MỘT HÀNH TRÌNH THƠ 1948-2018

CUNG TRẦM TƯỞNG – MỘT HÀNH TRÌNH THƠ 1948-2018

Không Quân Võ Ý.

Lời mở đầu của người viết:
Được biết, vào trưa Chủ Nhật, ngày 17 tháng 11 năm 2019 tới đây, Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng sẽ ra mắt tập thơ „CUNG TRẦM TƯỞNG – MỘT HÀNH TRÌNH THƠ 1948-2018“ tại Little Saigon. Tập thơ bề thế do Tủ Sách Tiếng Quê Hương tái bản hoàn chỉnh lần thứ 1, gần 700 trang in trên giấy vàng bìa cứng, rất đẹp và trang nhã. Để hỗ trợ cho một công trình văn học ròng rã 70 năm của Lão Thi Nhân, cựu Không Quân, cũng là „Con Của Thượng Đế,“ tôi mạo muội viết vài dòng để tỏ lòng ngưỡng mộ một nhân tài rất nhân bản của Việt Nam Cộng Hòa.
Trân trọng,
Không Quân Võ Ý

Từ một thanh niên du học Pháp đến một “quan văn” tại Bộ Tư Lệnh KQ, từ một tù nhân chính trị sau 30/04/75, đến một người Việt lưu vong, tính chất thơ của Cung Trầm Tưởng (CTT) cũng biến thiên theo năm tháng.
Trước 1975 và ngày nay hầu như ai ai cũng thuộc mấy câu “lên xe tiễn em đi chưa bao giờ buồn thế,” qua đó, nét tiêu biểu của thơ CTT trước 1975 là tính lãng mạn trữ tình và tính cách tân, hòa quyện với nhau:
Mùa thu Paris/ Trời buốt ra đi/ Hẹn em quán nhỏ/ Rưng rưng rượu đỏ tràn ly. Hoặc:
Thôi em xanh mắt bồ câu/ Vàng tơ sợi nhỏ xin hầu kiếp sau.

Nét “cách tân” được CTT mang về sau khi ông tốt nghiệp kỹ sư trường KQ từ Pháp. Dù vậy, CTT vẫn không quên những thành ngữ chữ Hán của người xưa như: “tam thập nhi lập, thất thập cổ lai hy”, v.v…
Thử điểm nét tiêu biểu thơ của CTT qua từng giai đoạn cuộc đời, từ cậu học trò mười tám đôi mươi của núi Nùng sông Nhị, về Nam tâm sự, đến lão ông tuổi 80 ly hương xứ Vạn Hồ nước Mỹ.

Tuổi Thiếu Niên

Chàng trai Hà Nội, mới 16 tuổi, vậy mà, hồn thơ “như cái đĩa thâu thanh” đã phát tiết ra ngoài sứ mạng của thi nhân:
Tuổi lợ trai tân còn hoi sách/Tối ngày bập bẹ nhớ và thương.
Rượu người mận ngọt hay mơ đắng?/ Dò dẫm chân đi chữa biết đường.

Tuổi 30, tam thập nhi lâp

Là sĩ quan không quân, đẹp trai, tây học lại là thi sĩ, nếu mỹ nữ không liếc mắt đưa tình thì cũng được chàng thi sĩ mê đắm tôn vinh:
Từ ấy tôn vinh thần Vệ nữ/ Tóc vàng màu rạ, dáng mình dây.
Xin quỳ bốn vái và ba lạy/ Trả trọn mây mưa xuống vẹn đầy.


Cứ thế ngày đi và tháng tới/ Yêu người yêu đến cả tình yêu.
Sông sâu, nước rộng, dài nhung nhớ/ Em choán hồn anh đủ bốn chiều.


