LỜI CỦA CÁT

GIỚI THIỆU
TẬP THƠ LỜI CỦA CÁT của Nhà Thơ LƯU NGUYỄN ĐẠT

LỜI MỞ ĐẦU:

Trước khi đi vào khung trời thơ của Nhà Thơ-Hoạ Lưu Nguyễn Đạt qua tập thơ LỜI CỦA CÁT, tác giả bài khảo luận này trân trọng mở đầu bằng một bài thơ khen ngợi „lời“ của cát, và nâng cao „lời“ lên một cung bậc thơ mộng hơn cho hợp với uyển ngữ thi ca của Nhà thơ, xin gọi là „tình ca“. Thực ra „Lời“ là một uyển ngữ rất chọn lọc và rất đẹp, một ẩn ngữ vô thanh đi vào hữu thức. Có thể gọi đó là thứ chữ chắt lọc tinh hoa như một loại tuyển ngữ thi ca đặc biệt của Nhà Thơ & Hoạ LNĐ. „Lời“ là một từ hùng mạnh tuyệt bích như chữ „phán“ của một đấng tối thượng. Nàng Thơ là Đấng Tối Thượng đó, vốn dĩ Nàng có hàng tỷ tỷ tín đồ và được suy tụng hơn bất kỳ bị thánh thần tối thượng nào khác. Ở đây tôi chỉ muốn thi vị hoá cho chữ có một chút duyên mà thôi, nên gọi là Tình Ca.

TÌNH CA CỦA CÁT

Năm tháng cứ vỗ vào bến hoang vu,
Sóng vô thường dập mãi cõi hư vô
Tạo tình yêu, nào đâu phải tình cờ,
Nên cát bỗng hát tình ca hò hẹn.
Lời của cát vang vang trên biển lớn,
Đất và trời cũng hoà khúc hoan
Nên con sóng bạc đầu vang vọng mãi
Vào thời gian, đồng vọng bến trăng sao
Em hẹn ta từ cõi lạ lùng nào,
Ta vội đến để giữ tình yêu lại.
Dù vẫn biết thời gian vô sắc thái,
Và không gian không phải của riêng ai.
Nhớ một lần Lưu Nguyễn lạc Thiên thai
Khi trở lại thiên thai thành vũ trụ;
Bỗng thấy mình thành ra thân lữ thứ
Và ở cuộc đời hoá kiếp đổi chân dung…
Cát bỗng hát tình ca trên biển lớn,
Vọng miên man vang dội đến vô cùng…
*****


HÌNH THỨC TẬP THƠ
Tập Thơ LỜI CỦA CÁT được trình bày thẩm mỹ, trang nhã với nghệ thuật phối hợp màu sắc khá đậm đà trên hai trang bìa trước và sau. Bìa sách cứng dày, mẫu 8 x 6 inches, các dòng chữ tựa sách màu vàng đậm và trắng in trên phong (fond) màu tím. Bìa trước còn trang điểm thêm một bức tranh sơn màu của tác giả. Bìa sau là ảnh nhà thơ, đôi dòng tiểu sử rất ngắn và mấy lời nhận định của hai người bạn thân. Gáy tập thơ cũng in chữ màu vàng. Thơ được in trên giấy bóng dày Hồng Kông, loại giấy quí, trắng hảo hạng, mà trước tôi thấy Cung Trầm Tưởng dùng in tập thơ „Một Hành Trình Thơ“ của ông.
Đặc biệt, LỜI CỦA CÁT là một tuyển tập thơ Song Ngữ Việt Pháp. Nói rõ hơn, nội dung gồm vài bài văn suôi (prose) ngắn nói về Thơ và hai bài nổi bật: số 1, Lên Núi; bài số 99, Đêm Qua; và một bài mở đầu Nói Về Thơ. Phần chính là hơn 90 bài thơ viết theo thể tự do hay lục bát. Không một bài nào quá 20 dòng thơ. Mỗi bài thơ Quốc ngữ đều được LND phóng dịch bằng Pháp ngữ in ở trang đối diện, kể cả hai bài văn suôi và bài khái niệm về thơ. Nội dung còn gồm thêm 16 phụ bản in các bức tranh sơn dầu cũng do chính LNĐ vẽ (cùng loại tranh siêu thực như bức tranh bìa trước). Vì vậy, nên ngoài tựa đề „Lời Của Cát-Parole de Sable“, độc giả còn đọc được một hàng chữ nhỏ, ngay dưới bức tranh bìa trước „Thơ Tranh £ Poésie & Arts“. Ở trang 4, đăng ảnh của Bà Phùng thị Hạnh, phu nhân của nhà thơ-họa LNĐ. Trang tiếp theo là bức ảnh nhỏ và bản sơ lược học vấn, sơ lược công việc văn học nghệ thuật và một ít tác phẩm của nhà trước tác Văn Học và Nghệ thuật nổi tiếng này. Tổng cộng tập thơ họa Lời Của Cát gồm 268 trang không kể hai trang bìa và các trang để trắng.

