Muôn kiếp Nhân Sinh

Many times – Many lives – John Vu

TS.Mai Thanh Truyết.
Tản mạn của người viết trong khi đọc quyển sách của tác giả Nguyên Phong tức TS John Vũ, một khoa học gia có tầm vóc quốc tế. Đây không phải là bài điểm sách mà chỉ là những suy tư và tâm cảm của người đọc mà thôi.

05/08
Bắt đầu đọc Muôn kiếp Nhân Sinh – Many lives, Many times của tác giả John Vũ tức Nguyên Phong.
Nhìn tựa đề, chúng ta có thể mường tượng nội dung cuốn sách sẽ nói về muôn kiếp người cùng những hệ lụy qua hành động của mỗi người trong một kiếp nào đó. Sợi chỉ luân hồi và vận kiếp của mỗi người tiếp tục theo dòng thời gian, không kết chặt mà cũng không buông bỏ!
Những chữ đầu tiên đập vào mắt tôi trong phần giới thiệu cuốn sách là “Khoa học và trải nghiệm nội tâm – Noetic science vì chữ nầy tôi chưa từng thấy bao giờ. Tôi ngạc nhiên khi thấy tác giả là một nhà khoa học nổi tiếng với tầm vóc quốc tế chuyển ngữ qua tiếng Việt chữ “neutrino” là hạt vi lượng. Theo tôi đó là …hạt trung tính hay “trung hòa tử”! (trang 10) Hay là tác giả có ngụ ý riêng nào đó!
Tôi nghiệm mang mang khái niệm về …”vạn vật đồng nhất thể” của tác giả để suy nghĩ trong “trải nghiệm bình yên” về :”Tôi thực sự là ai?” Tôi rất tâm đắc câu hỏi nầy. (trang 13).
Để rồi tác giả kết luận …”bản thể đây chính là Tâm chân như” (trang 21)
Tôi học được chữ THỨC. Theo phái Duy thức – Vijnanamatra chia ra làm sáu căn: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân và ý (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và óc). Ngoài ra còn thức thứ bảy là Căn thức – Mạt na thức và thức thứ tám là Tàng thức – A lại da thức.
Rất khoa học khi tác giả phán “bất cứ hành động nào cũng tạo ra phản ứng”. (trang 24) Và ..lạc quan với kết luận:”Chừng nào chúng ta còn một hy vọng về một tương lai tốt đẹp thì tương lai đó sẽ diễn ra”. (trang 28).
Đây cũng là một công án mà tôi từng ấp ủ suốt hơn 30 năm qua!
Tham vọng! Tham vọng! Tham vọng! TS John Vũ nói:
”Nếu chưa thể làm chủ được mình thì phải biết tự giới hạn, đừng để tham vọng chi phối, điều khiển”. Quá chí lý đí.
Tôi học được ba con đường Yoga:
1- Karma Yoga – Con đường hành động,
2- Jhana Yoga – Con đường minh triết.
3- Bhakti Yoga – Con đường sùng tín.
Nhưng cuối cùng là sẽ trở về hợp nhất với “Thượng Đế”…Vạn vật đồng nhất thể. (trang 93).
Rất thú vị với sự so sánh “Thượng Đế” của tác giả với Phật giáo gọi là “Phật tánh”, và khoa học gọi là “năng lượng uyên nguyên” – primal energy. (trang 94).
Một tín hữu Cao Đài BS LTNV gọi là “năng lượng khởi nguyên”.
Tôi học được “khí lực vô minh – guna gồm:
1- sự bất động – tamas tức sai khiến con người không làm gì cả,
2- sự hoạt động – rajas tức tạo ra những ham muốn, dục vọng để thúc đẩy con người hành động. (trang 95).
Và… ”lo sợ khi việc không thành và sung sướng khi đạt được thành tựu”là …vẫn chưa khỏi thoát vòng kiềm tỏa của khí lực vô minh rajas”! (trang 98).