Tuổi 40, tứ thập nhi bất hoặc

Nghĩa là đã đầy đủ phù phép nên làm gì cũng chín chắn, kể cả khi mời “cháu gái” vào vũ trường:

Tuổi dắt mây đi, dìu nắng tới/ Cái nhi bất hoặc quấn lên đầu,
Tôi đi thu nghiệm thêm màu phép/ Níu giữ mặt trờ đứng ngọ lâu.


Hãy giữ tình đi cho đúng bước/ Như hồng má phớt chút mưa qua
Như môi pha thoáng màu sầu lự/ Phảng phất hương ngâu trước thềm nhà.


Tuổi 50, ngũ thập di nhĩ thuận

Mọi việc bỏ ngoài tai, nhẫn nhịn cho yên chuyện.
Nhưng với nhà thơ thì ở tuổi nầy, ông đâm nghiện, nghiện đắm đuối men tình yêu:

50 tuổi dấy lên tàn lửa/ Nhắp chút men tình, chuốc lấy say,
Cái tuổi ba giờ trưa vẫn nắng/ Có lời tâm sự gửi thời gian.


Em có nghe rơi thầm dạ khúc/ Vui giờ mà rớm lệ ngày sau
Yêu nay nhớ để dành lưu luyến/ Chờ hứng cho hay cái kết sầu.


Đến nắm tay nhau truyền ấm áp/ Tôi làm chiếc ghế lót trăng đêm
Mời cô ngồi xuống nồng hơi lụa/ Để đá như da cũng biết mềm.

Tháng 4 đen

Nhà thơ và phần lớn đồng đội của ông bị đẩy vào nhà tù cộng sản.
CTT bị tù khổ sai 10 năm, ra tù năm 53 tuổi.

Từ một Trung Tá KQ, Trưởng Phòng Kế Hoạch Hành Quân thuộc BTL/KQ, nay nếm mùi tù đày và chính sách trả thù của cộng sản, CTT thấy rõ sự bạo tàn của chế độ đối với người dân miền Nam như bóc lột, đổi tiền, phân biệt lý lịch, hà hiếp vợ con của Quân Cán Chính VNCH, thơ ông bắt đầu nhả đạn vào bè lũ vô đạo nầy:

Có sông nhưng mà người không nước/ Nước bán son rồi, bán lấy chi?

Một núi hư vô lầm chủ thuyết/ Bốn bên mây phủ kín màu chì.

Nó cõng vua Lê và chúa Mác/ Về quê cha giết mẹ hiền lành

Tang sô bạc xóa đầu con trẻ/ Cỏ ngút sân trường, chợ vắng tanh.

Một bầy táng tận lương tâm/ Ăn hồ, ăn giẻ, ăn vần ngày công

Ăn tranh trẻ đói lọt lòng/ Ăn lường tiếng khóc khép vòng tử sinh

Ngón đòn lý lịch ly kỳ/ Cha là “ngụy”, phạm trường quy con rồi.

Nộ Thi (43 – 53 tuổi, trong tù)

Với 10 năm tôi luyện trong ngục tù của quỷ đã biến CTT thành một lão tướng trên trận địa quan điểm và chữ nghĩa. Giai đoạn nầy, thơ ông biểu hiện nỗi uất hận chế độ bạo ngược (Lời Viết Hai Tay, được đồng đội gọi là Nộ Thi), bằng cách vạch mặt sự tuyên truyền bịp bợm của cộng sản và Nộ Thi quyết một mất một còn với cái ác qua lập trường quốc gia dân tộc:

Bài học rút ra thật dứt khoát/ Nó, tôi chẳng thể đội chung trời.

Nó còn tôi mất, đơn sơ vậy/ Nó mất tôi còn, chỉ thế thôi.

Hãy chặt chặt sâu, tông phắt phắt/ Hãy phang phang gắt, quắm ào ào.

Mai về đạn nhảy ngay nòng súng/ Trực chỉ đầu thù nổ thật mau!

Mai sau thịt thắm da liền/ Cái yêu khác trước, cái nhìn khác xưa,

Cái tin vô cớ xin chừa/ Sống sao cho xứng lũy thừa thương đau.