NHÀ TRÍ THỨC HÀN LÂM
LƯU NGUYỄN ĐẠT
Trước khi trở thành một Thi & Hoạ sĩ LNĐ là một một trí thức Văn Hoá Hàn Lâm, một học giả chuyên về Luật Pháp, Chính trị và Xã hội, một nhà tư tưởng lớn về triết lý vũ trụ và nhân loại. Trước ngày Miền Nam sụp đổ cuối tháng 4, 1975, Ông đã có hai văn bằng Cử nhân Văn khoa và Luật khoa, Sai Gòn, là Giáo sư các trường Trung học Lycée Pascal Đà Nẳng và Lycée Yersin Đà Lạt, Luật Sư Thực Thụ Toà Thượng Huế và Sai Gòn.
Sau ngày 30/4/1975, định cư sang Hoa Kỳ, Ông vừa đi dạy vừa đi học lại. Ông tốt nghiệp Cao học Giáo khoa và Tiến sĩ Văn Chương (MA & PhD) Michigan State University; Cao học, Hậu Tiến sĩ Luật (LLM, MCL) Howard Law School, là Giảng sư Văn khoa Michigan State University, Hood College (MD); Phối hợp Giáo Huấn Đa Văn Đa Ngữ -PEO School of Education, Đại học Michigan; Giám đốc Trung Tâm Trợ Dẫn Luật Pháp Quốc tế -Director, International Legal Aid Center (ILAC); Luật sư thuộc Luật sư Đoàn VIrginia & Washington DC và Toà Án Federal Bankruptcy; Luật sư thuộc Luật sư Đoàn Nửu Ước -cộng tác với người con trai trưởng là Luật sư Lưu Thiên Kỳ và Luật sư Charles Wall. Ông còn sáng lập Công ty Bằng Khoán Địa Ốc thuộc Luật sự Đoàn Virginia.

Ngoài ra, để phục vụ cho Cộng Đồng Việt Nam trên toàn quốc Hoa Kỳ và Thế Giới, Luật Sư TS LNĐ còn là Người Sáng lập và Điều hành các cơ sở Văn hoá và bình luận Văn học & Chính trị ở Thủ đô Hoa Thịnh Đốn như Nhóm Sáng Tạo -Group Creation (1976), Nhóm Cỏ Thơm (1996), Diễn đàn Tư Tưởng Việt (2003) và Diễn đàn Việt Thức (2010). Về Hội Hoạ, khi còn ở Việt Nam, Ông là Tổng Thơ ký Hội Hoạ Sĩ Trẻ Việt Nam.
Nói tóm lại LNĐ là một nhà Trí thức Việt Nam, hay Người Mỹ gốc Việt nổi tiếng tromg giới học giả Hàn lâm Hoa kỳ và giời Trí thức Việt Nam lưu vong. Ông là người nói và viết ba ngôn ngữ Việt, Anh, Pháp lưu loát vào bậc thầy, ắt hẳn làm cho các bạn đồng song người Mỹ nể trọng. Tôi không ngạc nhiên về việc nầy. Tôi cũng không ngạc nhiên lắm khi biết một người bẫm sinh thông minh và có nghi lực học hỏi và làm việc năng nổ đã trở thành một nhà trí thức hay một học giả như LNĐ. Nhưng muốn trở thành một nhà thơ, một nhà sáng tạo nghệ thuật như họa sĩ, điêu khắc gia thì không phải ai cũng làm được. Và hơn nữa khi đã là một nhà thơ, một nhà nghệ thuật sáng tạo, lúc nào LNĐ cũng hướng lên phía trên, phía trước để tìm chân lý đích thực của kiếp sống con người. Tập thơ tranh Lời Của Cát là một thể hiện sống động nhất về tư tưởng hướng thượng, về nhân sinh quan và vũ trụ quan của Ông.Trước khi đi sâu vào nội dung tác phẩm Lời Của Cáf, xin trở về nguồn, tôi xin tìm hiểu về tiểu sử của LNĐ để biết rõ hơn nhà trí thức nầy vì sao đã trở thành một nhà thơ, một nhà sáng tạo nghệ thuật.

