Đảng cộng sản cần được Thế Tục Hóa(laiciser) 


Nguyễn Văn Lục
‘’Nhìn vào đâu cũng muốn ghìm cơn mửa.
Cả một thời đểu cáng lên ngôi”
Phần một: Hướng về miền Nam, những năm mất trắng
• Một góc nhìn từ hai phía trong cuộc- ngoài cuộc
(Tác giả Bùi Minh Quốc. Tổng biên tập tạp chí Đất Quảng. Năm 1967, ông xung phong vào chiến trường miền Nam. Một năm sau, vợ ông Dương thị Xuân Quỳ cũng vào theo ở quận Duy Xuyên. Vợ ông bị lính Đại Hàn bắn chết 1969. Phần ông bị khai trừ khỏi đảng 1989 cùng với Tiêu Dao Bảo Cự.)
Tôi đã có dịp đọc nhà văn Nguyên Ngọc-một đồng chí của Bùi Minh Quốc- với những cảm xúc tràn đầy mà Nguyên Ngọc dành cho Bùi Minh Quốc và nhất là chị Dương Thị Xuân Quý- vợ nhà thơ Bùi Minh Quốc. Tôi cũng nghe bài phỏng vấn của Mặc Lâm, phóng viên đài RFA 2009-01-10 về Bùi Minh Quốc. Sau đây xin trích vài câu thơ khi vợ ông nằm lại chiến trường Duy Xuân, miền Nam:
‘’ Em ra đi chẳng để lại gì
Ngoài ánh mắt cười lấp lánh sau hàng mi
Và anh biết khi bất thần trúng đạn
Em đã ra đi với mắt cười thanh thản
Bởi được góp mình làm ánh sang ban mai.”
Chỉ một năm sau khi Bùi Minh Quốc vào chiến trường khu V thì vào ngày 16-04-1968, bà Dương Thị Quý -mà dòng dõi có những người bác ruột nổi danh như các cụ Dương Bá Trạc, Dương Quảng Hàm-. Bà cũng tình nguyện lên đường vào chiến trường miền Nam theo chồng và để lại cháu gái mới có hai tuổi Hương Ly. Thật khó mà diễn tả cuộc chia tay này giữa hai mẹ-con và có thể là một cuộc biệt ly vĩnh viễn..
Ở bình diện con người, tôi dành một vài giây phút như mặc niệm người đã nằm xuống của một thời máu lửa và sự hy sinh vô bờ bến của những người phía bên kia. Với tôi, cái chết nào trên chiến trường cũng là một sự mất mát không đền bù được.
Sau 1975, nhà thơ Bùi Minh Quốc dành nhiều chuyến du hành xuyên Việt, gặp gỡ và chia xẻ với nhiều người. Ông đã có những chuyển biến tư tưởng và trở thành người đối lập vì bị đảng nghi ngờ và tra vấn nhiều lần ở Hà Nội.
Cuối cùng ông bị khai trừ khỏi đảng. Dưới mắt người viết bài này, ông đã ‘’ngộ’’ ra một điều, đã sáng mắt, sáng lòng ra khỏi vũng lầy lội bì bõm trong đảng. Đời sống ông bị vây khốn không còn bình thường nữa.
Đáng nhẽ trong tình huống tiến thoái lưỡng nan này, ông phải làm lễ ăn mừng việc ra khỏi đảng mới phải.
Vài câu thơ của Bùi Minh Quốc như một uất hận nén trong lòng từ lâu- dĩ chí cũng 20 chục năm- được nổ bung ra.
Nó đánh thẳng vào trái tim của Đảng. Nó cho thấy đảng chỉ là một phường đểu cáng lên ngôi. Không có từ nào nặng hơn thế nữa, dễ mấy ai viết được như thế. Nó xổ toẹt, nó trắng trợn: Cả một thời đểu cáng lên ngôi.
Phải thấm đòn và nhục nhã lắm mới thốt lên lời như vậy. Nguyền rủa như thế thì hết lời hết ý. Người trong cuộc, yêu tự do, chán chường đến muốn mửa ra cũng không được. Ôi tự do sao đắt thế!! Thưa vì tự do không cho không, biếu không. Tự do không miễn phí.
Nó đòi trả giá, đôi khi cả một đời người. Bùi Minh Quốc đã hoang phí nửa đời người đi tìm nó. Vợ ông đã hy sinh. Gia đình ông tan nát ra nhiều mảnh. Đó là một cuộc chiến hai mặt. Mặt bên này, mặt bên kia mà nhiều phần đều là nạn nhân trong một cuộc chiến ủy nhiệm. Thắng thì được gọi là anh hùng. Thua được coi là giặc
Vì thế chẳng lạ gì, trước đây, đã một thời ông nói vinh danh thay cho đảng với một thứ ngôn ngữ mượt mà, lãng mạn. Nay ông nói thay cho con người bằng một ngôn ngữ trần tục, thô bạo-.Ông cũng nói thay cho những người ‘’đồng chí” như Nguyên Ngọc, Thanh Thảo, Thái Bá Lợi, thay cho những người miền Nam vô tội và cả những người dân bình thường.
Ông còn nói thay cho những người đang sống dưới gông cùm cộng sản, những người trẻ tuổi mới lớn lên và cả những người đã khuất, vì họ không còn cơ hội lên tiếng. Xin nhận ở nơi tôi một cái cúi đầu thay cho nén hương.
Xin đừng quên ai cả, vì quên là giết họ thêm một lần nữa.
