Tiến Trình Bầu Cử Tổng Thống Hoa Kỳ

Tham luận

Tiến Trình Bầu Cử Tổng Thống Hoa Kỳ

Trần Xuân Thời.

Hầu hết chúng ta đã tham dự các cuộc bầu cử tại Việt Nam trước 1975 và tại các quốc gia tự do mà chúng ta đang cư ngụ sau năm 1975. Trong các quốc gia tự do, dân chủ, phương thức bầu cử được áp dụng trong các cơ chế công quyền đến các hiệp hội tư nhân để chọn người đại diện.

Tại Hoa Kỳ, các chính quyền tiểu bang đảm trách tổ chức bầu các viên chức công cử tiểu bang và liên bang. Thể thức bầu cử được quy định bởi các đạo luật do chính quyền tiểu bang ban hành, do đó có một số khác biệt về kỹ thuât tổ chức giữa các tiểu bang.

hillary-clinton-donald-trump

1. Quyền bầu cử:
Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787 không quy định quyền bầu cử cho mọi công dân Hoa Kỳ. Vì thế các Tu chính án thứ 15 ban hành năm 1870 quy định thêm quyền bấu cử cho người Mỹ Da Đen. .Tu chính án thứ 19 ban hành năm 1920 công nhận quyền bầu cử cho cử tri nữ giới…..Hiến pháp quy định bẩu cử Tổng Thống Hoa Kỳ cứ bốn năm một lần vaò ngaỳ thứ ba sau ngaỳ thứ hai tuần thứ nhất tháng 11.

2. Ghi danh bầu cử
Mọi công dân hội đủ điều kiện đều được ghi danh bầu cử: 18 tuổi, công dân Hoa Kỳ, không can án hay bị tước quyền bấu cử, công dân tiểu bang, có thể ghi danh trước hoặc tại phòng phiếu trước khi bấu cử… hoặc theo thủ tục do tiểu bang ấn định .
Năm 1965, Quốc Hội Hoa Kỳ ban hành đạo luật “ Voting Rights Act” bải bỏ các điều kiện cử tri phải biết đọc, biết viết (literacy tests), đóng thuế bầu cử (poll taxes) Các điều kiện nầy thường được áp dụng tại các tiểu bang miền Nam Hoa kỳ gọi chung là “Jim Crow Laws”.

3. Chứng Minh Thư (ID)
Đến nay 2016, khoảng 30 tiểu bang buộc phải xuất căn cước (ID) trước khi cho ghi danh hay cho bầu cử. Khoảng 20 tiểu bang chưa có luật buộc phải xuất trình căn cước. Hai đảng CH và DC có hai đường lối khác nhau vể vấn đề này.
Đảng Cộng Hoà ủng hộ tiểu bang cấp căn cước cho cử tri nhằm tránh sự gian lận về bấu cử, như vấn đề ngăn chận cử tri bầu cử nhiều lần, hoặc những người không đủ điều kiện bấu cử vẫn đi bầu cử, không phải là công dân, di dân bất hợp pháp. Vấn đề gian lận bầu cử (election fraud) đã được nêu lên trong nhiều cuộc bầu cử.
Đảng dân chủ chủ trương ngược lại để cho mọi người được bấu cử tự do không cần chứng minh thư (ID) vì lý do nhiều ngươì không có giấy tờ tùy thân… (Eric Holder, US AG, Obama Administration)
Sự tranh chấp nầy khiến cho Tối Cao Pháp Viện (US Supreme Court) phải phân xử. Năm 2008 Tối Cao Pháp Viện công nhận luật tiểu bang Indiana đòi hỏi cử tri phải có căn cước. Các tiểu bang khác như Texas, Tennessee, Rhode Island, Kansas, Georgia… năm 2012 đã thông qua luật đòi hỏi cử tri phải có căn cước. Tuy nhiên một số tiểu bang khác còn lại vẫn còn tranh cải về luật ID card. Trong năm 2016, 17 tiểu bang đã ban hành luật đòi hỏi phải xuất trình khai sinh, chứng chỉ nhập tịch… Đảng Dân chủ kịch liệt phản đối .