THI & HOẠ SĨ LƯU NGUYỄN ĐẠT, NGUỒN GỐC VÀ SỨC MẠNH SÁNG TẠO THI CA VÀ NGHỆ THUẬT:
Cách đây chừng mươi năm, sau khi xuất bản quyển sử Chiến tranh Việt Nam „The Tragedy of the Vietnam War“ (McFarland, 2008), nhân trong một lần nào đó, đầu thập niên 2010′, liên lạc điện thoại với cựu Trung tá KQVN Cung Trầm Tưởng, tôi được nhà thơ này cho biết, „nếu muốn có đất dụng võ“ ở hải ngoại, nhất là ở Hoa Kỳ, thì nên tiếp xúc, gởi các bài tham luận chính trị và văn học cho GS TS Lưu Nguyễn Đạt, người sáng lập và chủ biên Diễn đàn Internet Nghị luận Chính trị và Văn Hoá VIỆT THỨC, là diễn đàn có uy tín rất lớn của Người Việt Tự do ở Washington DC. Tôi vào Google tìm được Diễn đàn Việt Thức và gởi một bài tham luận chính trị. Bài tham luận được TS Lưu Nguyễn Đạt, Chủ biên, cho đăng ngay lên Việt Thức mấy ngày sau đó. Từ đó tôi tiếp xúc với TS Đạt và gởi bài viết đều đặn đăng ở Việt Thức trong hai năm cho đến khi mỗ cườm mắt và bị bệnh glaucoma tôi mới không viết nữa vào khoảng năm 2014.
Trong thời gian cộng tác viết cho Việt Thức, sự liên lạc giữa TS. LNĐ và tôi rất chặt chẽ và thân hiện, nên tôi càng ngày càng hiểu rõ hơn tài năng của Ông về mọi mặt -rất đa dạng và rất xuất sắc, uyên thâm- nên tôi càng quí nể hơn. Tuy nhiên khi viết về Nhà Thi & Hoạ LNĐ, tôi lại phải dựa vào tài liệu về buổi „Trò Chuyện giữa Nhà Văn Hồ Trường An và Thi sĩ Lưu Nguyễn Đạt“ (1) và bài viết của Bà Phùng thị Hạnh, người yêu, người tri kỷ và cũng là người bạn đời đầu gối tay ấp của Ông (2), tôi mới viết được rõ ràng hơn.
Nhà Thơ LNĐ sinh năm 1940 tại Hà Nội trong một gia đình công chức cao cấp của Chính phủ. Ông thân sinh là cụ Lưu Đức Hoạt, Chánh Sở Địa Chánh, hay Đạc Điền -Directeur du Service du Cadastre- của Thành phố Hà Nội. Cụ Hoạt là cựu học sinh Trường Trung học Lycée Albert Sarraut của người Pháp ở Bắc Kỳ. Cụ bị bịnh, sang Pháp điều trị và mất ở Paris năm 1950, khi cậu bé Đạt mới mười tuổi. Năm sau, Đạt lại vào học và là nội trú sinh của Ngôi trường Trung học Pháp nổi tiếng này, chỉ dành riêng cho con cái người Pháp hay con của gia đình giàu có, gia thế, có quốc tịch Pháp hay giới thượng lưu Việt Nam. Không phải cậu học trò nào cũng được vào học ở đó. Trường chỉ dạy chương trình Trung học thuần Pháp văn. Vì vậy coi như cậu Bé Đạt học tiếng Pháp từ thuở bé.
Thuở thiếu thời đó, dù là học trường nào thì cũng như các cậu bé cùng trang lứa, Cậu Bé Đạt đã phải trải qua hay chứng kiến sự thay đổi to lớn và đau lòng của Cố đô Hà Nội khi đất nước trở mình trong và sau Đệ II Thế Chiến để vươn lên tìm độc lập, tự do và hạnh phúc. Đó là thời gian trước và sau năm 1945. Hãy nghe LNĐ nói: „Tại đó, tôi đã mục kích cảnh Quân đội Phù Tang, xâm chiếm, khủng bố, đe dọa dân tộc chúng ta, với cái hậu quả của năm Ất Dậu, hãi hùng trên đường phố vắng tanh, khi dân chúng trốn tránh cảnh đói và chết chóc xẩy ra khắp nơi, từ thành thị tới làng mạc Miền Bắc. Tại đó, tôi đã mục kích cảnh Quân đội Pháp, nào Lê Dương, nào Ma-rốc-canh, Xê-ne-ga-le, Tây-đen-rạch-mặt ồn ào, say sưa, quậy phá hàng xóm, phố phường. Tại đó, tôi đã mục kích cảnh hồi cư về thành sau cuộc khởi chiến Việt Minh đánh Quân Đội Pháp, với những khu phố im lìm, trơ trọi, tường vách đổ nát, xuyên phá. Hà Nội lúc đó không khác gì một người đàn bà đẹp mặc áo tang, chít khăn sô.“ Và, dĩ nhiên lúc đó cậu bé Đạt còn thấy nhiều hơn nữa ở vùng phụ cận Hà Nội „Là hình ảnh hãi hùng của Quân Đội ‚Tầu Phù,‘ thuộc Phe Đồng Minh tới giải giới (Quân Đội Nhật) sau Thế Chiến Thứ Hai, lê lết ngoài đường, ngõ hẻm, tràn vào vườn tược tư gia tìm đồ ăn thức uống, rồi phóng uế bừa bãi. Lúc đó chúng tôi còn bé, không thấy ghê tởm, mà chỉ thấy cuống cuồng sợ hãi…“(3)