Ông Bùi Minh Quốc là người trong cuộc, đã có thời tuổi trẻ góp phần vào sự phá sản và mục mát của cộng sản sau 1975. Ông hẳn biết rõ điều đó hơn ai hết. Ông phải để ra 20 năm tích lụy kinh nghiệm ông mới thấm thía. Kể ra cũng là chậm. Ông đau cũng phải. Ông ở lại miền Nam sau 1975 cũng có cái lý của ông ấy.
Nhưng phần tôi và hàng triệu người miền Nam- những người ngoài cuộc của một cuộc chiến mà chúng tôi có mặt như thể không có mặt. Chúng tôi có tội tình gì để đáng gọi là những ngụy quân, ngụy quyền. Chúng tôi bị nguyền rủa, miệt thị, bị phân chia chỉ vì một lẽ đơn giản chúng tôi là người dân miền Nam, chúng tôi là thành phần thua cuộc bị đọa đầy.
Những đợt đánh tàn dư Mỹ-Ngụy ngay từ những ngày đầu sau 1975, gọi là Văn hóa phản động, như đợt đốt sách vở, tài liệu ngụy. Tôi đau chứ, vì đó là những vốn quý của miền Nam mà tôi nâng niu giữ gìn. Sách vở miền Nam là cả phần đời tôi ở trong ấy. Bởi vì sách vở thời ấy, số phận nó như số phận người.. Nó cũng phải trốn chạy, chui rúc, ẩn náu. Cộng sản đã xô đẩy những đám trẻ miền Nam ngây thơ vô tội, đeo khăn quàng khăn đỏ, ra đường, đánh trống khua mõ như đi bắt trộm.
Khôi hài là những sách vở bị quăng ra đường mà trong đó mấy khi Bùi Giáng có cơ hội gặp được Heidegger, Mai Thảo gặp được Chu Tử..
Nỗi đau của tôi còn là sự nuối tiếc đã một thời tuổi trẻ. Nếu com gạo miền Nam nuôi tôi lớn lên thì sách vở ấy nuôi dưỡng tôi thành người thông tuệ..
Phần giới trẻ miền Nam bỗng nhiên thành người mù chữ vì không có sách mà đọc.
Dưới mắt tôi, miền Nam nay mới thật sự là mất thật rồi vì tên Sài gòn nay được đổi thành Hồ Chi Minh. Tại sao Hà Nội không mang tên Hồ Chí Minh. Một vinh dự cho Hà Nội chứ mắc mớ gì với chúng tôi.
Còn phần tôi, Sài gòn mãi mãi là Sài gòn. Không gì thay thế được.
Đến tháng 9-1975, đến lượt đánh tư sản mại bản khởi đầu với Nguyễn Văn Linh. Nhưng khốc liệt hơn cả đến lượt Đỗ Mười. Ông mang cán bộ từ miền Bắc vào quản lý, tịch thu tài sản, xí nghiệp nhà xưởng, vật liệu và cho xe mườm mượp chở về Bắc. Đây quả thực là một cuộc ăn cướp ngày công khai đến nỗi dân miền Nam chia nhau từ vài thìa bột ngọt.
Chẳng nhẽ những điều như thế, ông Bùi Minh Quốc không nghe, không thấy sao. Thời ấy ông ở đâu, làm gì.
Phần chúng tôi- nhiều người Sài gòn, miền Nam cũng phải liều mình bỏ nước ra đi, hy sinh cả sinh mạng và tương lai để đi tìm Tự Do. Chúng tôi bị coi là thành phần rác rưỡi, phản động. Họ đã đánh thuế sinh mạng tôi và con trai tôi 7 tuổi dưới dạng gọi là đi Bán chính thức. Tôi đóng qua trung gian chủ tàu 18 cây vàng. 12 cây cho tôi, con trai 6 cây. Tôi không biết thực hư chủ tàu và cộng sản chia chác như thế nào. Nhưng tính thời giá hiện nay, 18 cây vàng là bao nhiêu.
Trước khi vợ tôi được tôi bảo lãnh sang đoàn tụ. Trong giấy xuất cảnh có điều kiện, họ tịch thu căn nhà mà tôi để cả mười mấy năm làm lụng và tần tiện mới có được. Trong giấy xuất cảnh có ghi: Căn nhà 224B Nguyễn Huỳnh Đức sẽ do nhà nước quản lý. Quản lý có nghĩa là trông coi hộ. Nhưng thực tế là ăn cướp luôn một cách hợp pháp. Quả nhiên sau đó, một đại tá vào chiếm ngụ, đuổi đứa cháu họ còn ở lại trong căn nhà. Tôi thật sự không tin được chữ nghĩa của người cộng sản.
Gia đình tôi sạch nhẫn túi thành thứ vô sản thứ thiệt, khi tới bến bờ tự do để rồi bắt đầu làm lại như mọi người.
Tôi gọi đó là một thứ: Vắt những con bò sữa. Vắt khi chiếm miền Nam 1975 với đổi tiền, đánh tư sản, vắt thêm lần nữa khi bỏ nước ra đi.
Việc bỏ nước ra đi, người ta coi đó là Cuộc bỏ phiếu bằng đôi chân. Liệu chúng ta có thể vạch ra một lằn ranh giữa sự sống và sự chết về sinh mạng một con người. Sinh mạng nào cũng là sinh mạng. Đáng trân quý cả. Hàng triệu người trong chúng tôi đã may mắn sống sót. Nhưng có hàng trăm ngàn người vùi thân trên biển cả vì rủi ro gặp hải tặc Thái Lan và nhiều lý do khác và đã vùi thân trên các đảo ở Indonesia, Thái Lan và Mã Lai.