…Vì vậy, hành động “vô sở cầu” là bài học quan trọng của con người trên con đường Karma Yoga. (trang 99).
Đó là sự hoà hợp bản ngã vào với chân ngã…(trang 100).
Tôi thấy chữ và lý giải qua nhãn quan của tác giả về Luân hồi – Nhân quả…, nhưng hiện không có trích giảng ra đấy vì đang còn suy nghiệm hai nhóm chữ trên.
Tôi thấy chữ: Thần công lý Horus có khuôn mặt chim ưng là vị thần bảo hộ quốc gia. (trang 133). Có phải tác giả muốn ám chỉ nước Mỹ hay không?
Hy sinh, nhưng chưa nghiệm ra cũng như định nghĩa của hy sinh là “làm trái ngược” với những điều mọi người thường làm. (?)
Tình thương. “…Với tình thương, người trao yêu thương và kẻ được thương yêu đề trở nên sung sướng”. Và “Tuy nhiên, hiện nay mấy người biết thương yêu hay tha thừ như thế?” (trang 142).
“Thật ra tôi chưa hề yêu ai và cũng chưa hề được ai yêu.” (trang 143)
Ngày 6/8
Thấy câu ngắn gọn:
”…Nếu lúc đó có ai hỏi tôi điều gì làm cho người ta sợ nhất thì chắc chắn tôi sẽ trả lời đó là sự cô đơn”. (trang 145).
Chính câu nầy làm cho ý nghĩ trong đầu tôi luôn luôn nặng trĩu.
Đó là hai chữ CÔ ĐƠN và CÔ ĐỘC mặc dầu tôi thường nghĩ là tôi cô độc chứ không cô đơn trong cái nghĩa tiếng Anh mà tôi hiểu như sau: cô độc – solitary, và cô đơn – lonely. Không biết có đúng tâm trạng của tôi không?
Nhiều khi có những ý tưởng lạ xuất hiện bất chợt trong đầu tôi như sáng nay đây. Không phải vì ảnh hưởng của những dòng chữ trong cuốn sách, mà ngay từ giây phút nầy, tôi thấy không gian trong tôi muốn nổ tung lên. Nổ tung không vì sự gò bó trong điều kiện sống hiện tại, mà vì có một cái gì chất chứa trong đầu không thể diễn tả được. Nó quay quắt! Nó vô hình kết tụ lại thành một quả cầu với nhiều tinh thể chiếu sáng long lánh như những mãnh vụng nhỏ của hàng ngàn viện hột soàn li ti…
Mở nhạc classic nhè nhẹ…long tôi dịu lại đôi chút. Xếp tập sách lại.
Nhắm nghiềm mắt. Lắng nghe tiếc chim kêu qua bài nhạc không lời…
Hôm nay là ngày Hoa Kỳ thả hai trái bom xuống Hiroshima (6/8) và Nagasaki (9/8) năm 1945 ở Nhựt Bổn. Phải chăng muốn kết thúc cuộc chiến thế giới thì phải dùng biện pháp mạnh cho dù cho có phi nhân hay không?
Còn cuộc chiến nội tâm với những uẩn ức trong đời sống, trong ước mơ, trong giấc mộng mang lại một sự an lành cho Bà Con bên nhà, thì tôi phải làm gì đây???
…Và tình cờ trở về trang sách 140, thấy tác giả nhận định:
”…những kẻ hung ác, tham lam, tàn nhẫn đều là những kẻ vốn dĩ bị thiếu tình thương”.
Có thể đúng vì có khi tôi có ý nghĩ mong đập Tam Hiệp vỡ ra để quét sạch Trung Cộng và từ đó Cộng sản Bắc Việt đi đoong luôn để mang lại bình an cho dân tôi.
Ý nghĩ hung ác, tàn nhẫn đó có phải vì thiếu tình thương hay vì …quá yêu thương mà trở nên vị kỷ?
Tiếng nhạc vẫn văng vẳng…lòng tôi dịu lại.
Nhắm mắt định tâm.