4. Các chức vụ dân cử
Có rất nhiều chức vụ dân cử tiểu bang và liên bang tại mỗi tiểu bang. Mỗi tiểu bang như một tiểu quốc có đầy đủ cơ chế dân cử Lập Pháp với lưởng viện Quốc hội, Hành Pháp với Thống Đốc và các Bộ, Phủ và Tư pháp với một hệ thống toà án. Quốc hội Nebraska chỉ có một viện (unicameral), không có lưỡng viện Quốc hội (bicameral) như các tiếu bang khác.
Nghị Sĩ Liên bang (US Senator): Mỗi Tiểu bang đồng đều có 2 Nghị Sĩ Liên bang, nhiệm kỳ 6 năm.
Dân biểu Liên bang: Có nhiều Dân biểu Liên bang cho mỗi tiểu bang tùy theo dân số của tiều bang, nhiệm kỳ 2 năm. Từ khi lập quốc, khoảng 30,000 dân được bầu một Dân biểu. Ngày nay số Dân biểu gia tăng theo dân số căn cứ trên bảng thống kê dân số cứ 10 năm một lần. Một dân biểu hiện nay có thể đại diện cho trên nửa triệu dân. Tiểu bang nhỏ nhất có 1 dân biểu và 2 Nghị Sĩ. Tiểu bang lớn nhất có 52 dân biểu và 2 thượng Nghị Sĩ

5. Phân khu bầu cử
Vì dân số gia tăng nên có vấn đề tái phân chia khu bầu cử (Congressional redistricting). Khi phân khu như vậy có thể sẽ gây thất lợi cho một trong hai đảng Dân Chủ hay Công Hoà. Sự tái phân cử tri là nhiệm vụ của chính quyền tiểu bang và có ảnh hưởng đến vấn đề bẩu cử dân biểu liên bang và các viên chức công cử tiểu bang nên thường tạo nên các cuộc tranh luận sôi nỗi trong quôc hội tiểu bang tranh dành vấn dế tái phân ranh giới và cử tri lợi cho khu bầu cử.
Trường hợp có nhiều cử tri cùng chung khuynh hướng chính trị được tái phân vaò một khu bầu cử tạo nên hiện tượng “Vote packing”, có lợi cho vị dân biểu đương nhiệm (incumbent) và ngược lại vị dân biểu đương nhiệm có thể bị thất cử nếu có nhiều cử tri thuôc khuynh hướng khác chiếm đa số hoặc cử tri thường hổ trợ mình bị phân tán (Vote cracking). Vấn đề tranh cải là phải phân khu như thế nào để dung hoà các khuynh hướng chính trị trong điạ phương liên hệ.

6. Vấn đề tài trợ các cuộc vận động bầu cử: (Election Financing)
Ứng cử mà thiếu tài chánh thì không có hy vọng đắc cử. Các ứng cử viên đắc cử có thể lo trả công những người đóng góp tài chánh bằng cách thoã mãn nhu cầu của những người tài trợ hay những nhóm quyến lợi (interest groups) thay vì phục vụ công ích (conflict of interest).
Vì thế năm 1907 đạo luật Tillman Act được ban hành để cấm các đại công ty đóng góp tài chánh các cuộc vận động bầu cử các viên chức liên bang và ấn định mức chi tiêu tối đa cho mỗi ứng cử viên.
Luật Federal Corrupt Practices Act được ban hành năm 1925 ấn định mức đóng góp.
Luật Federal Election Campaign Act được ban hành năm 1971 bắt buộc các ứng cử viện tường trình số tiền đóng góp nhận được.
Năm 1974, Quốc Hội thành lập cơ quan Federal Election Commission (FEC) do 3 Ủy viên Công Hoà và 3 Ủy Viên Dân Chủ kiểm soát tài chánh của các cuộc tranh cử.
Năm 1976, Tối Cao Pháp Viện tuyên bố giới hạn mức chi tiêu là bất hợp hiến (unconstitutional) vi phạm Tu chính Án thứ Nhất của Hiếp Pháp Hoa kỳ.
Năm 2002, Quốc Hội ban hành luật McCain- Feingold chấm dứt vấn đề đóng góp cho văn phòng của hai đảng Công Hoà (National Republican Committee) và Dân Chủ (National Democratic Committee).
Dù luật lệ có quy định nhưng trong thực tế các nhóm áp lực vẫn đóng góp tài chánh cho các ứng cử viên để được hưởng lợi lộc sau khi các ứng cử viên được đắc cử qua nhiều phương thức khác nhau.

