Chữ Nho, chữ Hán và chữ Nôm khác biệt ra sao? 

Chữ Nho, chữ Hán và chữ Nôm khác biệt ra sao?
Lời đầu
Khi hỏi người Việt về sự khác biệt của ba thứ chữ nói trên thì đa số nói không rõ hoặc nói “gần giống như nhau“. Hư thực sự ra sao?
Nguồn gốc của ba thứ chữ là do từ tiếng Hán mà ra nhưng lại khác nhau.
I – Chữ Nho 儒 (le chinois classique)
Trước năm 1919, nhà Nguyễn hoặc trước đó, vua chúa tuyển dụng quan chức ở các cuộc thi Hương, thi Hội, thi Đình dành cho những người biết chữ Nho (xem phần 2) . Đến thời vua Khải Định (1885-1925) thì các cuộc thi nói trên bị huỷ bỏ để nhường chỗ cho các cuộc thi “Tây học“. Nhà thơ trào phúng Tú Xương [1870-1907) với giọng mỉa mai thương xót số phận các nhà nho đương thời với bốn câu nổi tiếng sau:
“Nào có ra gì cái chữ nho,
Ông Nghè (tiến sĩ), ông Cống (cử nhân) cũng nằm co,
Chi bằng đi học làm thầy phán,
Tối rượu sâm banh (champagne), sáng sữa bò“.
Chữ Nho là tiếng Hán dịch thẳng ra tiếng Việt. Người biết chữ nho không nói được tiếng Tàu nhưng có thể đàm thoại qua chữ viết.
Thí dụ câu của Khổng tử (孔子, 551-479 TCN) nói: “己所不欲也, 勿施于人“, dịch ra chữ nho là “Kỷ sở bất dục giả, vật thi ư nhân“, hàm nghĩa là điều mì̀nh không muốn người khác làm cho mình thì đừng làm cho người khác. [N’inflige pas à autrui ce que tu ne voudras pas qu’on te fasse]
Nếu đọc bằng tiếng Hán thì phải đọc “Ji suo bù yù ye, wù shi yú rén“.
Hoặc câu nói của Mạnh tử (孟子, 371-289 TCN): “ 民为贵,社稷次之,君为轻“ dịch ra chữ nho là “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh“, hàm nghĩa là dân là quý, kế tiếp là quốc gia, sau đó mới đến vua. Chữ khinh có nghĩa là nhẹ hoặc khinh miệt. Nếu đọc bằng tiếng Hán thì phải đọc “Mín wéi guì, shè jì cì zhi, jun wéi qing“.
II-Chữ Tàu (Hán) 漢字 (汉字)
Đó là tiếng viết và nói của người Tàu, còn gọi là tiếng quan thoại. Tuy nhiên, người Quảng Đông và Hongkong khi nói phát âm khác nhau gần với tiếng Việt. Chẳng hạn như ta thường nghe họ nói “Ngộ tả nị sẩy, 我打你死“ (wo dă ní si, tao đánh mầy chết). Ngoài ra còn có tiếng lóng địa phương ở nhiều nơi. Ngược lại, người Đài Loan nói tiếng quan thoại nhưng dùng chữ viết không đơn giàn hóa (chữ cũ). Khi ĐCS Mao chiếm lục địa lên cầm quyền năm 1949, họ tạo ra phanh âm (pinyin) chữ viết đặc biệt là tên tuổi hoặc địa danh. Trước đó, ở thế kỷ 19, người Tây phương dùng chữ cái La tinh để viết theo cách Wade-Giles, tên hai người phát minh (Thomas Francis Wade và Hebert Giles). Thí dụ, tên Mao Trạch Đông (毛泽东), Wade-Giles viết là Mao Tsé-tung trong khi viết theo pinyin là Mao Zedong hoặc tên Tưởng Giới Thạch (蒋介石), Wade-Giles viết Tchang Kai-chek thay vì Jiang Jieshi viết theo pinyin. Ngoài ra, ĐCSTQ cũng đơn giản hóa chữ viết vì có một số chữ có nhiều nét rất phức tạp khó nhớ.