Vâng, tuổi trẻ của thế hệ LNĐ và của chúng tôi đã đau lòng và sợ hãi bởi sự tàn phá dưới gót giày của các quân đội ngoại quốc nhân danh của tự do hạnh phúc hay gì gì đó… Nếu chúng tôi sống trên các miền xa xôi của đất nước thì cảm nhận mất mát hẳn ít hơn những con dân Hà Nội, thủ đô của ngàn năm văn vật, nơi hội tụ nền văn hoá cao nhất đất nước và tinh hoa của dân tộc. Ở đó hẳn nhiên phải chứa đựng những gì tốt đẹp nhất, mà tuổi trẻ sống ở đó thấy như đã sống trên thiên đường.
Chính LNĐ cũng từng nói: „Nhưng Hà Nội còn có những hình ảnh thơ mộng tuyệt vời in sâu vào ký ức các thề hệ trẻ đầy sức sống, với những mùa hè phượng nở rực rỡ trong lòng người, với những mùa thu mưa lá, phấn bụi, làm cậu học sinh tôi lặng người bỏ quên cả cặp sách bên vỉa hè, lững thững về nhà tay không… Khi lớn lên, tôi thường dạo bộ tại Vườn Hoa Con Cóc, cạnh hồ tắm Ấu Trĩ Viên, rồi dạo chung quanh Hồ Hoàn Kiếm, trên những thảm cỏ xanh mướt, những lối đi sột soạt đá cuội trắng, thật mắt nhìn theo những thân cây cằn cỗi, những lá me xùm xoà là theo mặt nước xanh màu ngọc biếc…“(4)
Như vậy cậu Bé LNĐ đã mục kích cảnh thực tế rệu rã của một Hà Nội sau màn xâu xé của đế quốc…mà ở đó vẫn ẩn chứa một thiên đường đẹp đẻ in sâu vào tâm não của cậu mãi mãi. Lẽ nào cậu không biết thắng cảnh Chùa Một Cột, một Cầu Thê Húc, một Hồ Hoàn Kiếm, một đền Trấn Quốc, hay còn gì, còn gì nữa…Thiên Đường đó biết đâu còn ẩn hiện bóng dáng hào hùng của Thánh Gióng, hay ủy mị thương tâm của Trọng Thủy Mỵ Nương, hình ảnh của Bến Lãng, của Đền Hùng, hay tiếng súng Yên Bái của một Nguyễn Thái Học, hoặc tiếng bom Sa-Điện của một Phạm Hồng Thái…vọng đến. Cậu Bé LNĐ đã đối diện với thực tế hữu hoại và thiên đường hằng sống như những cõi nào đó ảo huyền trầm tịch, bí ẩn. Trầm tịch và bí ẩn với những cánh rừng sâu thẩm ngan ngát của núi rừng Việt Bắc những lần cậu theo bố du ngoạn vùng thương du. Ảo huyền và xa dìu vợi nghìn trùng như phong cảnh của hàng nghin đảo nhỏ, đảo to, ẩn hiện trên mặt sóng Vịnh Hạ Long. Hai thái cực đã hiện hữu trong một tâm hồn, một của thực tế tang thương ở Hà Nội và cũng là một của thiên đường huyền ảo… cũng của Hà Nội. Tất cả
đã biến LNĐ sau này thành một nhà thơ, một nhà sáng tạo hình ảnh…đi tìm lại những sự thật sống động nhưng cũng thật mơ hồ như đi tìm lại những gì đã mất đi theo năm tháng cũ. Và rồi hình như tất cả đã sống dậy mãnh liệt. Hay nói một cách khác hơn LNĐ đang đi tìm lại thiên đường cũ trong ánh mờ ảo của cảnh vật đổi sao dời. Nhà thơ muốn xé cái màn huyền bí của vũ trụ để tìm lại thiên đường cũ, cũng có thể là thiên đường mới, thì có khác gì với việc vạch trần sự thật để tìm hình bóng ẩn tàng của nó. Tất cả hình như là câu chuyện huyền ảo của con hạc vàng ngày xưa bỏ lầu Hoàng hạc mà tìm nơi ẩn trú ảo huyền nào đó. Nó đã tách mây mà bay đi cũng như LNĐ đang tách thực tế để đi tìm một cõi mộng hay một ảo ảnh nào đó. Đó là một người mang tâm trạng dị lập tương phản nhau, thường là tâm trạng của nhà văn, nhà thơ, nhà sáng tạo nghệ thuật.