Một điều trong Bát chánh đạo mà tôi tâm đắc nhứt và dung đó làm công án cho cuộc sống thường nhựt cho mình là Chánh định. Chánh định với tôi chính là tập trung nhìn vào một bồn thủy tinh hình tròn trong đó lấp lánh những võ sò và các viên đạn ngũ sắc. Giản dị như vậy mà chỉ trong một thời gian ngắn tôi đã xua đuổi được những hình ảnh, hay suy nghĩ…bạo loạn trong đầu!
Một suy nghĩ vui vui là, khi không thấy tôi thả một con cá nhỏ nào trong bồn, người chụp hình của tôi hỏi tại sao?
Tôi trả lời là vì em không thấy anh đang bơi lội trong đó thôi!
Ngày 8/8
“Tại sao trước giờ ngươi mải miết đi tìm kiếm TA ở bên ngoài? Hãy quay vào bên trong nội tâm, người sẽ gặp TA!” (trang 154).
TA ở đây tác giả ám chỉ trong một câu chuyện “huyền ảo” là Thần Thái Dương, nhưng tôi lại thấy TA là ta. Ta nói với ta. Ta nói cho ta…
Và tác giả lý giải ở trang sau là TA chính là…tình thương!
Và tôi cũng tự hỏi, ta có phải là tình thương hay không?
Sự im lặng trong ngoài!
Ngày 12/8
Đọc tiếp “Muôn kiếp nhân sinh”, tiếp tục thấy …luân hồi – nhân quả vẫn còn quấn quit với tác giả dài dài…và dường như nơi đây có thể là lời “nhắn gửi” của tác giá cho người đọc chăng?
Là người có chút lòng với đạo Cao Đài, tình cờ đọc về đề tài nầy của Chánh trị sự Mỹ Nga, một cựu sinh viên Đại học Cao Đài Tây Ninh có suy nghĩ như sau:
” Trong Luật Nhân quả, thời gian đi từ Nhân tới Quả không nhất thiết phải xảy ra ngay, có thể xảy ra trong một kiếp sống hay có thể xảy ra trong nhiều kiếp, nhưng nhứt định phải xảy ra, Quả phải tương xứng với Nhân, không bao giờ sai chạy.
■ Nếu Nhân và Quả xảy ra ngay trong một kiếp sống thì gọi là: Hiện kiếp Nhơn quả, cũng gọi Báo ứng nhãn tiền. Một người lúc trẻ làm nhiều việc gian ác, đến khi trở về già thì phải chịu cảnh khốn cùng, tủi nhục, đau đớn ê chề, rồi mới chết. Đó là Báo ứng nhãn tiền xảy ra trong một kiếp.
■ Nếu Nhân ở kiếp trước mà Quả báo ứng xảy ra trong kiếp hiện tại thì gọi là Tiền kiếp Nhân quả.
■ Nếu Nhân trong kiếp hiện tại mà Quả báo sẽ xảy ra trong kiếp sau thì gọi là Hậu kiếp Nhân quả.
Có Luật Nhân quả mới có sự Luân hồi, hay nói cách khác, luân hồi là hệ quả của Luật Nhân quả. Vì gieo nhân trong kiếp trước mà chưa trả được nên phải chịu luân hồi, đầu kiếp trở lại để trả quả.
Nghiệp là con đường đi từ Nhân tới Quả.
Duyên là cái hỗ trợ cho cái Nhân thành cái Quả”.
CTS Mỹ Nga tách bạch hai chữ Nghiệp – Duyên, nhưng đối với cá nhân người viết “Duyên cũng là Nghiệp, và Nghiệp cũng là Duyên!”
Ngày 15/8
Khi tác giả hét lớn lên hỏi “Thần Thái Dương, Ngài đang ở đâu?” (trang 154).
Sau đó, lại nghe một tiếng nói vào thánh sát bên tai “Ta đây!”
– “Tại sao trước giờ ngươi lại mải miết đi tìm kiếm Ta ở bên ngoài?
Hãy quay vào bên trong nội tâm, ngươi sẽ gặp Ta!”
”Tôi (tác giả) ngây ngất trong cơn thần ảo kỳ diệu nầy.”
Tác giả TS John Vũ muốn chuyển tải thông điệp gì trong câu nói trên?
Nói về Thượng Đế hay nói về cái Tâm? Người viết nghĩ cả hai…
Qua trang sau tôi được giải mã: ”Tôi chính là tình thương!”