Giai Đoạn Lưu Vong (1993 -) (61 – 80 tuổi)

CTT và gia đình định cư ở Mỹ năm 1993, năm ông 61 tuổi. Khi bước vào tuổi thất thập và bát tuần, lòng ông vẫn nồng nàn yêu thương và mong muốn trải rộng yêu thương khắp nhân loại khắp địa cầu, núi non sông nước, cây cỏ chim muông:
Nghe châu Mỹ, ngóng châu Âu/ Dưỡng nuôi nhân bản, đỡ đầu hành tinh.
…Khẳng khiu một nhánh xương rồng/ Giữa sa mạc cát vẫn nồng nhựa say.

Tuổi 87+

Đã ngoài 80, ông vẫn trân trọng một “luyến ái quan không tuổi”:

Mỗi lần nói thương nhau/ Là cách tân ngôn ngữ.
Anh trẻ ra trăm tuổi/ Khi em nói yêu anh”.

Cũng ở tuổi này, thi nhân trau chuốc “Một Tiếng Hát Ưu Lương” vì ông khẳng định, “thi nhân là con cách riêng của Thượng Đế”, mang sứ mạng xuống trần gian để tô điểm cuộc đời. Đã là con thì mỗi người có mỗi cách báo hiếu cho cha mình. Lễ vật báo hiếu độc đáo của thi nhân là những vần linh thi ưu lương diễm lệ uyên áo và hùng vĩ do mình sáng tác để dâng lên Ngài.

Đời sau này có tiếng hát ưu lương/ Cất từ miệng chàng thi nhân hiếu tử
Kể từ đó, trên phong nhiêu Trái Đất/ Những mùa vàng ủ đợi cuối đường hoa.
Không gian xanh gió lộng, nắng chan hòa/ Giục giã bước người đi làm lịch sử.

Kết Luận:
Người đi làm lịch sử phải là một chính nhân quân tử. Người quân tử như cây trúc, tiết trực tâm hư. Ở rừng núi Hoàng Liên Sơn có cây “Vầu”, cùng họ với tre, nứa và trúc, nhưng cao và to lớn uy nghi hơn tre nứa trúc cả chục lần. Hàng ngàn năm qua, Vầu sống âm thầm trong rừng già Việt Bắc, bỗng sau ngày 30/04/1975, Vầu đi vào thơ của CTT qua bài Biểu Tượng mà tôi vẫn thuộc lòng sau hơn 40 năm:

Cực hình thú ác gây nên/ May bằng nứa tép đứng bên Vầu già
Mỗi ngày Vầu mỗi cứng ra/ Đổi thay lá mới, đậm đà lóng tươi
Vầu đanh như thép sáng ngời/ Nắng mưa thì cũng chọn đời đứng ngay.

Và đó là bóng dáng và nhân cách qua thơ của một thi nhân, con của Thượng Đế, cũng là chiến sĩ của Quân Lực VNCH, nhà thơ Cung Trầm Tưởng!
Westminster 08/28/2019
Bắc Đẩu Võ Ý

Trần Phong Vũ :