Tiện đây, trong chỗ riêng tư, xin được tưởng nhớ và lần này xin được quỳ xuống, xin được cúi đầu vái lậy, xin được thắp một nén hương tưởng niệm những người đã bỏ mình trên biển. Chia xẻ và như một cuộc hành hương tìm về quá khứ với tất cả những ai đến được đảo Galang bên Indonesia và một vài đảo phụ cận. Chúng tôi đã ở đó trong 6 tháng. Và sau này tập trung tất cả mọi người về đảo Poulon Bidong, bên Mã Lai- chờ đợi để được đến bến bờ tự do-.
Ngọt bùi chúng tôi nếm cả. Hy sinh cũng nhiều, khổ đau không thiếu. Nhưng như một phép mầu Thượng đế ban cho, hồng ân đổ xuống, biết lấy đí gì để nói khác được. Hai con đã trưởng thành như một đền bù duy nhất được an ủi.
Nhiều lúc nghĩ dại, nếu bị kẹt lại thì hai đứa con sẽ làm gì. Chúng có thể sống bên lề xã hội, thành cu ly, cu leo nào ai biết được.
Cho nên có nỗi đau của ông Bùi Minh Quốc, nỗi uất hận vì Đảng phản bội thì cũng có nỗi mất mát tan nhà nát cửa, liều mình vượt biển và nỗi nhục của chúng tôi. Xin được trân trọng và công bằng.
Ngày hôm nay và mãi mãi bao giờ, tôi chẳng thể nào quên được, nhìn lại quê hương mình và có thể nói: đó là một xã hội vắng bóng con người như ở một thế giới nào khác.
Phần hai: Một tư duy mới về những góc khuất của cộng sản nói chung và CSVN nói riêng
Bài viết này, tôi đi tìm lại căn cốt của XHCNVN trong một nhận định thuần lý tính mà không bêu bao, tuyềnh toàng chửi bới. Thuận thì nghe, không thuận đành chịu.
• Đảng cộng sản tự thân nó là một thứ Ki tô giáo giả hiệu.
Mở đầu bài viết này, người viết có tham vọng giải mã muốn tìm ra một lời giải đáp tương thích cho chính mình và mọi người.
Lời giải đáp ấy là tìm ra lời đáp số bằng một ‘’Lối tiếp cận Hiện tượng luận” nằm trong nhận thức học của triết học.
Lối tiếp cận này giúp nhìn những biểu hiện từ bên ngoài như lý giải hiện tượng xuất hiện và đào sâu chủ đích nhìn từ bên trong. Từ đó với hai lối tiếp cận giúp ta nhìn rõ chân tướng và bản chất của cộng sản.
• Xét về mặt lịch sử của những người đi tiền phong của đảng cộng sản: Sự cóp nhặt công giáo
Lịch sử đạo công giáo đã có hơn 2000 năm với Thánh Kinh, chưa kể phần cựu ước. Bề dày lịch sử trải qua các triều đại đã để lại những di sản tinh thần, chiều kích tâm linh đã là những ngọn đuốc soi đường cho nhân loại.
Những người như Engels, Marx, Lenin, Stalin đều sinh sau đẻ muộn, đều xuất thân từ môi trường công giáo. Vì thế, nhìn từ bên trong về cơ chế chủ nghĩa cộng sản, họ bị lây nhiễm nên chỉ cóp nhặt hình thức tổ chức về cơ chế, về phẩm trật của Ki tô giáo.
Nhưng thật ra, ý thức hệ chính trị ấy đã biến tướng thành niềm tin tôn giáo.
Về điều này, e rằng các lãnh đạo cộng sản Hà Nội- phần đông sở học còn mỏng- cũng không hiểu cho rõ ngọn ngành hoặc họ không muốn hiểu. Họ không nhận thức được những khẩu hiệu kêu như loa phóng thanh mà thực ra rỗng ruột: Chẳng hạn những mơ ước như ‘’sứ mệnh lịch sử”, những mục tiêu đề ra như“ giải phóng con người” khỏi bần cùng, áp bức chỉ là những chiếc áo mặc bên ngoài của mỗi thời vay mượn mà thực sự chúng chỉ là những bài học vỡ lòng rút ra từ công giáo mà nhiều phần họ không biết.
Trớ chêu tiếng là họ thù ghét tôn giáo, nhưng nghịch lý hiện nay, chùa chiền, miếu mạo là nơi lãnh đạo Đảng đến xì sụp, bái lậy xin sỏ như một mê tin, dị đoan của một thứ tôn giáo hạ đẳng.


Họ mê muội lầm tưởng là những châm ngôn lý tưởng do đảng đề ra, thực ra đảng chỉ vay mượn các ngôn từ thường xuyên được rao truyền trong công giáo.
Vì thế, đảng Bôn-sơ- Vích của Lenin, Stalin thực chất là một đảng chính trị. Nhưng bên ngoài nó đã mặc bộ áo tôn giáo. Một mặt nó muốn khai trừ tôn giáo bị coi như một thứ “Thuốc phiện”. Nhưng đồng thời bên trong, nó đòi hỏi con người sự hy sinh, sự vâng phục tuyệt đối để giải phóng con người thực hiện lý tưởng cộng sản. Giải phóng con người bằng cách tiêu diệt con người cũ, xã hội cũ để xây dựng con người mới XHCN.
Điều ấy có khác gì nó rập theo quan niệm ‘’Trời Mới, Đất mới” trong Ki tô giáo. Nó cũng tự nhận đóng vai trò được “ủy nhiệm”, được “sai đi” “giải phóng” thì có khác gì ‘’được cứu rỗi”được Chúa gọi” của công giáo.
Nó nhập nhằng nhận vơ như thế nên ngay từ thời Chúa Giê-su còn tại thế, Ngài đã vạch mặt, chỉ tên hai loại người mà Ngài chối từ, ngoảnh mặt: Bọn nhà giàu và bọn Tiên tri giả. Hãy xê ra khỏi mặt Ta. Nhưng cũng có hai loại người mà Chúa thương. Đó là trẻ con và người tội lỗi. Về mặt này, Chúa rẩt là con người.