7. Các Uỷ Ban Hoạt Động Chính Trị
Chúng ta thườngg nghe nói đến danh từ PAC. PAC là Political Action Committee. Các ủy ban vận động chính trị được thành lập tại các công ty lớn đảm trách vấn đề gây quỷ đóng góp cho các cuộc vân động tranh cử như GOPAC (Republican leadership PAC). Nhiều đoàn thể chính trị tại các tiểu bang cũng thành hình các ủy ban vận động chính trị. Những nhóm nầy được thành lập theo Section 527 của Internal Revenue Code/ IRS Code.
Trong cuộc bầu cử năm 2004, có cơ quan Swift Boat Veterans for Truth vận động tài chánh để ủng hộ George W. Bush và bài bác John Kerry và ngược lại Cơ quan America Coming Together (ACT) ủng hộ Kerry chống Bush. Cả hai cơ quan nầy đề bị phạt bạc triệu vì hoạt động ngoài sự kiểm soát của Federal Election Commission.

Al Gore khi làm Phó Tổng Thống cũng bị khiếu nại vì dùng điện thoại của văn phòng PTT vận động tài chánh cho ứng cử viên của đảng DC và Tổng Thống Clinton cũng bị baó chí phân phui khi mời các mạnh thường quân (donors) đến nghỉ ngơi tại Toà Bạch Ốc. Thống Đốc Illinois Ron Blagojevich, Đảng DC, bị tù vì bán chức Thượng Nghĩ của Barack Obama để trống của tiếu bang Illinois để lấy tiền tranh cử.

Trong vụ án Citizens United v. Federal Election Commission, (2011) Tối Cao Pháp viện cấm chính quyền không được hạn chế sự đóng góp của các nghiệp đoàn, công ty thương mãi cho các cơ quan bất vụ lợi. Đồng thời xác nhận các hiệp hội vụ lợi và bất vụ lợi là thể nhân (không những là legal entity và cũng là legally persons) nên có quyền nhận đóng góp như quyền tự do ngôn luận. !

Kết quả, các PAC có quyền nhận sự đóng góp vô giới hạn của tư nhân cũng như của các hiệp hội, các công ty thương mãi và được mệnh danh là Super PACs, rồi sau đó Super super PAC tha hồ nhận tiền đóng góp để hổ trợ cho ứng cử viên gà nhà …khiến cho Lawrence Lessig, giáo sư tại trường Luật Harvard, viết cuốn sách “ Republic, Lost: How Money Corrupts Congress- and a Plan to Stop It ” chống đối sự nhũng lạm do tiền tài gây nên tại Washington. Thành viên của chính quyền, Hành Pháp, Lập Pháp chỉ lo vân động tài chánh để tranh cử chứ không còn thì giờ lo cho quốc sự…

8. Đề cử đại biểu
Thủ tục thông thường cho các đảng chính trị chọn (1) các đại biểu (delegate) từ các phiên hội sơ bộ (caucus) tại các precinct (khu tuyển cử) trong các thành phố. (2) Các đại biểu được các precinct bầu sẽ tham dự đại hội cấp County (County Convention) để bấu đại biểu tham dự đại hội cấp tiểu bang. (3) Đại hội cấp tiểu bang sẽ họp để bầu đại biểu cho Đại hội Toàn Quốc (National Convention. Tuy vậy thủ tục có thể thay đổi tùy theo tiểu bang.