Trân trọng kính chào quý vị, quý bạn trẻ,

Như bảy năm trước, hôm nay, một lần nữa tôi xin giời thiệu sơ qua về tủ sách TQH và đặc biệt về nhà thơ Cung Trầm Tưởng, tác giả thi phẩm đồ sộ này.
Nói tới tủ sách TQH, không thể quên nhà văn Uyên Thao, một người suốt đời cặm cụi, lầm than với giấy bút. Anh bị CS cầm tù hơn 10 năm, sau đó lại bị cấm ra khỏi nước. Nhờ vận động quốc tế, năm cuối cùng thế kỷ trước, anh qua Mỹ.
Đầu năm 2000, anh cùng bạn bè thành lập tủ sách, và ngay lập tức cho ra đời 5 tác phẩm của 4 nhà văn tên tuổi miền Nam. Truyện ngắn “Thân Phận Ma Trơi”, hồi ký “Giữa Đêm Trường” của Nguyễn Thụy Long, truyện dài “Ngã Tư Hoàng Hôn” của Văn Quang. Sau đó là thơ “Vương Đức Lệ” và hồi ký “Sống & Chết ở Sàigòn” của Hoàng Hải Thủy.
Mỗi năm, tủ sách ấn hành từ 4 đến 5 tác phẩm, tổng cộng đến nay là 90 đầu sách, trong đó có hơn 30 nhà văn trong nước, tiêu biểu như Bùi Ngọc Tấn đóng góp cho TQH 4 t ác phẩm.
Số còn lại là ngót 60 tác giả hải ngoại, mà vì giới hạn thời gian, xin lỗi, tôi không thể nêu tên.
Sau khi hoàn tất Hành Trình 70 năm Thơ ra mắt hôm nay, tiếp tay tổ hợp Cành Nam tái bản tập thơ ”Hoa Địa Ngục”, tập truyện ”Hỏa Lò”của Nguyễn Chí Thiện, hiện Tủ sách đang chuẩn bị tái bản tác phẩm ”Sợ Lửa” của nhà văn lão thành Doãn Quốc Sỹ.
Sau 2 thập niên hiện diện trong hoàn cảnh khó khăn về mọi mặt, với ngót 100 đầu sách, tuy không nhiều, nhưng cũng nói lên những hy sinh, đóng góp đáng kể của những trái tim Việt Nam trong và ngoài nước còn nặng lòng đối với những sản phẩm chữ nghĩa mang nặng hồn tính dân tộc.
Được như thế phải nói tới sự kiên trì, tận tụy của Uyên Thao.
Và bây giờ, tôi xin có đôi lời về khuôn mặt chủ của buổi sinh hoạt văn học hôm nay, thi sĩ Cung Trầm Tưởng.
Trước hết, tôi phải cám ơn anh. Lần in đầu 7 năm trước, anh đã mời tôi nói về anh trong buổi ra mắt ở Viện Việt Học. Hôm nay anh lại cho tôi cái vinh dự ấy trong một bối cảnh khác. Không phải là buổi giới thiệu sách thông thường, mà là một tiệc Agape, một bữa ăn thân tình, giữa những con người biết yêu thương, trân quý nhau.