GS Nguyên Phong- John Vu.

Ngày 17/8
Qua Phần năm của cuốn sách nói về Quyền lực và Yêu thương đưa ta vào chốn huyền ảo và mộng mị: sự tái sinh và tiền kiếp của tác giả ở Ai Cập là vua Pharaoh. (trang 166).
Một ẩn dụ mà cả nhiều ngày sau người đọc vẫn còn …lùng bùng lỗ tai!
Phần nầy kéo dài trên 40 trang, nhưng thú cũng chỉ đi đến …tình thương qua bao nhiêu tình tiết éo le, mờ mờ ảo ảo, để rồi tác giả cho rằng:
”…Nếu họ yêu thương chân thành, không thiết tha bám víu hay đòi hỏi một điều gì cả thì đó là tình thương thật sự. Nếu bàm víu lệ thuộc vào một điều gì đó thì đấy chỉ là sự hấp dẫn, vì nếu không được gần nhau, không được đền đáp, họ sẽ đau khổ.Tình thương thật sự không dẫn đến đau khổ. Những người biết thương yêu nhau như thế, dù có xa cách thì tình yêu của họ dành cho nhau cũng không bao giờ thay đổi.” “…đừng nhắc những gì đã cho, đừng chớ đợi ai trả ơn, đừng có muốn có những gì vốn không thuộc về mình – và hãy vui tươi thanh thản sống như thế sẽ hạnh phúc thật sự”. (trang 188)
Và sau cùng, tác giả kết luận bằng nhận định “
…Ông (vua Pharaoh, tiền kiếp của tôi trong sách) không đơn độc, nhưng tính ông vốn không chấp nhận nên trở nên khác biệt, vì thế mà cô độc”. (trang 192)
Trong một thoáng suy nghĩ, tôi nhìn thấy tôi!
Và cái kết của phần nầy là …”xóa bỏ hận thù ngay trong tâm mình bằng việc phát triển tình thương và lòng từ bi”. (trang 196)
Ngày 20/8
Không có gì là mãi mãi…
…”Vì thiên chấp của các nhà khảo cổ châu Âu cho rằng mọi sự đều phát sinh từ một nơi chốn duy nhất, rồi mới tỏa lan ra các nơi khác. Ít ai chấp nhận rằng đã có nhiều nền văn minh xuất hiện ở các nơi khác nhau trên thế giới”.
Chính nhờ suy luận trên mà tác giả cột lại “quy luật vũ trụ như luật Luân hồi và Nhân quả”.
Và kết luận của tác giả về Thiền như sau:
”Hiện nay có nhiều nơi dạy thiền nhưng tên gọi nầy đã bị sử dụng bừa bãi và sai lạc rất nhiều. Hầu hết các trung tâm đạy thiền ngày nay đều bị thương mại hóa bởi những người tự xưng là Thiền sư – Zen Master, Tổ sư – Guru, Đạo sư – Swami, Thánh nhân – Bhagwan. Họ dạy chỉ với mục đích được nổi danh hay để kiếm tiền mà thôi”. (trang 199)
Và Thiền là…”một phương pháp tĩnh tâm để đầu óc yên lặng, không căng thẳng…” …”chứ không phải cố gắng qua cái hít thở cho phổi và tim hoạt động bất bình thường”, và “…”đây là việc kiểm soát tư tưởng chứ đâu phải là một môn thể thao”. (trang 201)
Eureka!
Ngày 24/8
Nếu xét kỹ qua quá trình lịch sử, người ta có thể thấy nhiều điểm tương đồng giữa các nền văn minh cổ xưa từ Đông sang Tây. Thí dụ: Luật Manu và pho kinh Veda của người Ấn…sẽ không khác gì những nghi thức được tìm thấy trong Thánh kinh Talmud của Do Thái giáo, hay các nghi thức cổ ghi lại trên các thạch trụ ở Babylon, hay nghi thức tôn giáo của Ai Cập, Tây Tạng hay Trung Hoa bao nhiêu. (trang 206).
Phải chăng tất cả đều chịu ảnh hưởng bởi một nguồn gốc chung vượt qua khỏi sự hiểu biết của con người ngày nay?
…Từ ngàn xưa, đã có những nền văn minh cổ với sự hiển biết thâm sâu nhưng vì lý do nào đó đã biến mất trên bề mặt toàn cầu, chỉ còn sót lại một vài mãnh vụn, mà ngày nay, nhiều nhà khoa học đã cố tình bỏ qua, không để ý đến chăng?