Đảng Dân Chủ chọn ứng viên từ các cuộc bầu cử sơ bộ tại cấp tiểu bang. Các đaị biểu cấp tiểu bang sẽ tham dự đại hội tòan quốc để chọn ứng cử viên đại diện cho đảng ra tranh cử Tổng Thống. Đại biểu đảng Dân Chủ thay đổi hằng năm trên dưới 4000 đại biểu tham dự Đại hội đảng toàn quốc và ứng cử viên chỉ cần đa số phiêu tương đối (simple majority) để được chọn làm đại diện đảng ra tranh cử Tổng Thống. Các đại biểu nầy được gọi là đại biểu có cam kết “Pledged delegates”. Họ thuờng đã gặp các ứng cử viên tại các phiên hội tại các precincts, county và state convention.
Ngoài ra các cấp lãnh đạo đảng chọn thêm một số đại biểu khác làm Superdelegates như các Dân biểu, Nghị Sĩ, Thống Đốc của đảng. Trong cuộc bầu cử TT năm 2016, bà Clinton có nhiều Superdelegates và Ông Sanders tỏ ra bất bình về vấn đề phe phái nầy.
Năm 2008, Đảng DC có đến 796 Superdelegates, là những người có quyền thế và có ngân qủy, có khả năng hổ trợ cuộc bầu cử, đa số là thành viên của nhóm Establishment, “Áo xiêmn buộc trói lấy nhau”, tạo thành một thanh trì bảo vệ quyền lợi của đảng.

Đảng Cộng hoà cũng chọn đại biểu từ cấp precinct, county, state, để tham dự national convention, nhưng chọn ít hơn khoảng trên dưới 2000 đại biểu mỗi kỳ bầu cử, chọn từ các đại hội tại các tiểu bang và từ giới lãnh đạo đảng. Đảng CH không chọn superdegates mặc dù một số delegates được chọn từ trong giới lãnh đạo đảng CH.
Các cuộc bầu cử sơ bộ thường được tổ chức qua ba hình thức: (1) Họp sơ bộ khoáng đại (open primary) trong đó không phân biệt Dân chủ hay Cộng hoà. Đảng viên CH có thể bầu cho ứng viên DC hoặc ngược lại. (2) Họp sơ bộ bán khoáng đại (semi-open system) trong đó các cử tri độc lập (independent voter) có thể bầu cho ứng viên DC hoặc CH. (3) Họp sơ bộ kín (closed primary) chỉ dành cho cử tri ghi danh vào đảng mới được tham dự bầu cử.

9. Vận động tranh cử
Trong tiến trình chọn ứng cử viên từ hàng chục người (contender) của mỗi đảng ghi danh tranh cử đến khi được ứng cử viên chính thức đại diện đảng ra tranh cử kéo dài khoảng 2 năm. Trong cuộc bâù cử Tổng Thống HK, nhiệm kỳ 2016-2020, theo danh sách ứng viên ghi danh với Federal Election Commttee có 37 người ghi danh dự tranh. Đa số lần lượt rút lui sau những lần vận động taị một số tiểu bang mẫu như Iowa, New Hampshire và South Carolina… và các cuộc tranh luận do các cơ quan ngôn luận tổ chức và đặc biệt dựa trên kết quả của các cuộc bầu cử sơ bộ tại các tiếu bang.
Ngoài các tiểu bang đông dân cư, có một số tiểu bang không phải là những tiểu bang đông dân số, nhưng là những tiểu bang đại biểu cho các khuynh hướng của cử tri và có tính cách thử thách các ứng viên xem thử các ứng viên có được các tiểu bang nhỏ ủng hộ. Iowa đại biểu cho cử tri ngành nông nghiệp.
Từ năm 1976, Jimmy Carter thắng hạng nhì tạị cuộc bấu cử sơ bộ tại Iowa, sau đó đắc cử Tổng Thống. Đảng DC xem sự thành công sơ khởi tại IOWA là một dấu hiệu tốt cho sự thành công trên toàn quốc.
Thử thách thứ hai thường được thực hiện tại New Hampshire, nơi đây đa số cử tri không thuộc DC hay CH mà là cử tri độc lập (independent voter) là một địa bàn tốt thử thách các ứng viên xem thử họ có khả năng thuyết phục các cử tri độc lập?. Ngoài hai tiểu bang nêu trên, đảng CH cũng xem tiểu bang South Carolina là một thí điểm tốt để đo lường tâm lý của cử tri.
Các đại hội sơ bộ thường do các tiểu bang tổ chức theo thời gian và điạ điểm thuận tiện. California đổi đại hội sơ bộ từ tháng 6 qua ngày 5 tháng 2. Michigan và Florida tổ chức vào tháng 1. Các đại hội sơ bộ được tổ chức vào ngày thứ ba trong tuần của nhiều tiểu bang được mênh danh: Super Tuesday. Trong trường hợp không có ứng viên được đa số phiếu cấp bầu cử sơ bộ ấn định, Đại hội đảng toàn quốc sẽ bỏ phiếu quyết định theo phương thức “Brokered Convention”.
Hiến pháp Hoa Kỳ ấn định cuộc bầu cử Tổng Thống được tổ chức vào NGÀY THỨ BA sau ngày thứ Hai đầu tiên của tháng 11. Các tiểu bang có tính cách phụ trợ quyết định như New Hampshire, Iowa, Ohio, Michigan, Pennsylvania, New Mexixo là những Swing states mà các ứng cử viên cần tranh thủ cử tri ngoài những tiểu bang có số cử tri cố định bầu cho ứng viên Dân chủ hay ứng viên Cộng hoà như đảng DC thường thắng phiếu tại các tiểu bang Minnesota, Washington State, Oregon, California … và đảng CH thường thắng phiếu tại các tiểu bang taị Trung và Đông Mỹ.