(Tôi mạo muội xin quý vị, quý bạn dành một tràng pháo tay thật dòn dã để chúc mừng nhà thơ).
Để tỏ lòng tôn trọng quý vị mà hầu hết đều biết rõ về thân thế, sự nghiệp nhà thơ, tôi sẽ không nói tới chuyện ông du học nước này nước nọ, tốt nghiệp những trường danh tiếng ở Pháp, ở Mỹ, từng là Sĩ Quan cao cấp trong không lực VNCH.
Tôi cũng sẽ không đề cập chuyện một thời ông chung chiếu với những văn thi sĩ hàng đầu miền Nam trên các tạp chí văn học lẫy lừng của Sàigòn kiếp trước.
Tôi chỉ xin chia sẻ với quý vị đôi điều về nhân cách, con người của tác giả trong đời thường cũng như những gì tôi cảm nhận qua Hành Trình 70 năm sống chết với thơ của ông.
Tháng 2 sang năm, nhà thơ họ Cung 88 tuổi, hơn tôi chẵn 15 ngày. Với một người bị CS cầm tù 10 năm, qua Mỹ năm 93 lúc đã 61 tuổi, quý vị thừa hiều đời sống của ông khó khăn đến mức nào. Nhưng nhìn mái tóc bạch kim, thần thái ung dung, diện mạo sáng rỡ, toát ra một vẻ an nhiên, phiêu hốt của một tâm hồn bình an khác thường, tôi hiểu tại sao, trong cảnh ngộ cay nghiệt nhất, nhà thơ vẫn giữ được một nhân cách hơn người.
Thế hệ tác giả và tôi, sinh 6/7 con không phải chuyện lạ. Điều lạ  là với một nhà thơ lừng lẫy như ông, qua những lần gặp gỡ riêng tư, tôi nhận ra ông là một người chồng, người cha rất có tinh thần trách nhiệm, ngay cả trong lúc ở tù.
Nó không chỉ gói ghém trong những vần thơ tặng mẹ các cháu, như những bài ”Vô Vàn”, ”Mùa Chay”, ”Đường Vào Thiên Thu”, mà ngay cả những dịp họa hiếm khi có cơ hội nhắn tin cho vợ con. Những lần như thế, ông đều lập lại điều ông từng thủ thỉ bên tai người bạn đời trước ngày đi tù, dù sống trong cảnh ngộ nào, mẹ ở đâu, các con ở đó. Không ngờ, sau khi ra tù được gọi đi phỏng vấn qua Mỹ, cả 7 con ông đều trót lọt. Chúng đáp ứng được tất cả những điều kiện. mà khó nhất là phải có chung hộ khẩu.
Trong 10 năm khổ sai, ngoài nỗi đau mất nước, điều thi sĩ hận nhất là đã bị cướp mất 10 năm để dạy dỗ các con. Cho nên sau ngày ra tù, lúc kẹt trong nước và suốt thời gian ở Mỹ, ông luôn gần gũi, hướng dẫn các con trong đạo làm người.
Đấy là tinh thần trách nhiệm của người cha, và cũng là nhân cách phi phàm của một nhà thơ lớn.
Lương thiện trí thức không cho phép ông né tránh vẽ lại trong thơ  những sự thật xúc phạm đến con người. Nó bộc lộ qua  bài ”Chúc Thư Của Một Người Lính Vô Danh”, trong đó, ông không sợ bị coi là phản chiến khi dám nói thẳng về những cái chết vô nghĩa của bạn cững như thù, để lên án chiến tranh. Đến như bài ”Một Nhà Thờ Kỳ Quặc” thi sĩ cũng không ngại nói ra những nét tiêu cực của Công Giáo, một tôn giáo ông vốn quý trọng. Là người CG, tôi không chỉ đồng tình, mà còn cảm phục nhà thơ.
Một đặc điểm khác là trong ngót 26 năm ở Mỹ, dù thương nhớ quê hương, chưa một lần ông về Việt Nam. Ông nói: Với một chế độ như thế làm sao tôi có thể về được?!
Khác hẳn thiểu số nghệ sĩ đã thành danh, hãnh tiến thu mình trong tháp ngà vị kỷ, ông chia sẻ nỗi đau phận người. Nó bộc lộ công khai ở quan niệm nghệ thuật vị nhân sinh của người thơ.
Qua thơ, ông bày tỏ tâm trạng xót thương thân phận hẩm hiu của những nàng Mạnh Kha, Tô Thị thời đại, trong đó có mẹ các con ông. Nhân cách ấy còn bộc lộ qua cái nhìn nhân bản của ông.
Trong lời tựa ”Bài Ca Níu Quan Tài”, nhà thơ xác quyết:  ”là một thiếu sót đáng trách, nếu nghệ thuật dửng dưng không nói đến sự Ác”. Trả lời phỏng vấn Viethome magazine, trang 555, ông nói ”Theo tôi, sự im lặng của người chứng kiến tội ác, nếu không là một hành động a tòng thì cũng phải lên án”.
Vì thế, nghĩ tới những bạn tù đã chết như những dũng sĩ bất khuất trước bạo lực ông viết, xin trích: ”hắn tự cảm thấy nhỏ bé, bất cập của những vần thơ hắn viết trước tầm vóc kỳ vỹ của những tấm gương anh hùng, và hắn cũng tự cảm thấy chữ nghĩa của mình chỉ như dăm ba giọt lệ trước nỗi bi thống mệnh mông như đại dương của dân tộc.”
Qua những lời tự thú này của thi sĩ ai dám nói rằng nhà thơ lớn của chúng ta thiếu tinh thần khiêm hạ?
Thưa quý vị,
Khiêm hạ và yêu thương con người, chống lại sự ác, chính là cửa ngõ mời gọi thi nhân tìm vào dòng thơ tôn giáo.
Nhân đây tôi phải cám ơn tác giả và nhà văn Võ Ý đã đề nghị dành cho tôi một tiết mục riêng để bàn về dòng thơ này, nhưng vì lý do tế nhị, tôi đã xin miễn.
Dù sao, để đáp lại phần nào tấm lòng tri ngộ ấy, nhân đây, tôi sẽ dành vài phút cuối, lướt qua thật nhanh những dòng thơ trân quý này của thi sĩ.
Cũng cần nói, đây chỉ là một số nhỏ trong mảng thơ linh thánh của người thơ. Và để giữ thái độ vô tư, tôi chỉ trích đọc nguyên văn mà không nhận xét hay bình luận.