Về phần Ki tô giáo, giáo hội cũng phải nhìn nhận có thời kỳ đen tối, sa đà vào những tội ác trong thời kỳ Inquisition của lịch sử giáo hội mà lãnh đạo giáo hội thời Trung Cổ vẫn nhắm mắt mù quáng, vẫn tin tưởng vào sứ mạng rao giảng Tin Mừng và cứu rỗi người khác.
Do đó, lương tâm những người lãnh đạo công giáo- những người được ủy nhiệm, được sai đi- vẫn không thắc mắc và ân hận về việc họ làm. Lãnh đạo, hàng giáo phẩm không biết hậu quả thực sự việc làm của họ.
Đó là sự ngụy tín tôn giáo, sự mê muội được che đậy của một thời khó tránh khỏi. Nhưng chiều kích tâm linh vốn làm nên đạo vẫn kêu gọi con người trỗi dạy, đứng lên. Vì thế, công giáo có một từ chúng ta cần ghi nhận từ khởi điểm: Felix Culpa.. (Tội sinh phúc) Nghe như một nghịch lý. Nhưng Chúa đến, nhập thế, chính là để giải thoát con người khỏi tội lỗi. Giả dụ nếu con người vốn hoàn thiện thì có cần đến Chúa không.
Nhưng công giáo cững phân biệt rõ ràng hai điều: Thần quyền và Thế quyền. Giê su đã dứt khoát khẳng định: Nước của ta không thuộc thế gian này. Hàm ý nước Ta thuộc nước Trời. Nhưng thực tế là giáo hội đã nhiều phen toa rập và đồng lõa, đi đối với các chính quyền thế gian để rồi Thần Quyền dẫm đạp lên Thế quyền. Bù lại giáo hội được hưởng những quyền lợi trần thế như sự tôn vinh, giàu sang và chức tước. Giáo Hội trần thế đã đứng chung hàng với các thể chế quân chủ tuyệt đối ở Âu Châu các thế kỷ XVIII, XIX. Bằng chứng là giáo hội công giáo rất giàu với bề ngoài có ruộng đất, tu viện rộng lớn, nhà thờ nguy nga chiếm giữ những địa thế tốt nhất.
Nhưng đó là thời kỳ sa lầy đen tối của lịch sử giáo hội không thể phủ nhận được.
• Trường hợp đảng cộng sản Việt Nam dẫm đạp lên vết xe đổ của công giáo.
Trong lối tiếp cận đó cho thấy đảng CSVN cũng đi vào vết xe đổ của công giáo, cũng áp chế người khác, cũng chuyên chính vô sản, truy lùng kẻ phản động, cũng đi tìm Juda bán thày, cũng rơi vào sự sa đọa quyền hành như ngày nay.
Đảng còn đi xa hơn nữa mà còn vượt trội: Họ là không phải chỉ là những Pha ri Siêu mà còn là những ông Trùm Đỏ: cũng buôn dân bán nước, cũng tham nhũng tới độ kinh hoàng như một bọn cướp ngày- một thứ Mafia đỏ. Con cháu họ tưởng khá hơn, chúng còn tồi tệ hơn cha chú chúng hai lần. Ít có nhà nước nào xuất cảng hàng vài trăm ngàn lao động sang Đại Hàn, sang Nhật, sang các nước khối Ả Rập như một kiểu cách thời kỳ buôn nô lệ. Gái gú thì xuất cảng-một thứ điếm trá hình- .
Vì thế, đạo đức suy đồi, luân lý trở thành phi luân trong một xã hội mục nát, tan rã.

  • Trong đó, vấn nạn lớn nhất của CSVN hiện nay là diệt trừ tệ nạn tham nhũng.
  • Có thể nói, sự sống còn của Việt Nam ngày hôm nay tùy thuộc vào sự thàng công hay thất bại trong cuộc chiến chống tham nhũng. Nó là mối đe dọa của thanh gươm Damocles trên đầu đảng. Chúng ta không cần phí thời giờ căn cứ vào các chỉ số thống kê như Việt Nam được xếp hạng 104-180 của thế giới về tham nhũng. Những người dân bình thường như anh lái taxi, anh chạy xe ôm, chị bán hàng rong.. Họ đều cảm nhận tham nhũng tung hoành khắp nơi, khắp chốn. Họ công khai bày tỏ vì chính họ là nạn nhân. Xin một giấy tờ hành chánh vốn hợp pháp, gửi con đến trường vốn hợp lệ, đưa người nhà vào bệnh viện vốn là cái quyền được chữa trị thì phải vi thiềng từ lao công, chị y tá, ông bác sĩ..
  • Rồi chỉ nhìn ông chủ tịch xã, chủ tịch Huyện, chủ tịch Tỉnh ở trong những biệt thự tiền tỉ, xe cộ bóng loáng… mà lương họ bao nhiêu. Có mù cũng thấy, có điếc cũng nghe. Một sự cách biệt quá sâu xa giữa giới giàu và nghèo không ngừng phát triển. Người ta không thể nào cho phép đào thêm hố sâu giữa giầu-nghèo nó như một nồi thuốc súng sẵn sàng nổ bung…
  • Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng tự hào có Đốt Lò chống tham nhũng. Nhưng phải cần bao nhiêu lò nữa để đốt từ Nguyễn Xuân Phúc, vợ và con cái của ông ấy. Lò ấy đốt mãi mà không cháy được cựu thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và ba con- một gái hai trai của ông. Và tại sao, những nước có luật lệ, có phân quyền không cần Đốt Lò như Việt Nam.