10. Thể thức đầu phiếu
Bầu phiếu phổ thông được áp dụng cho hầu hết các cuộc bấu cử cấp tiểu bang và liên bang theo thể thức bầu cử phổ thông (popular), đa số tương đối (simple majority), trực tiếp (direct) và kín (secret). Đa số tương đối có nghĩa là ứng cử viên nào được nhiều phiếu phổ thông thì được đắc cử.
Tuy nhiên, đắc cử vào chức vụ Tổng Thống Hoa Kỳ không chỉ căn cứ vào phiếu phổ thông (popular vote) mà còn căn cứ vào phiếu của Cử tri đoàn (Electoral vote). Thông thường, ứng cử viên nào thắng phiếu phô thông thì thắng luôn phiếu cử tri đoàn. Nhưng thỉnh thoảng có những trường hợp thắng phiếu phổ thông nhưng thua phiếu cử tri đoàn.
Trong cuộc bầu cử Tổng Thống Hoa Kỳ năm 2000, ứng cử Viên Albert “AL” Gore có 600,000 phiếu phổ thông cao hơn phiếu phổ thông của ứng Cử Viên George W. Bush. Tuy nhiên ứng cử viên George W. Bush thắng phiếu tại Florida nên số phiếu cử tri đoàn cao hơn Al Gore. Al Gore khiếu nại và Tối Cao Pháp Viện tuyên bố George W. Bush đắc cử Tổng Thống Hoa Kỳ nhiệm kỳ 2000-2004, không phải vì thắng phiếu phổ thông mà nhờ được thắng phiếu cử tri đoàn như được TCPV quyết đinh cho thắng phiếu phổ thông của tiểu bang Florida. Muốn hiểu rõ thêm trường hợp nầy xin đọc thêm án lệ (Bush v. Gore, 531 US 98 (2000).
Sự kiện nầy cũng cho chúng thấy vai trò của Tối Cao Pháp Viện quan trong như thế nào. Tân Tổng Thống nhiệm kỳ 2016-2020 …sẽ có cơ hội bổ nhiệm các thẩm phán Tối Cao Pháp Viện có cùng khuynh hướng chính trị trong thời gian 4 hay 8 năm tới vì hiện nay có 3 vị thẩm phán Tối Cao pháp Viện trên 78 tuổi.

11. Phiếu Phổ Thông và Phiếu Cử Tri Đoàn
(Popular vote & Electoral vote)
Mỗi tiểu bang có một số cử tri đoàn bằng 2 Nghị Sĩ Liên bang và một số Dân biều Liên bang tuỳ theo dân số. Hoa Kỳ có 538 phiếu cử tri đoàn gồm có: 100 Nghĩ Sĩ Liên bang (US Senator) và 438 Dân biểu Liên bang (US House of Representatives). Ví dụ Minnesota có 8 Dân biểu và 2 Nghị Sĩ Liên bang. Phiếu cử tri đoàn để bầu Tổng Thống Hoa Kỳ là 10 phiếu. California có 2 Nghị Sĩ và 52 Dân biểu, phiếu cử tri đoàn là 54. Số dân biểu có thể được điều chỉnh tuỳ theo dân số.