Và…họ phủ nhận những gì xuất phát từ châu Á vì quan niệm tự tôn của một nền khoa học phương Tây! (trang 208)
• Các nhà khảo cổ đã biết gì về những nền văn minh tại Ấn Độ, Trung Hoa hay Tây Tạng?
• Những nền văn minh nầy có dính dáng gì với nền văn minh Lưỡng Hà hay Ai Cập?
Vì vậy, suy nghĩ về một nền văn minh chung có cùng một nguồn gốc là một giả thuyết cần phải được bình tâm xem lại, đừng đem cái ngã “độc tôn da trắng” mà nhìn từ một phía mà thôi!
Đây là một trạng thái kỳ thị chủng tộc cần được xóa đi nhằm đem lại sự thật cho lịch sử thời cổ đại.
Đóng góp cho sự văn minh và phát triển toàn cầu là đóng góp của mọi dân tộc hiện diện trên thế giới với đủ mọi sắc dân, đủ mọi màu da trải dài từ Phi châu đến Á châu, qua Mỹ châu cùng Úc châu…
Những suy nghĩ trên làm cho người đọc “Muôn kiếp nhân sinh” tỏ rõ gia tài của nhân loại, và những “Black lives matter” hay “Antifa” ngày hôm nay chỉ là tổ chức của những nhóm người “thượng đẳng” đại kỳ thị và bị ức chế bởi những tham vọng làm chúa tể “rừng xanh” qua …thú tánh của họ!
Viết như vậy có nặng lắm không Bà Con?
Ngày 30/8
Vừa trải qua bốn ngày tĩnh tâm qua khóa “Phương pháp cầu nguyện tìm năng lực dùng trong khóa linh thao 2020” do Linh mục Nguyễn Bình Thường, tôi học được …cung cách ngổi tĩnh lặng là…không nói gì cả!.
Về nhà đọc tiếp Muôn kiếp nhân sinh của TS John Vũ – Nguyên Phong với đầu óc tương đối thoải mái, không hằn học và đôi khi kích động ở phần “đọc” trên.
Tôi chỉ đọc sơ qua về Thành – Trụ – Hoại – Diệt (từ trang 224) và cô đọng trong phần kết của tác giả …
”Và một khi con người tự tâm có ý thức thay đổi làm việc tốt, phát tâm tích đức, tạo phúc cũng có thể tác động giảm, tiêu trừ bớt nghiệp quả. Tác đông tương hỗ bù trừ nầy được luật Nhân quả của vũ trụ xét trên nhiều yếu tố chứ không đơn thuần như phép cộng trừ nhân chia”.
Cuối cùng nhắn gửi của tác giả vẫn là Nhân quả và Luân hồi trong đó tình thương có thể làm chuyển nghiệp.
• Có mấy ai biết chiêm nghiệm, tự trách và thay đổi chính mình không? (trang 250)
Tác giả hỏi để rồi từ đó, mong mỗi chúng ta, những cánh bướm bé nhỏ rung động mong manh cũng có thể tạo nên những trận cuồng phong mãnh liệt để thức tĩnh mọi người.
Và câu kết luận ở dòng chữ cuối cùng của quyển sách làm tôi, người đọc tâm đắc và xúc động nhứt là:
”Tôi quyết định viết cuốn sách nầy bằng tiếng Việt – ngôn ngữ đồng bào, đất nước thân thương trong tim tôi”.
Chữ “Đồng bào” sao nghe quá dạt dào!!!
Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ “We hold these truths to be self-evident, that all men are created equal“ nghe qua thấm thía làm sao!
Ngày 1/9
Sáng nay, trong sự tĩnh thức của ngày bắt đầu của tháng, đầu óc mở một trang mới, nghĩ về những điều đã đọc qua trong “Muôn kiếp nhân sinh”, cảm nghĩ đầu tiên là những ý tưởng của tác giả theo thời gian, tiếp nối một cách bàng bạc nhưng soi rọi rõ thêm nhân sinh quan của cùng tác giả trong “Hành trình về phương Đông”. Qua các biện giải, lý giải một cách gián tiếp tuy hơi huyền hoặc, và viễn mơ, nhưng đã nêu bật lên được …tính duy ngã của người Tây phương trong nhận định về các nền văn mình khác trên thế giới ngoài nền văn minh – văn hóa Lưỡng Hà và Ai Cập!