  • Vấn đề của Việt Nam là “ Ném chuột đừng để vỡ bình’’. Nó trở thành trò chém gió, càng đốt lò, càng trảm cán bộ này thì mọc lên hàng loạt những cán bộ mới khác thay thế tiếp tục tham nhũng. Tham nhũng đẻ ra tham nhũng, tham nhũng từ trên xuống dưới. Tham nhũng mẹ đẻ ra tham nhũng con. Tham nhũng như loài cỏ dại, càng phạt cỏ càng đẻ ra rừng cỏ dại.
    Bài học còn để lại là sự sụp đổ dây chuyền của Liên Xô ở Đông Âu. Đó là một bài học cảnh báo. Nó không do bên ngoài tác động mà do nội bộ đảng ung rữa từ bên trong mà rơi rụng.
    Vậy thì nên hiểu rằng: Có nhiều điểm vay mượn tôn giáo, nhưng cộng sản vượt tôn giáo về sự sa đọa và biến chất
    • Cộng sản quốc tế vay mượn mặc áo tôn giáo
    Marx đã vay mượn tính chất tôn giáo để diễn tả những thực tại chính trị, kinh tế và xã hội như về tổ chức, về tinh thần như suy tôn cá nhân cũng như khái niệm chuyên chính vô sản.
    Cộng sản Liên Xô hay Cộng sản Việt Nam cùng áp dụng một số nguyên tắc của tôn giáo như: phục tùng tuyệt đối, chuyên chính bao phủ toàn thể cuộc đời một con người, ngay từ khi sinh ra.
  • Tôn giáo có Rửa tội, vườn trẻ, độc quyền đào tạo, nhồi sọ niềm tin vào đạo, vào đoàn ngũ hóa, hoặc chỉ cho phép hôn nhân giữa những người cùng đạo. Đảng cũng tổ chức những buổi tuyên thệ vào đảng, phục tòng tuyệt đối, độc quyền đào tạo, đoàn thể hóa mọi thành phần như các đoàn thể nhi đồng, hội phụ nữ, công nhân lao độngvv..
    Nhưng tính chất và mục đích có thể khác nhau. Giống mà khác nhau trong cách chọn lựa niềm tin, trong cách thể hiện và thực hành.
  • Cộng sản và tôn giáo cũng đều có tính ‘’bất khoan nhượng” một bên độc thần, một bên độc đảng.
    Bên công giáo có xưng tội thì bên đảng có kiểm thảo. Thật ra xưng tội và kiểm thảo là hai phạm trù chẳng những khác biệt mà còn đối nghịch. Xưng tội là thú nhận chỉ với Chúa mà vị linh mục chỉ là người đại diện làm trung gian hòa giải. Vì thế, người ta gọi Bí tích hòa giải để con người trở nên hoàn thiện.
    Kiểm thảo nói cho cùng chỉ là một hình thức làm nhục người khác và làm cho họ biết sợ. Tỉ như có trường hợp phải khai bừa ra để được yên thân: ngủ với mẹ vợ và em gái vợ.
    Cũng như cụm từ đấu tố nhau là sáng tạo riêng của đảng. Nó cực kỳ đểu cảng, cực kỳ gian dối, cực kỳ kịch tính như trong thời kỳ cải cách ruộng đất chỉ có đảng mới thần kỳ nghĩ ra được.
  • Về tính giai cấp, tôn giáo và đảng đều dựa trên giai cấp nông dân, người nghèo làm chỗ dựa với những đức tính như cần cù, nhẫn nại, không sợ gian khổ, tranh đấu tính rất cao, vận động được tinh thần ái quốc, chống Tây, chống ngoại xâm.
    Cái gì bên tôn giáo có-cả tốt lẫn xấu-, từ vinh quang đến sa đọa, từ hứa hẹn nước Trời đến hứa hẹn tiến lên Thiên Đàng XHCN-thì đảng rập theo như cùng một khuôn mẫu..
    Tuy có nhiều điểm bề ngoài xem ra có vẻ tương đồng như thế, nhưng mâu thuẫn tôn giáo và đảng là biện chứng mâu thuẫn loại trừ quyết liệt, chỉ có thể có một mà không có hai.
  • Với đảng, tôn giáo là kẻ thù, là thuốc phiện mê ngủ, là kẻ nội thù phản bội, kẻ bán nước, kẻ đi theo ngoại bang.
  • Phần công giáo đáp trả lại: cộng sản tự nó là điều xấu, điều tội lỗi. Và hơn tất cả, nó là chủ nghĩa vô thần. Vì thế, ở thế đường cùng phải chọn lựa, người theo đạo thà mất nước còn hơn bỏ đạo. Cứu rỗi phần hồn vẫn là ưu thế tuyệt đối. Phần thế gian trả lại cho thế gian.
    Và do những hiểu lầm như thế, sự lạm dụng tôn giáo ở nhiều mặt để nhằm phục vụ những mục tiêu chính trị của đảng.
    Cho nên, điều căn thiết hiện nay là Đảng cần phải được thế tục hóa, trả lại cái bộ áo tôn giáo mà họ đã vay mượn.
    Nhất là nơi từng cấp lãnh đạo đảng Việt Nam càng tỏ ra sự độc tài thô thiển, chật hẹp một chiều, không chịu mở ra, không có trao đổi, không có đối thoại, không chấp nhận ý kiến trái chiều.. Sự cố chấp ấy đi đến chỗ hoang tưởng, vênh váo, tự cao, tự đại, cái gì ta cũng đúng, cũng giỏi nhất.