*Bài ”Lệ chuông” trang 138 sáng tác ở trại tù Tam Hiệp năm 76 vào một ngày đầu xuân. Ông viết:

”Bỗng từ xứ đạo gióng chuông reo // Thánh thót nghinh tân chút nghẹn ngào // Giòn giã thanh âm giòn giã đổ  // Cho hồn chắp cánh, hồn bay cao // Ba chiều Trời Đất một chiều Tin // Bốn phía chuông vang rộng mắt nhìn // Mấy thuở rồi sao giờ lại khóc // Lần đầu ấp úng lệ Amen.”

*Bài ”Nguyện Cầu Mùa Thu”  trang 140 viết ở nhà tù Hoàng Liên Sơn năm 77 có những câu:
”Thu này ngồi viết thơ kinh // Xin Trên ban phước an bình từ tim”, ”Cho lòng về với chân thân // Ngón tay mến Chúa được lần hạt châu”

*Bài “Đường Lên Giang Nứa”  trg 151 cũng viết ở HLS năm 77, người thơ vẽ ra trước mắt:
”Đường lên Đồi Sọ, Chúa rơi // Những dòng máu thắm cho đời mai sau”//. Từ đấy, ông tự nhủ lòng: ”Vai này xá kể gì đau – Dù cho có vác lấy sầu chung thân!”

*Bài ”Đêm niệm”  trang 189 viết ở trại tù Hà Tây, Giáng Sinh 80, thi sĩ trải lòng ra:
”Ngửa tay hứng cho đầy // Dòng Phúc Âm tuyệt diệu..”. rồi dẫn vào hai câu kết: ”Mấy năm tầm học đạo // Tin yêu vớt nửa hồn.”

*Đến bài ”Mùa Chay” nơi trang 210,  nhà thơ viết tặng người bạn đời của ông thời gian bị tù ở Hàm Tân năm 84, với những câu: ”Anh chờ em giữa trần ai  // Lễ dâng nhà nguyện, miệt mài mùa chay”

*Bài ”Chủ Nhật Niềm Tin Màu Huệ Trắng”  trang 402 Tôi đếm được 15 câu đậm đặc sắc màu tôn giáo, chỉ  xin trích đọc vài câu:
”Thánh giá em đeo đáy mắt nhìn  //  Chủ Nhật cây me quỳ xám hối  // Rì rào chắp lá phượng amen //… Sớm nay chủ nhật thơm thiêng quá  // Vì có Nhà Thờ trong mắt em.”