Chính nhà thơ, nhà sáng tạo cảnh LNĐ, nếu phân tích khoa học theo Trường phái Phân tích Tâm lý học (Spychanalisme) của „Sigmund Freud (1856-1939, người Tiệp Khắc) thì có thể khẳng định LNĐ đã trở thành nhà thi & họa vì chính Ông đã mang thứ tâm trạng dị biệt đó; hơn nữa còn có thể khẳng định Ông là một nhà thơ theo trường phái Siêu thực và Lãng mạn (Surrealisme & Romantisme) và là một họa sĩ & điêu khắc gia thuộc trường phái Biểu tượng (Symbolisme) vậy.
Trên đây tôi đã cố gắng phân tích tâm lý sáng tác hay sáng tạo của Nhà Thi & Hoạ LNĐ theo trường phái Văn Luận khoa học hiện đại „Phân tích Tâm lý Học“ của Freud.
Nhưng quả thật tôi chưa thể nói đầy đủ về thiên tài văn học nghệ thuật LNĐ. Tôi xin cố gắng giải thích cho rõ ràng hơn.
Có thể sự mất mát tình cảm gia đình lẫn sự giáo huấn của cha, sự cô đơn khi một mình quyết định vào „xứ“ Sài Gòn mùa hè năm 1954, khi Cậu bé Đạt mới mười bốn tuổi cũng là một nguyên nhân quan trọng để Đạt tự rèn luyện quyết tâm và ý chí kiên cường vượt thắng mọi hoàn cảnh tự lập thân và thành công. Vào Sài Gòn khác nào như một cuộc đổi đời khi cậu học trò mới lớn này thêm một lần nữa mục kích thực tế khi tiếp xúc với những con người hiếu khách, bình dị và ngay thẳng của Miền Nam và cũng lại đi vào những thiên đương đầy ảo mộng khác như thời gian vào học nội trú ở Trung học Lycée Yersin Đà Lạt, cũng là ngôi trường của người Pháp, chỉ dành riêng cho con em họ hay con cái các gia đình thượng lưu Việt Nam như Lycée Albert Sarraut, Hà Nội, hay Lycée Chasseloup Laubat ở Sài Gòn.
Đà Lạt, phong quang đẹp đẻ với núi đồi chập chùng, suối hồ thơ mộng, chẳng khác một thiên đường xinh tươi đầy hoa thơm cỏ lạ. Chính LNĐ cũng nhận như vậy: „Tôi ‚tìm ra‘ Đà-Lạt như một thiên đường nhỏ…“ Ở đó, LNĐ bắt đầu học hỏi được các trường phái Văn học thế giới và „sáng tác thơ phú“, như Đạt nói với Hồ Trường An. Và còn tâm sự thêm với Nhà văn về Đà Lạt: „Tại nơi mà cảnh vật thì tuyệt đẹp, trong sáng, người thì hiền hoà, ấm áp, hồn nhiên, tôi đã bừng sống toàn diện, với nhưng tình cảm sâu đậm, trọn vẹn đến ngày hôm nay. Tại nơi đó, tôi đã gặp Phùng Thị Hạnh, và biết thế nào là tình yêu, như một giọt sương tinh khiết, trên triền cỏ gần mây ngũ sắc…“(5)
Thời gian kế tiếp, gần một năm sau, LNĐ đoạn tụ với gia đình, mẹ cải giá, bố dượng là Luật sư Vũ Đăng Dung, sau năm 1954 đem cả gia đình vào định cư ở Huế. Ông được bầu làm Thủ Lãnh Luật Sư Đoàn Toà Thượng Thẩm Huế suốt hai mươi năm sau đó cho đến ngày Miền Nam sụp đổ.
Dĩ nhiên trong hai thập niên đó dù đi học ở đâu hay ngay cả khi đã tốt nghiệp Đại học Văn Khoa và Luật Luật khoa rồi LNĐ cũng về với mẹ, bố dượng và các em ở Huế. Lại thêm những thời kỳ LNĐ sống và hít thở không khí của một thiên đường thơ mộng khác với Sông Hương, Núi Ngự, với „tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương“ mơ hồ và huyền hoặc trước Tết Mậu Thân 1968. Và rồi chính Ông cũng đã mục kích cảnh Huế chít khăn sô, xương trắng, máu đào tràn ngập, sau Tết Mậu Thân năm 1968. Nghĩa là LNĐ một lần nữa mục kích thiên đường và địa ngục ở cùng một nơi như Hà Nội của quá khứ.
Nhưng tất cả rồi cũng mất đi, tan biến nhanh như ảo ảnh… sau cuộc đổi đời của Việt Nam sau ngày 30/4/1975. Và cái tồn tại trong tim óc ông là Tình yêu và sức mạnh của tinh thần Cầu tiến.