    Tóm tắt, đảng phải tự cứu mình, ra khỏi bước chân lưu lạc, tìm ra con đường thoát hiểm. Có nghĩa là: Phải thế tục hóa đảng. Có nghĩa là đảng phải biết nhìn nhận sai lầm, từ bỏ tính giáo điều vay mượn từ tôn giáo, thực hiện ba quyền phân lập. Từ bỏ một xã hội khép kín vốn làm nên đảng, để tiến đến một xã hội mở để bước vào tương lai.
    Phân biệt xã hội kín và xã hội mở.
    Tôi thiển nghĩ đây là con đường thoát hiểm cho đảng CSVN cũng như Cộng sản Tàu, cộng sản Triều Tiên.
    Trước đây, xã hội kín là thế mạnh của cộng sản. Nó che đậy được sự yếu kém, sự dối trá lật lọng, bất chấp luật lệ, bất chấp sự chống đối trong nước và bẩt chấp dư luận quốc tế. Ngay từ buổi bình minh cộng sản, Lenin(tên thật là Vladimir Ilyich Ulyanov) luôn luôn coi sự dối trá như bước đầu cần thiết khi thời cơ chưa chín mùi. Và biến sự dối trá, che đậy thành cơ sở lý luận của người cộng sản. Và có thể nói: Đó là cái đạo đức chính trị của người cộng sản.
    Nếu cần dùng bạo lực như đàn áp, giam cầm và lưu đày. Và đó là cái thế mạnh nhìn từ bên ngoài, nhưng cũng thể hiện cái yếu kém nhìn từ bên trong.
    Phần Mao Trạch Đông, ngay từ tháng giêng 1951 đã đưa ra khẩu hiệu: ‘’ Đừng sợ trước các rối loạn”. ông nói: ‘’The Party,s mass line must be followed in suppressing counter-revolutionaries”.
    (Trích Chỉ đạo của Mao trạch Đông khi ông sửa đổi dự thảo nghị quyết của Hội nghị Quốc gia lần thứ ba về An Ninh Công Cộng tháng 5.1951 trong Selected Work of Mao Tsetung, Volume 5. Foreign Languages Press, Pekin. First edition, 1977, trang 50)
    Mao đã vận dụng quần chúng để xóa sạch những phần tử được gọi là ‘’tả khuynh” trên toàn cõi Trung Hoa, từ thành phố đến làng xã hẻo lánh. Hàng triệu người đã chết oan vì chính sách của Mao.
    Trong một khẩu hiệu tuyên truyền của Mao viết:
    ‘’Anh hãy là một cái vít trong bộ máy vĩ đại của chủ nghĩa xã hội.”
    ( Xem Thierry Wolton. Une histoire mondiale du communisme. Les victimes. Bernard Grasset, 2015, trang 667)
    Khẩu hiệu của Trung Quốc trong thời kỳ năm 1950 là ‘’ Yi bian dao » hay Nhất biên đảo là anh phải chọn lựa đứng về phía đảng.
    Nếu anh không chọn một bên, anh sẽ bị nghiền nát, trở thành kẻ bội phản.
    Khẩu hiệu, đường lối của họ Mao đã trở thành kim chỉ nam, sẽ trở thành khuôn mẫu khi đã rơi vào tay quyền lực cộng sản, sẽ được áp dụng tại Liên Xô, Bắc Hàn, Việt Nam và cả Tàu hay cộng sản Đông Đức.
    Năm 1958, Tổng Thư Ký, SED, Walter Ulbricht của cộng sản Đông Đức đã đưa ra giáo lệnh ‘’ 10 điều răn » để đảng viên phải tuân thủ. ( Nó có khác gì 10 điều răn của công giáo) về ‘’con người mới XHCN» .
    Bài học ấy đã được nhuần nhuyễn đến nỗi giáo sư Hoàng Ngọc Hiến đã đưa ra một khẩu hiệu ‘’ vô tiền khoáng hậu » là Việt Nam có một nền văn học Phải đạo. Phải đạo là biết tuân phục đảng, biết bảo sao nghe vậy. 100 nhà văn thì một trăm anh sống phải đạo. Sống thân phận thằng hèn như nhạc sĩ Tô Hải tự thú nhận.
    • Những gì của Cesar thì hãy trả cho cesar.
    Tôi nghĩ đến một sự sòng phẳng. Người cộng sản đã lợi dụng công giáo đã là một lẽ. Tôi đã cố gắng vạch ra những lợi dụng ấy và yêu cầu họ trả lại cho sự thật lịch sử. Nhưng nào phải chỉ có Công giáo bị tiếm danh và lợi dụng. Giáo Hội Phật giáo VN cũng chung số phận. Trước 1975, đã hình thành và có Giáo Hội Phật giáo VN Thống Nhất. Nhưng kể từ năm 1981, Cộng sản Việt Nam đã tráo trở biến nó thành một giáo hội Phật giáo quốc doanh không hơn, không kém. Thế là đủ rồi, đủ lắm rồi.
    ( Xem thêm Đỗ Trung Hiếu: Thống Nhất Phật Giáo Việt Nam. Nxb TIN, Paris 1955)
    Lịch sử đảng cộng sản cùng lắm trên dưới trăm năm so với hơn 2000 đạo Chúa. Tôi có trong tay những tập sách nhan đề: Choix des lettres Edifiantes. Écrites des Missions Étrangers. Có khoảng 10 tập, mỗi tập dày trên 400 trang. Đây là những lá thư của các vị Thừa Sai được gửi đi cùng thế giới để rao truyền đạo: từ Hy Lạp, Ba Tư cũng như Trung Hoa, Ấn Độ, Nhật Bản và cả Việt Nam. Những lá thư này được gửi đi về các xứ bộ truyền giáo như Ma Cao, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha. Họ trình bày những khó khăn về đời sống khó nghèo và cả những việc bách hại nữa.