Thí dụ chữ ái (yêu), chữ cũ viết là 愛trong khi chữ đơn giản viết 爱hay chữ quốc (guó) viết theo chữ cũ là 國trong khi chữ đơn giản viết là 国. Hai chữ phức tạp nhất của Hán tự là chữ yù 鬱và cuàn 爨có 29 nét (trait) khi viết. Chữ yù tiếng Việt dịch là uất (buồn bã), chữ cuàn dịch là thoán có nghĩa là nhóm lửa để thổi nấu. Chữ yù (uất) khi viết đơn giản chỉ còn 8 nét là 郁. Hai chữ viết hoàn toàn khác nhau trong khi chữ cuàn (thoán) có lẽ ít dùng nên giữ nguyên.
Chữ viết đơn giản bị nhiều người chỉ trích. Họ nói chữ ái (yêu), chữ đơn giản viết mất đi chữ tâm (心) ở giữa. Họ nói yêu mà không có trái tim thì yêu cái gì!. Khi tìm chữ viết, người TQ dùng bộ (radical) để tra tự điển. Thí dụ chữ an 安có hai bộ, họ tìm bộ miên 宀 (phần trên) hoặc bộ nữ女 (phần dưới). Bộ miên có nghĩa là mái nhà, nữ là phụ nữ. Dưới mái nhà có đàn bà phụ nữ cư ngụ thì được bình yên vô sự. Hán tự có tất cả 214 bộ.
Chữ Tàu khi viết bằng pinyin như sau: Zhong guó hen dà, 中国很大, TQ là nước rất lớn hoặc Ni dào Zhong guó qù, 你到中国去, ông (bà) đi TQ.
Nói chung, học tiếng Hán nên học chữ không đơn giản vì muốn nghiên cứu phần lớn sách viết bằng chữ cũ.
III-Chữ Nôm hay Hán Nôm 字字喃
Chữ Nôm là do các cụ đồ VN biến chế từ chữ Hán để chứng tỏ tính độc lập với TQ. Tiếng Nôm có từ thế kỷ 10 nhưng thịnh hành ở thế ky 13 dưới thời vua Trần Nhân Tông (1279-1293). Người nổi tiếng về chữ Nôm là Thượng thư bộ Hình Hàn Thuyên, tên thật là Nguyễn Thuyên (阮诠, 1229-?). Dưới thời Hồ Quý Ly (胡季犂, 1336-1407), chữ Nôm được dùng làm công văn trong hành chính. Truyện Kiều của Nguyễn Du (阮攸, 1765-1820) hoặc Cung oán ngâm khúc (la complainte d’une concubine royale) của Nguyễn Gia Thiều (阮嘉韶,1741-1798) đều viết bằng chữ Nôm. Chinh phụ ngâm (Plainte d’une femme dont le mari est parti en guerre) của Đặng Trần Côn (邓陈琨, 1705-1745) viết bằng chữ Hán cổ điển được nữ sĩ Đoàn Thị Điểm (段氏点, 1705-1748) dịch sang chữ Nôm.
Điều oái oăm (quái dị) là tiếng Nôm viết từ tiếng Hán nhưng người TQ đọc …mù tịch (không hiểu).
Lấy một vài thí dụ:
1-Dạng đơn giản
Chữ năm theo tiếng Việt có hai nghĩa, một là số năm, hai là năm tháng. Người TQ có chữ tương tự. Số năm, họ viết là ngũ (五wu), năm tháng viết là niên (年nián).
Các cụ đồ ta biến chế thành: Số năm bao gồm hai chữ viết dính liền là Nam 南và Ngũ 五. Chữ Nam khi phát âm giống trài trại “Năm“, chữ Ngũ là ý nghĩa. Như vậy, số năm viết theo tiếng Nôm là 南五.Tương tự về năm tháng, họ dùng chữ Nam và Niên viết liền nhau như sau 南年. Người TQ hiếu nghĩa khi viết tách rời nhưng khi ghép lại thì …chịu trận! Đó chỉ là một dạng đơn giản, còn nhiều dạng rắc rối hơn.
2-Cũng như dạng một, dạng thứ hai ghép hai chữ trên và dưới thay vì dính liền cạnh nhau.