Phu nhân của Ông, bà Phùng Thị Hạnh đã nói rõ các sở hữu quí báu này của Ông trong một bài viết khá thú vị và tĩ mĩ, xin trích một vài đoạn ngắn:

-1). „Kiến thức: Lưu Nguyễn Đạt học rất giỏi trong trường; thi cử từ tú tài tới 2 bằng Cử nhân Văn khoa, Luật khoa đều đứng hạng ưu; sau ngày mất nước, Anh đi học lại lấy bằng Cao học, rồi Tiến sĩ Văn chương Pháp tại Michigan State University, rồi Cao học Hậu Tiến sĩ Luật tại Howard Law School. Học hỏi, kiến thức làm Anh bớt trống trải, cô đơn, đến độ như „nghiện học“ cho tới ngày nay; học vẽ, đúc tượng, sửa nhà, kỷ thuật in ấn sách báo, điều hành báo mạng, v.v…Đọc sách nhiều, học hỏi rất kỹ lưỡng và sẵn sàng bổ túc mọi thiếu sót khi bắt tay vào việc.“

-2). „Tình yêu: Đối với Lưu Nguyễn Đạt, tình yêu là ĐAM MÊ, sống hết lòng với người Anh yêu quý. Tôi may mắn được Anh chọn, vừa để bù đắp nổi cô đơn bẩm sinh của Anh, mà còn là nguồn sống và sáng tạo của Anh. Gia đình, con cái, bạn bè, thân phận con người đối với Anh là cả NỔI QUAN TÂM HÀNG ĐẦU. Trước mặt và sau lưng họ, Anh luôn luôn dành những điều xót xa, tâm nguyện, ao ước chân thực. Anh vừa sống để yêu và yêu để sống.“

-3). „Tình yêu đối với Anh là chìa khoa của nổ lực sinh tồn, tái tạo. Tất cả những gì Anh làm, sống, và sáng tạo, là vì tình yêu, nhờ vào tình yêu. Do đó, Anh sẽ âm thầm xa lánh người, xa lánh cảnh vật chung quanh nếu cảm thấy thất vọng. Lúc đó Anh sẵn sàng cắt bỏ, không một lời than phiền.“(6)

Đoạn đầu:

Kiến Thức, Bà PTH ghi nhận tài năng bẫm sinh của LNĐ, và nói rõ sự „nghiệp học“ của Ông. Trong đó Ông học cả vẽ, đúc tượng…và nhiều thứ khác, để cảm thấy bớt cô đơn, trống trải. Sự cô đơn của một người có chữ nghĩa, đọc nhiều sách, cũng dễ khiến cho người đó viết văn, làm thơ…
Đoạn giữa: Tình Yêu, Bà PTH cho rằng, đối với LNĐ, Tình yêu là „ĐAM MÊ (viết chữ hoa), sống hết lòng với Người anh yêu quí.“ Bà cũng cho rằng Bà may mắn được Anh chọn vừa để bù đắp nỗi cô đơn bẩm sinh của Anh, mà còn là nguồn sống sáng tạo của Anh…Vậy, ta biết thêm một động lực, hay sức manh vô cùng lớn lao, tạo cảm hứng cho anh sáng tác, đó là sự hiện diện và tình yêu của một người đẹp trong đời LNĐ, Bà PTH đã cho Ông có đối tượng tạo cảm để làm thơ, vẽ tranh, tạc tượng.
Bà PTH cũng nói thêm mà tôi hiểu là ngoài bà ra, thì gia đình, con cái, bạn bè, thân phận con người, đối với Anh là cả NỖI QUAN TÂM HÀNG ĐẦU (cũng viết hoa, chữ lớn). Căn cứ vào đoạn văn nầy, ta thấy rõ ràng hơn tình yêu đối với Người Yêu PTH, tuy rất ĐAM MÊ, nhưng không phải là tình yêu đam mê duy nhất, mà LNĐ còn có tình yêu lớn với con cái (Lưu Thiên Kỳ, Lưu Huệ Chân, Lưu Thế Khải, và Lưu Việt, đã trưởng thành và thành công thành danh), với bạn bè, và với thân phận con người là mối tình rất lớn của LNĐ. Như vậy chính cái Đam Mê hay Tình yêu của LNĐ rất rộng lớn, hay có thể nói là vô biên. Với một người có nhiệt tình như vậy thì việc sáng tạo thi ca nghệ thuật tất nhiên rất là phong phú, súc tích vô cùng.
Đoạn trích dẫn cuối, quan trọng hơn để biết rõ tại sao LNĐ, một con người đã mang kỹ vãng và tâm trạng dị biệt, khi đã từng mục kích sụ tàn phá khủng khiếp của chiến tranh trên đất nước Việt Nam như thuở thiếu thời ở Hà Nội và tuổi trưởng thành ở Huế, cũng như đã nhìn thấy cảnh thiên đường ở các nơi đó MÀ TẠI SAO TRONG THƠ VÀ TRANH CỦA ÔNG trong LỜI CỦA CÁT không thấy một chứng tích nào của địa ngục, của đất nước bị tàn phá như thơ của một Hoàng Cầm, một Quanh Dũng của Miền Bắc, hay một Tô Thuỳ Yên, một Văn Nguyên Dưỡng của Miền Nam.
Tranh của LNĐ cũng vậy, không có nức tranh nào gây ấn tượng đổ nát vì chiến tranh của Picasso thuộc Trường phái Lập Thể [Cubisme] ở Châu Âu, hay thực thể sống động như tranh của Renoir, Trường phái Ấn tượng [Impressionisme], mà toàn bộ tranh trong tập thơ này của Ông đều có màu sắc tươi sáng nhưng huyền ảo như cảnh thiên đường. Quả thật, như Bà PTH viết Ông „Xa lánh cảnh vật chung quanh nếu cảm thấy thất vọng. Anh sẵn sàng cắt bỏ không một lời than phiền“. LNĐ đã cắt bỏ mất dĩ vãng của quá khứ tang thương điêu tàn của đất nước mà Ông đã mục kích. Ngược lại, hình ảnh trong thơ và tranh của LNĐ hướng thượng một cách huyền diệu, uyên thâm như là một sự chối bớt hiện thực, tạo ấn tượng và cảm giác của một nhà lãng du đi tìm thiên đường hay đi tìm chân lý của kiếp người, hoặc đi tìm lại quá khứ huyền ảo đã mất như một Bùi Giáng ở thế kỷ trước hay một Gerard de Nerval của Pháp ở đầu Thế kỷ XIX…
Vậy, thực chất, thơ và tranh của LNĐ như thế nào?.

NHẬN ĐỊNH VỀ THƠ VÀ TRANH
CỦA LƯU NGUYỄN ĐẠT
TRONG TẬP THƠ LỜI CỦA CÁT.

Trước khi xuất bản, LNĐ đã gởi bản thảo cho một số bạn thân thuộc giới trí thức, nhà thơ, nhà văn, học giả Việt Nam ở hải ngoại. Gần ba mươi bạn hiền của Ông đã gởi lời nhận định về thơ và tranh của Ông. Tôi xin trích 2 bài nhận định ngắn mà tôi thích nhất để quí vị độc giả yêu thơ cùng đọc, trước khi tôi trình bày quan điểm của tôi về tập thơ LỜI CỦA CÁT (vì khá dài, nên tôi không đăng ở đây, chỉ sẽ đăng ở Diễn đàn Việt Thức một ngày gần đây).
Nhận định Thứ Nhất, của Tiến sĩ TRẦN BÍCH SAN (TS Trần Gia Thái):
„Thơ Lưu Nguyễn Đạt không những là sự giải thoát tiềm thức như Breton, mà đúng ra là sự bùng nổ nhưng com chữ mới, ý mới, hình ảnh mới. Không chỉ „phải lòng chữ nghĩa“, Lưu Nguyễn Đạt còn „làm tình với chữ nghĩa“. Mỗi câu, mỗi bài trong LỜI CỦA CÁT ngôn ngũ Việt đã được phong phú thêm bởi nhà „phù thủy của chữ nghĩa“. Như Valery quan niệm, Thơ Lưu Nguyễn Đạt, đọc xong không phải là hết, thơ không phải đã chết đi sau khi đã sống (Le poème ne meurt pas pour avoir vecu -Paul Valéry), chữ nghĩa cùng âm điệu quyện vào nhau cộng-hưởng-vang-vọng rung lên bất tận trong tâm hồn chúng ta sau khi đọc thơ Lưu Nguyễn Đạt“. (6)