    Phải có niềm tin sắt đá như thế nào đến vượt sức người và sự kiên trì suốt cả cuộc đời của các vị thừa sai. Thường thừa sai đến đâu thì chết ở đó.
    Họ là những người đi mở đường trên những cánh đồng truyền giáo như những luống cày vừa được vỡ đất với biết bao hy sinh với mồ hôi, với nước mắt và cả máu chảy nữa.
    Riêng tại V.N, đã có những nhà truyền giáo đi mở đường như Alexandre De Rhodes(1593-1660) và công việc truyền giáo Đàng Trong cũng như Đàng Ngoài. Sách do lm Dòng Tên Klaus Schatz. SJ, người Đức được dịch ra là: Hoa Trái ở Phương Đông, bản dịch của Phạm Hồng Lam, nxb Phương Đông.
    Tôi chả biết nói gì hơn. Chỉ xin mời cầm lấy mà đọc và chia xẻ.

Phần ba. Một vài định hướng cần thiết xoay chuyển cục diện thay cho phần kết luận.
Tôi vẫn tin rằng một xã hội khép kín và độc tài như cộng sản hiện nay, nó không có lý do để tồn tại, bởi vì nó không còn thích hợp cho con người nữa. Bởi vì đó là những vùng u ám che kín tương lai một đất nước. Tôi đợi nếu có một ngày, con người hôm nay đứng dạy, chế độ cộng sản sẽ bị suy tàn và đào thải.
Nhưng chẳng nhẽ cứ ỉ lại ‘’chờ xung rụng. ». Đợi đến bao giờ. Và đợi như thế có khác gì chờ hoa rụng chỉ chọn đất sạch.
Tôi có trong tay một cuốn sách mỏng như một cuốn sổ điện thoại và chỉ có 32 trang. Nhan đề cuốn sách là. Indignez-vous, tác giả là Stephane Hessel.( Phải biết phẫn nộ.Viết vào lúc cuối đời, 2010, năm ông 93 tuổi). Tôi hy vọng tuổi trẻ Việt Nam nên đọc và thấm thía những thông điệp của một người từng tranh đấu ở vào những năm tháng còn lại không còn bao nhiêu nữa. Và quả nhiên vào ngày 27-2-2013, tại Pháp, ông qua đời, thọ 95 tuổi. Cựu tổng thống Pháp Francois Hollande phân ưu : ‘’khả năng phẫn nộ của ông là vô tận..Ông đã để lại cho chúng ta một bài học, đó là không cam chịu trước bất kỳ một sự bất công nào. »
Đôi dòng về tiểu sử tác giả (Tôi gọi ông một cách thân mật là Ông Già Gân. Chữ dùng để chỉ cụ Trần Văn Hương, cựu phó tổng thống VNCH thường đối đầu một cách gan lì trước những nghịch cảnh, NVL ghi chú)
Ông sinh ra tại Berlin năm 1917. Bố mẹ ông là người Đức gốc Do Thái. Bố ông là một nhà văn đồng thời là nhà dịch thuật. Mẹ ông là một họa sĩ, nhạc sĩ đồng thời là nhà văn. Năm 1924, bố mẹ ông dọn sang Paris gồm 4 người. Một người anh trai của ông tên Ulrich và ông là Stephan. Stephan lớn lên được nhận vào học ở trường nổi tiếng của nước Pháp. École Normale Supérieure, ở phố Ulm giữa lòng Paris, năm 1939. Nhưng việc học của ông bị đứt đoạn vì thế chiến thứ II. Năm 1937, ông vào công dân Pháp và bị trưng tập vào quân đội Pháp. Măm 1941, ông bỏ Paris sang Luân Đôn theo De Gaulle gia nhập Lực lượng tự do của Pháp vào tháng 3-1941. Ông hoạt động trong Phòng Trung Ương tình báo BCRA cho đến cuối tháng ba, năm 1944. Ông được gửi về Pháp hoạt động gián điệp lén lút, dưới số hiệu Greco. Hoạt động của ông có mục đích thiết lập mối liên lạc với các phong trào kháng chiến ở ParIs và gửi các thông tin sang Luân Đôn để chuẩn bị cho việc quân đội đồng minh đổ bộ. Nhưng ngày mồng 10, tháng bảy năm 1944, ông bị lộ và bị Gestapo bắt ở Paris. Ông bị Đức tra tấn trước ngay giải phóng Paris và bị đưa vào trại giam Buchenwald với bản án bị treo cổ. Trước khi bị hành hình, ông giàn xếp với một người Pháp bị chết vì xưng phổi. Ông giả mạo tên người Pháp này, Michel Boitel và sau đó được chuyển sang trại Rottleberode, gần nơi người Đức sản xuất máy bay Junkers Ju 52. Ông tìm cách trốn thoát nhưng bị bắt và lần này được chuyển đến trại Dora, nơi sản xuất các loại bom bay V-I và V-2. Ông lại tìm cách trốn trại một lần nữa và lần này thành công vì gặp quân đội Đồng Minh đang tiến gần đến trại Dora.
Sau đó, ông quay trở lại Paris, gặp lại vợ là Vitial và hai con.
Nắm 1946, ông được nhận vào làm việc tại Bộ Ngoại Giao Pháp và được gửi sang làm phụ tá tổng thư ký Hội Đồng Liên Hiệp Quốc và đứng đầu Ủy Ban Nhân Quyền.