Nghĩa tiếng Việt Lấy chữ Hán dùng làm nghĩa Chữ Hán dùng làm âm thanh Mượn chữ Hán phát âm bằng tiếng Việt Chữ Nôm

Giải thích :
Chữ thiên (天) tiếng Hán có hai nghĩa: Trời và ngày. Trong chữ trời, có chữ thiên và chữ thượng (上) để ám chỉ là chữ trời. Còn chữ lời cũng viết giống như chữ trời nhưng có thêm bộ khẩu (口) phía bên trái của chữ thiên (tô màu vàng).
Như vậy chữ Lời tiếng Nôm có ba chữ Hán ghép lại: chữ thiên 天, chữ thượng 上 và chữ khẩu 口.
3- Giữ nguyên hình và nghĩa chữ Hán nhưng đọc thẳng tiếng Nôm
che/车/ xa, đọc xe, gu/孤/cô (cô đơn), đọc côi, ju/局/ cục, đọc cuộc, bing/饼bính, đọc bánh, jia/家/gia, đọc gia, juàn/卷/quyển, đọc cuốn, Jin/巾/cân, đọc khăn, wa/瓦/ngoã, đọc ngói, xin/心/tâm, đọc tim, xie/些/tá, đọc ta vv…
4-Giữ nguyên chữ Hán nhưng đổi âm thanh và ý nghĩa
Có hai trường hợp:
a-Mượn hình chữ Hán nhưng đọc trài trại đề biến thành chữ khác.
Dì/帝/đế, đọc đấy, luó/罗/la, đọc là, bié/别/biệt, đọc biết, jí/及/cấp, đọc gặp, nòng/弄/lộng đọc sống vv..
Trong các thí dụ này lấy chữ bié có nghĩa là biệt trong tiếng Hán (đặc biệt, giả biệt), nhưng chữ Nôm đọc là biết (hiểu biết). Nghĩa chữ Hán và chữ Nôm hoàn toàn khác nhau.
b-Dùng chữ Hán nhưng thêm chữ hình vẽ (pictogramme) hoặc phụ thêm từ rễ (radical) để làm thành chữ mới.
1-Thêm hình vẽ bên trái hay bên mặt (màu vàng) nhưng đọc hoàn toàn khác nhau.
Nü/<女 /nữ, đọc thành nợ, mă/马< /mã, đọc mỡ, zhu/ v朱/ chu, đọc cho, bei v贝/bối, đọc buổi, qu/“区/khu, đọc xua, shì/“示/ thị, đọc thì, jù/“具/cụ, đọc cọ (frotter).
Trong thí dụ chữ Hán nü (女) có nghĩa là nữ (phụ nữ, nữ giới) nhưng khi có thêm hình vẽ phía bên trái < và đọc tiếng Nôm trở thành nợ (thiếu nợ). Chữ mã 马 (ngựa) có thêm hình vẽ tay mặt <, tiếng Nôm đọc thành mỡ (graisse).
2-Thêm từ rễ (bộ)
Thí dụ thêm bộ thuỷ氵trước chữ ruò 若 (ruò nghĩa là nhược) (氵+若), đọc là nước (có thể là nước uống hay nước nhà).
Thí dụ 2, thêm bộ thủ 扌trước chữ yú 于 (yú nghĩa là vu) (扌+于), đọc Vo (quấn tròn).
Những chữ ghép này không có trong tiếng Hán!.
Đó cũng chỉ vài thí dụ, còn nhiều dạng khác nữa mà chỉ người có học tiếng Nôm mới biết hết.
IV-Chữ quốc ngữ hay tiếng Việt
Chữ quốc ngữ được các giáo sĩ Bồ Đào Nha Francisco de Pina (1585-1625) hoặc giáo sĩ Pháp Alexandre de Rhodes (1591-1660) la tinh hóa vào đầu thế kỷ 17. Riêng giáo sĩ Pháp Pigneau de Behaine (1741-1799) hay Bá Đa Lộc là người cuối cùng hoàn thiện chữ viết. Tiếp theo đó các học giả Trương Vĩnh Ký (1837-1898), Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936), Phạm Quỳnh (1892-1945),vv.. cải thiện cho đến ngày nay.
Lời kết
Các cụ nhà nho VN rất thiên tài. Lấy tiếng người để làm tiếng mình nhưng người TQ đọc không hiểu. Chữ Hán đã khó, chữ Nôm còn khó hơn nhiều lần. Do đó, ngày nay số người biết chữ Nôm ở VN rất hiếm dù ở Hà Nội có viện Hán Nôm.