Nhận định Thứ Hai, của Cô CHRISTINE NGỌC HOA:
„Le poète alors isolé dans son voyage terrestre muet de terreur et d’angoisse, reprend le chemin de retour à la création originelle…“ me fait beaucoup penser à „l’Albatros“ de Beaudelaire. Vos paroles sont en elles-même de la poésie pure, ayant le pouvoir absolu de suspendre au temps, son vol… Poesie limpide, et fragile, comme le crystal, et fragile, comme l’image féminine évoquée ici, m’a été salutaire. Paroles envou- tantes, elles sont passionantes et ir-résistibles! Oui, j’ose effleurer et errer, „pieds nus“ sur la plage vierge, pour le plaisir de savourer, les yeux fermés, visage et cheveux au vent, le son magique des vagues ensorce-lantes de vos „paroles de sable“. (7) Tôi xin để nguyên lời nhận định viết bằng Pháp văn sợ „dịch là phản dịch“ sẽ làm chói mắt độc giả. Để chứng minh các nhận định trên đây, xin trích hai bài thơ ngắn tiêu biểu từ tập thơ Lời của Cát. Mời độc giả thưởng thức.

ĐÊM TRẮNG HẠ
đêm trắng hạ mưa buồn như suối vỡ tóc bạc tuyền dòng chữ nối ngẩn ngơ
rừng lá vội cành khô buông tay nối phân vân vào gốc vắng hoang sơ

mưa thiêm thiếp ngủ vùi trong khát vọng
từng giọt sa thầm kín mắt huyền mông
em yên lặng nửa đêm lay tiếng sóng
khóc mỗi lần giọt xót ứa trong lòng

vết dấu tạm thì thầm trong bóng tối
con đường đài mải miết nỗi chơi vơi thời gian hoá siêu hình trong nắng vợi
bỗng đêm qua một nét ửng vành môi

em tới đó ngâm hồn vào biển cả
giạt về đâu hạt cát giữa phù sa
ta luồng gió lạnh như vùng xa lạ
vẫn bay ngang vực tối ẩn hồn hoa

****

MẶT TRỜI CHƯA MÀU SẮC

đêm thần thoại mặt trời chưa màu sắc
đã có em trầm tưởng nối dòng sâu thân kiếp lạ thoáng hồng nguyên lần cuối
trước rạng đông và tiếng gọi từ lâu

dòng hiện hữu cột cây nghiêng rừng núi
lắng tai nghe từng giấc lặng thầm vui
say hồn nước và ngây buồn đất tủi
thời gian qua bát ngát hạt sương vơi

lòng nhân loại có em thêu tình sử
hoá bụi trần thành đá biếc giữa đời
(Mỗi bài thơ đều có bản Pháp văn do chính tác giả dịch, không tiện ghi vào đây)

Ngoài tập thơ LỜI CỦA CÁT, LNĐ còn có thêm 6 tập thơ khác: Vùng Cao Nước Ẩn, Hồn Nước, Ca Tụng Niệm, Như Hoa, Nắng Đêm, Thơ Xanh. Được biết trong năm 2019 này, Nhà Thi & Hoạ LNĐ sẽ đúc kết một „TOÀN TẬP THƠ LƯU NGUYỄN ĐẠT“ gồm hơn 700 bài thơ mới và cũ. Hiện đã có hơn 60 bài thơ của Ông đã được phổ nhạc. Xin trân trọng giới thiệu cùng độc giả. Xin liên lạc với tác giả ở:
Điện báo Việt Thức: [www.vietthuc.org]
VĂN NGUYÊN DƯỠNG
Tháng 3/2019

GHI CHÚ:
(1).-Thời Luận Văn Luận Lưu Nguyễn Đạt – Việt Thức 2017, các trang 535-560. „Hồ Trường An Trò Truyện Với Văn Thi sĩ Lưu Nguyễn Đạt.“
(2).-Như trên, các trang 562-565. „Lưu Nguyễn Đạt Người và Thơ“, của Phùng Thị Hạnh.
(3) & (4).- Xem trong bài viết ở (1).
(5) Xem trong bài viết ở (2)
(6) & (7).- Trang bìa sau tập thơ LỜI CỦA CÁT của Lưu Nguyễn Đạt

Hãy ghi ý kiến, thắc mắc của bạn vào đây:

Trage deine Daten unten ein oder klicke ein Icon um dich einzuloggen:

WordPress.com-Logo

Du kommentierst mit Deinem WordPress.com-Konto. Abmelden /  Ändern )

Google Foto

Du kommentierst mit Deinem Google-Konto. Abmelden /  Ändern )

Twitter-Bild

Du kommentierst mit Deinem Twitter-Konto. Abmelden /  Ändern )

Facebook-Foto

Du kommentierst mit Deinem Facebook-Konto. Abmelden /  Ändern )

Verbinde mit %s