Muốn đắc cử Tổng Thống, ứng cử viên phải hội đủ 270 phiếu cử tri đoàn trên 538 phiếu, nghĩa là ít nhất phải hơn đối thủ 2 phiếu. Ứng cử viên nào thắng phiếu phổ thông tại tiểu bang sẽ thắng luôn phiếu của cử tri đoàn tạị tiểu bang đó.

Trong lịch sử bầu cử Tồng Thống Hoa kỳ có vài trường hợp bất thường xảy ra.
Năm 1787 Quốc Hội Hoa Kỳ đã tranh luận về vấn đề bầu cử Tổng Thống và để dung hoà hai ý kiến: Tổng thống do Quốc hội bầu hay do dân chúng bầu? Quốc hội đã biểu quyết dùng cả hai phương thức. Ngoài phiếu phổ thông, Quốc hội tiểu bang có nhiệm vụ chọn đại biểu vào Cử tri đoàn (Electoral College). Tổng số đại biểu của cử trì đoàn Hoa Kỳ bằng tổng số dân biểu và nghị sĩ liên bang của 50 tiểu bang.

Lịch sử bầu Tổng Thống Hoa Kỳ cũng đã ghi lại năm 1800, ứng cử viên Thomas Jefferson và ứng cử viên AAron Burr mỗi người nhận 73 phiếu của Cử Tri đoàn. Sự kiện này đã được trình Hạ Nghị Viện chiếu Hiến Pháp Hoa Kỳ để quyết định và Jefferson đã đắc cử. Cuộc bầu cử năm 1824 và 1876 cũng do Hạ Nghị Viện Hoa Kỳ quyết định mặc dù ứng cử viên trong hai cuộc bầu cử nầy không nhận được đa số phiếu phổ thông.
Năm 2000, Tối Cao Pháp Viện phán xét cho George W. Bush đắc cử chức vụ Tổng Thống nhờ có phiếu cử tri đoàn cao hơn phiếu cử tri đoàn của Al Gore, nhưng phiếu phổ thông của Al Gore cao hơn phiếu phổ thông của George W. Bush.

Hiện nay có khoảng 200 triệu ghi danh bầu cử năm 2016 trên toàn quốc Hoa Kỳ. Ứng cử Tổng Thống nào thắng đa số phiếu phổ thông (popular vote) sẽ thắng (winner-take all) phiếu cử tri đoàn (electoral vote) tại tiểu bang đó. Muốn thắng cử UCV Tổng Thống phải đạt được 270 phiếu cử tri đoàn trên 538 phiếu.

Vấn đề sai biệt giữa phiếu cử tri đoàn và phiếu phổ thông có thể xảy ra vì sư sai biệt dân số và cử tri giữa các tiểu bang không thể quân phân chính xác với số Dân biểu và Nghị Sĩ của các tiểu bang. Do đó đã xảy ra trường hợp, một ứng viên có đa số phiếu phổ thông nhưng lại không có đủ số phiếu cử tri đoàn như trường hợp Al Gore năm 2000.
Tất cả các khiếu nại, nếu có, về bầu cử sẽ được quyết định tối hậu bởi Tối Cao Pháp Viện nếu các biện pháp hành chánh không đạt được kết quả.

Trần Xuân Thời

Advertisements

Hãy ghi ý kiến, thắc mắc của bạn vào đây:

Trage deine Daten unten ein oder klicke ein Icon um dich einzuloggen:

WordPress.com-Logo

Du kommentierst mit Deinem WordPress.com-Konto. Abmelden / Ändern )

Twitter-Bild

Du kommentierst mit Deinem Twitter-Konto. Abmelden / Ändern )

Facebook-Foto

Du kommentierst mit Deinem Facebook-Konto. Abmelden / Ändern )

Google+ Foto

Du kommentierst mit Deinem Google+-Konto. Abmelden / Ändern )

Verbinde mit %s