Và thông điệp của tác giả đích thực là thông điệp tình thương của một người con Việt qua hai chữ “đồng bào” trong một giai đoạn nghiệt ngã nhứt của Đất và Nước hiện tại.
Xin có lời cám ơn tác giả Nguyên Phong, một “triết gia” cổ súy cho Tình Thương, tác giả John Vũ, một khoa học gia có tầm vóc thế giới đã đóng góp cho nhân loại nhiều giải đáp về không gian, và tác giả “Con Việt” đã thống thiết cất tiếng cuốc kêu …về Cội nguồn Dân tộc Việt.
***
Riêng người đọc “Muôn kiếp nhân sinh” xin thưa cùng Bà Con là, đây không phải là “bài điểm sách” mà chỉ là những ý tưởng bộc phát theo sau các dòng chữ của tác giả Nguyên Phong. Trong suốt gần một tháng để kết thúc những ý tưởng rời rạc đã trang trãi ra đây và đôi khi cũng không ăn khớp với nhau.
Xin được kết thúc như vầy:
• Cuộc sống thế gian có thể sẽ vui hơn trong lúc nầy thay vì “Black lives matter” mà là “Nothing is matter”, nương theo triết lý Sắc – Không của Phật giáo!
Cũng xin mượn lời của Cụ Nguyễn Trãi :
”Càn khôn ký bĩ nhi phục thái
乾 坤 既 否 而 復 泰,
Nhật nguyệt ký hối nhi phục minh.
日月 既 晦 而 復 明 。
(Càn khôn bỉ rồi lại thái
Nhật nguyệt hối rồi lại minh.)
Và ước mơ được làm cánh đại bàng…
Loài chim duy nhất dám mổ đại bàng, đó là con quạ đen.
Nó hạ cánh trên lưng đại bàng và mổ vào cái cổ to…
Nhưng con đại bàng không hất con quạ xuống. Nó không đấu tranh với con quạ, không tốn sức lực, thời gian với loại chim nhỏ nhoi và xấu xa đó.
Đại bàng chỉ giang rộng cánh và… bay vút lên trời!
Bởi vì càng bay tít lên cao – cao hơn cả những cơn bão, càng lên cao không khí càng ít đi, đối với con quạ lúc đó nó không thở được và tự cắm đầu xuống đất!
Ý tưởng sau cùng là một trải nghiệm lượm lặt trên FB của N.Nguyen như sau:
” Có thể, khi con người ta sống chậm lại hơn, cố gắng vứt bỏ hết những suy tư thì lúc đó trong lòng thực sự bình an. Cuốn theo dòng đời, hình như tâm hồn chúng ta cần những lúc phải cố gắng vô tư.
Trong thời điểm này, khi giá trị của con người, niềm tin và cảm xúc đang xen lẫn lộn, thì dù ở bất cứ nơi đâu con người cũng muốn được chia sẻ. Với tôi, điều quí giá nhất của cuộc sống là sự chia sẻ. Cho dù là niềm vui hay nỗi buồn.
Khi chúng ta cảm thấy mình vui và sống trong niềm vui đó một cách chân thành, trọn vẹn …đó có lẽ là điều thật đáng nâng niu và trân trọng”.
Mai Thanh Truyết
Người con Việt – Tháng 9, 2020

Hãy ghi ý kiến, thắc mắc của bạn vào đây:

Trage deine Daten unten ein oder klicke ein Icon um dich einzuloggen:

WordPress.com-Logo

Du kommentierst mit Deinem WordPress.com-Konto. Abmelden /  Ändern )

Google Foto

Du kommentierst mit Deinem Google-Konto. Abmelden /  Ändern )

Twitter-Bild

Du kommentierst mit Deinem Twitter-Konto. Abmelden /  Ändern )

Facebook-Foto

Du kommentierst mit Deinem Facebook-Konto. Abmelden /  Ändern )

Verbinde mit %s