Sau này, khi sang thăm giải Gaza, Palestine, ông tuyên bố: ‘’ Tôi luôn luôn là người đứng bên cạnh những người bất đồng chính kiến”
( Tóm tắt tiểu sử của ông trong sách, trg 36-41)
Cuốn sách Indignez-vous cho thấy ông đứng về phía các phong trào phản kháng như cuộc chiến tranh Algérie dành độc lập. Cuộc chiến của người Palestine, cuộc nội chiến Tây Ban Nha.
• Sau này, thông điệp của ông cũng là nguồn cảm hứng cho các phong trào tranh đấu dưới các hình thức chủ nghĩa bá quyền hoặc độc tài toàn trị. Nhiều cuộc biểu tình bên Châu Âu như tại chính nước Pháp, tại Hy Lạp, tại Tây Ban Nha.. dưới nhãn hiệu những phong trào của ‘’ người phẫn nộ » một cách không bạo động.
• Những phong trào như thế- tiếc thay- đã không xảy ra ở Việt Nam. Cùng lắm, có một số người trẻ lên tiếng và chịu cảnh tù đầy một cách đơn độc. Nó cho thấy, người Việt Nam phải chăng đã bị điều kiện hóa như một quán tính và như thể mất phương hướng, không tìm ra lẽ sống đích thực của một cuộc sống mà phẩm giá con người cần được tôn trọng. Trong đó hơn 90 triệu người Việt Nam hiện nay nằm dưới ách thống trị của vài triệu đảng viên. Cần một sự phẫn nộ lan truyền và dám đứng lên thách đố quyền lực đảng trị. Người ta không thể tù đầy cả 90 triệu người một lúc. Phải đứng lên chống lại sự bá quyền của vài triệu đảng viên, dành lại chủ quyền và tự do cho người dân.
Theo ông, dòng chảy lịch sử của các phong trào tranh đấu bắt nguồn từ thái độ biết phẫn nộ. Đó là cái vốn quý giá nhất cho các phong trào giải phóng dân tộc. Khi người ta cảm thấy bất nhẫn, phẫn nộ, người ta trở thành những nhà tranh đấu, dấn thân, nhập cuộc, nhận lãnh trách nhiệm. Điều này ngay từ hồi sinh viên trường École Normale Supérieur- do ảnh hưởng của Sartre qua các cuốn La nausée, Le Mur- không phải cuốn L,Être et le néant- đã ảnh hưởng tới dòng tư tưởng của ông sau này.
Đó là ý thức trách nhiệm, nắm lấy vận mệnh của chính mình- không do một quyền lực nào bên ngoài, ngay cả Thượng Đế-. Đó cũng là lý do tại sao, ông phẫn nộ đứng về phía người Palestine, về giải Gaza và Cisjordanie để lên án quân đội Israel mà ông cho là đã phạm những tội ác chống lại con người. Nhưng đồng thời ông cũng không chấp nhận bạo động khủng bố. Ông nghi ngại tính hiệu quả của việc khủng bố vì nó quay lưng lại niềm hy vọng của con người.
• Theo chủ trương của ông, thái độ thờ ơ thản nhiên là thái độ tệ hại nhất. Nó không thể chấp nhận được, nếu có một suy nghĩ, mở mắt ra một cách chăm chú về những cảnh chung quanh mình, anh sẽ nhìn thấy sự thật. Anh sẽ nhìn thấy lý do tại sao anh phải dấn thân. Đó là lý do, tại sao tôi kêu gọi những người trẻ phải dấn thân.
• Áp dụng vào hoàn cảnh Việt Nam : Tôi nhận thấy những người cỡ thế hệ tôi- họ tỏ ra bất lực, họ chán nản buông xuôi. Họ như thể cảm thấy đã hết thời. Họ không muốn nói xa gần đến các vấn đề thời cuộc. Có thể họ cho là nó đã vuột khỏi tầm tay họ. Tệ hại hơn nữa, họ cho rằng những người cầm bút như tôi ở hải ngoại là những người không tưởng, bọn rỗi hơi.
• Thế hệ trẻ sau này- tưởng họ có bầu nhiệt huyết, sự hăng say tuổi trẻ-. Không. Hoàn toàn không. Họ hầu như thờ ơ, thản nhiên trước những bất công của xã hội như chênh lệch giàu-nghèo, tham nhũng tràn lan, bất tài đảng trị, bịt miệng tiếng nói ‘’dân oan ». Họ thản nhiên coi là chuyện của ‘’đời thường ». Bản thân họ và gia đình họ no đủ. Họ tìm lãng quên vào chuyện ăn nhậu, đấu láo vênh váo vung vít trên bàn nhậu, tránh né những chuyện ‘’nhạy cảm » đụng chạm tới chính trị, quyền lực. Họ mất lý lẽ của cuộc sống có lý tưởng, họ sa đà vào những thú vui nhất thời tìm quên. Tệ hơn nữa, bọn xã hội đen, bất mãn xã hội, hành xử như bọn giang hồ, anh hùng cá nhân, sẵn sàng đâm chém, sẵn sàng xử dụng bạo lực để thanh toán bất chấp pháp luật. Đó là mặt trái của Xã hội chủ nghĩa.
• Để chấm dứt bài viết này, tôi mượn thông điệp của của một con người để cả đời tranh đấu cho quyền con người gửi đến giới trẻ Việt Nam. Mong đất nước Đứng Lên trong viễn tượng không còn bóng dáng cộng sản như một niềm hy vọng…Cũng ở đây, xin mượn mấy câu thơ của thi sĩ Nguyễn Chí Thiện như khép lại vòng lịch sử oan nghiệt của VN:
‘’Sẽ có một ngày
Con người hôm nay
Vất súng, vất cùm, vất cờ, vất đảng
Đội lại khăn tang, quay ngang vòng nạng oan khiên. »