu về Trung Quốc và sắc tộc Hoa Hạ chỉ giúp họ một phần của học thuyết lớn lao mới này thôi. Còn những yếu tố quan trọng khác mới kết hợp lại thành một học thuyết. Họ còn nghiên cứu sâu xa hơn về triết học và khoa học cổ đại của phương Đông, như của Ấn-Độ hay phương Tây như của các nhà hiền triết Hy-Lạp, kể cả các nhà trí thức Hồi Giáo nữa.

-Anh Út, để Chị Ba nói tiếp đi. Cứ hỏi hoài. Uống nước đi cho bớt nôn nóng. Làm như học trò hồi còn học ở Cà-Mau vậy?

-Hồi học ở Cà-Mau, chỉ có cô hỏi lung tung, chớ tôi có dám hỏi gì đâu. Sợ thầy muốn chết.

-Vậy, bây giờ anh không sợ Cô Ba sao mà hỏi lung tung!

Tôi nghĩ: nữa, lại thêm một câu nói kháy nữa đây. Thiệt, tâm lý người… thất tình đang ghen ngầm ghê lắm.

-Thôi, cô cũng uống nước đi cho mát, rồi ngồi im nghe.

Cô Ba lại cười, kể tiếp:

-Thật ra người sắc tộc Hoa Hạ bắt đầu từ thời Tây Chu, theo chế độ phong cấp tước tập ấm và cấp thái ấp cho công thần, cho nên vì sự phân chia lãnh thổ, họ biết rành địa lý, thổ nhưỡng và nhất là vẽ bản đồ núi sông khá chính xác để phục vụ cho việc bành trướng, hay cho chiến tranh. Địa lý là một trong ba yếu tố quan trọng “thiên thời, địa lợi, nhân hoà” mà Tôn Tử nêu lên trong thiên “Tôn Tử Binh Pháp.” Tuy nhiên, họ chỉ biết đến mức đó, như các nhà Tung Hoành gia thời Chiến Quốc, hay như Trương Lương, khai quốc công thần của nhà Hán, hoặc như Gia Cát Lượng, thường gọi là Khổng Minh, thời Tam Quốc. Họ chưa bao giờ biết được toán học cao cấp, khoa học vật lý, thiên văn học và nhất là chưa có một nhà hiền triết của Trung Hoa nào trước Công nguyên biết được trái đất hình cầu. Trong khi các lãnh chúa thời Đông Châu Liệt Quốc đánh nhau chí choé giành giật những phần lãnh thổ nhỏ nhoi trên một vùng của mặt đất, thì những nhà hiền triết Ấn Độ đã biết được sự liên hệ của Trái Đất hình cầu và Mặt Trời, và những hành tinh hay định tinh trong vũ trụ bao la.

-Chị Ba, không biết có gì chứng minh cho sự hiểu biết của các nhà hiền triết Ấn Độ như Chị nói hay không? Bội Mỹ hỏi.

 

Cô Ba đứng lên, tiến đến một kệ sách, tìm và mang lại đặt lên bàn một quyển sách cũ, không dày, chỉ chừng hơn một trăm trang mang tựa đề “The Heliocentrism and Aryabhata”. Đây là quyển sách Anh ngữ dịch tác phẩm tiếng Phạn “Aryabhatiya”, Ấn Độ, của một học giả người Anh. Cô uống một ngụm nước rồi chỉ quyển sách, nói với Bội Mỹ:

-Heliocentrism là thuyết Mặt Trời là trung tâm của vũ trụ. Helio tiếng Hy Lạp là mặt trời, centrism là thuyết trung tâm. Aryabhata là nhà thiên văn học Ấn Độ ở Thế kỷ thứ V và VI sau Công nguyên. Aryabhatiya là quyển sách thiên văn của Aryabhata. Trong quyển sách đó nhà thiên văn này đã lập lại thuyết Mặt Trời là trung tâm vũ trụ và Trái Đất hình cầu quay chung quanh nó và quay chung quanh Mặt Trời được ghi trong Kinh Vệ Đà ở nhiều thế kỷ trước Công nguyên. Kinh Vệ Đà, tiếng Phạn là Aitareya Brahmana do Shatapatha Brahmana viết, có đoạn nếu dịch ra quốc văn, thì như thế này: “Trái Đất có hình cầu và Mặt Trời là trung tâm của vũ trụ.  Mặt Trời không lặn và không mọc. Con người cho rằng Mặt Trời “lặn” và “mọc” là sai, gọi là “thị sai” hay sự nhìn lầm của đôi mắt, vì Mặt Trời đứng yên và vì Trái Đất di chuyển quanh nó.” Brahmana cũng cho rằng Mặt Trời lớn hơn Trái Đất nhiều lần và tính khoảng cách giữa Trái Đất và Mặt Trời bằng 108 lần đường kính của Mặt Trời. Khoa học hiện đại dùng hình học không gian tính ra khoảng cách thực sự đó bằng 107.6 đường kính của Mặt Trời. Như vậy là lối tính của Bramana chính xác đến 98%. Thuyết của vị thiền sư Ba-La-Môn giác ngộ Phật giáo này tuy không đúng hẳn, nhưng là khởi thuỷ của luận thuyết “Nhật Tâm”, hay mặt Trời là trung tâm của vũ trụ, có quan điểm trái ngược với thuyết “Địa Tâm” – Geocentrism của Ptolemy được hình thành từ Thế kỷ Thứ II sau Công Nguyên.

-Vậy, các nhà tu Phật giáo Ấn-Độ quá thông thái, hơn xa những nhà hiền triết Trung Hoa thời đó. Còn Ptolemy là ai hả Chị Ba? Mỹ hỏi.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Advertisements

2 Antworten zu “CHIẾN TRANH VÀ TÌNH YÊU

  1. Tôi thắc mắc không biết truyện Thủy Tận Non Mòn còn hay hết ? Xin cám ơn

Hãy ghi ý kiến, thắc mắc của bạn vào đây:

Trage deine Daten unten ein oder klicke ein Icon um dich einzuloggen:

WordPress.com-Logo

Du kommentierst mit Deinem WordPress.com-Konto. Abmelden / Ändern )

Twitter-Bild

Du kommentierst mit Deinem Twitter-Konto. Abmelden / Ändern )

Facebook-Foto

Du kommentierst mit Deinem Facebook-Konto. Abmelden / Ändern )

Google+ Foto

Du kommentierst mit Deinem Google+-Konto. Abmelden / Ändern )

Verbinde mit %s