*Bài NÚI VÀ SUỐI MỘT HUYỀN SỬ trang 439 trong tập  ”Những dấu Chân Ngang Trên Một Triền Phiếm Định”, một mảng siêu thơ uyên áo, ảo diệu với ngôn từ được thi sĩ trầm hồn thanh luyện như luyện kim trong lửa -sáng tác ở một nơi ông gọi là Núi Mây Tần:
”Sớm đến tìm nhau làm lễ hiến  //  Cái phần thần diệu của lòng sâu  // Xa nhau xin hãy hát kinh cầu   // Trời mới lại như bảy ngày Sáng Thế,”

*Bài ”Khải mộ khúc”, trang 608 tập 7 ”Sáng Thế  và Người Tình Đầu”, khởi dựng một thế giới siêu linh với Hồn và Bóng.
Ông viết:
”Hồn với bóng một cội nguồn, hai phương vị  //  Hai đồng tâm thông báo một Tin Mừng  //  Đời sau này có tiếng hát ưu lương  // Cất từ miệng chàng thi nhân lãng tử  // Tai mộng thức nghe như lời Vũ Trụ // Hồn lờ mờ một nhung nhớ không đâu // Hơi lâm râm đã có hướng kinh cầu  // Làn ấp úng đã ươm màu Thánh Vịnh ”

Trước khi kết thúc, tôi xin có đôi lời cuối.
Lúc 5 giờ sáng nay, mở email, cô Dương Hoàng Mai, người bạn vong niên bên Đức gửi cho tôi bài cô đọc thi phẩm của thi sĩ Cung Trầm Tưởng. Tôi xin đọc mấy câu ở đoạn cuối bài như cánh hoa của một người bạn văn phương xa gửi tặng nhà thơ lớn của chúng ta trong ngày ra mắt sách của ông.
Cái đẹp sẽ cứu rỗi nhân loại” như nhận định của Dostoevski, những vần thơ tuyệt đẹp của Cung Trầm Tưởng không chỉ cứu giúp ông & bạn tù của ông vượt qua cảnh khốn khó, nó còn cho chúng ta niềm tin quý giá là Thiện sẽ thắng Ác, Nhân nghĩa sẽ thắng Hung tàn.
Hãy trân trọng “Một Hành Trình Thơ “ như viên ngọc quý biểu tượng cho Tự do của chúng ta, những người Việt Hải ngoại.
Biết đến bao giờ những vần thơ của thi sĩ Cung Trầm Tưởng sẽ về ngự trị chính thức trên vùng trời thi ca đất Việt? Ngày đó chắc chắn sẽ đến cùng với những đổi mới như ông hằng mong ước.”

Trân trọng kính chào quý vị và quý bạn

Cung Trầm tưởng Một hành trình tho* 1948- 2018
( từ Nam california Nov. 17-2019)
http://bit.ly/33Xm3gp

Ra Mat Hanh Trinh Tho cua Cung Tram Tuong
Hoa Thịnh Đốn “1948 – 2008 “


Hoàng Song Liêm hàn huyên về Cung Trầm Tưởng.

Ra Mat Hanh Trinh Tho cua Cung Tram Tuong- Canada

Nhà thơ Cung Trầm Tưởng ra mắt thi phẩm
“ Một hành trình thơ 1948-2008” tại Viện Việt Học

Nhà thơ Cung Trầm Tưởng nói về
thơ, thi sĩ, và tình yêu 25/2/2019


Cung Trầm Tưởng: Tiếng Việt Lời Thơ

Hãy ghi ý kiến, thắc mắc của bạn vào đây:

Trage deine Daten unten ein oder klicke ein Icon um dich einzuloggen:

WordPress.com-Logo

Du kommentierst mit Deinem WordPress.com-Konto. Abmelden /  Ändern )

Google Foto

Du kommentierst mit Deinem Google-Konto. Abmelden /  Ändern )

Twitter-Bild

Du kommentierst mit Deinem Twitter-Konto. Abmelden /  Ändern )

Facebook-Foto

Du kommentierst mit Deinem Facebook-Konto. Abmelden /  Ändern )

Verbinde mit %s