Phụ lục
Chúng tôi kèm theo bản án văn tuyệt tác Kiều (翘) của Nguyễn Du viết bằng tiếng Nôm gồm có 3255 câu thơ

(trích 14 câu thơ chữ Nôm đầu, hàng thứ nhất từ phải)
Đọc từ trên xuống dưới và từ mặt sang trái
1-Trăm năm trong cõi người ta: Cent années, le temps d’une vie humaine, champs clos,
2-Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau: Où sans merci, Destin et Talent s’affrontent,
3-Trải qua một cuộc bể dâu: L’océan gronde là où verdoyaient les mûriers,
4-Những điều trông thấy mà đau đớn lòng: De ce monde, le spectacle vous étreint le cœur,
5-Lạ gì bỉ sắc tư phong: Pourquoi s’étonner? Rien n’est donné sans contre partie,
6-Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen: Le Ciel bleu souvent s’acharne sur les beautés aux joues roses,
7-Cảo thơm lần giở trước đèn: Un vieux manuscrit feuilleté à la clarté de la lampe,
8-Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh: Des temps anciens, nous raconte cette histoire d’amour,
9-Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh: Sous l’empereur Gia Tĩnh, dynastie Minh,
10-Bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng: Calmes étaient les frontières, bien assises les deux capitales,
11-Có nhà viên ngoại họ Vương: Lors vivait l’honorable Vương,
12-Gia tư nghĩ cũng thường thường bực trung: De moyenne fortune,
13-Một trai con thứ rốt lòng: Le fils héritier, Quan cadet de famille, étudiait,
14-Vương Quan là chữ, nối dòng nho gia: Continuant une longue lignée des lettrés,
15-Đầu lòng hai ả tố nga: Deux soeurs le précédaient,
16-Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân: Thuý Kiều grande soeur et Thúy Vân soeur cadette.
[Extrait dans KIỀU, les amours malheureuses d’une jeune fille vietnamienne au XVIIIè siècle, Editions l’Harmattan 1999, 411 pages, traduit du vietnamien par Nguyễn Khắc Viện]
Nguyễn Du (阮攸, 1765-1820), ou Tố Như (素如) naquit en 1765 à Tiên Điền, province de Hà Tĩnh (Nord Viêt Nam) à l’époque des Hậu Lê 后黎 (Les Lê postérieurs). Ayant occupé un poste modeste dans la fonction publique, il se retira dans son village natal après le renversement des Lê par les Tây Sơn西山 (1788-1802). Le premier empereur Gia Long (嘉隆, 1802-1820) des Nguyễn (阮) cherchant à rallier les anciens sujets des Lê lui offrit de reprendre sa carrière mandarinale. Après avoir décliné plusieurs fois cette offre, il avait fini par accepter de servir la nouvelle dynastie. En 1813, il fut chargé de conduire une ambassade en Chine. Il mourut en 1820. [Nguyễn Du (1765-1820) hay Tố Như sinh năm 1765 ở Tiên Điền, tỉnh Hà Tĩnh vào thời Hậu Lê. Ông là một công chức khiêm tốn trong hành chính rồi rút lui về quê sau khi Tây Sơn (1788-1802) lật đổ nhà Lê. Khi vua Gia Long (1802-1820), nhà Nguyễn tìm các quan chức nhà Lê trở lại phục vụ triều đình, ông nhiều lần từ chối nhưng cuối cùng chịu ra làm quan. Năm 1813, ông đảm trách sứ quán ở Trung Quốc. Ông qua đời năm 1820.] Phần hai: Về thi Hương, thi Hội và thi Đình. Thời vua Khải Định nhà Nguyễn, thi Hương bị huỷ bỏ năm 1915 ở Trung Kỳ và năm 1918 ở Bắc Kỳ, thi Hội năm 1919. Riêng ở Nam Kỳ, người Pháp đã bỏ chữ nho để thay bằng chữ quốc ngữ từ năm 1878. Ba cuộc thi Hương, Hội, Đình có từ thời Lý Nhân Tông (1066-1128) năm 1075 kéo dài 844 năm. Việc thi cử thời phong kiến ở VN rất phức tạp. Thí sinh dự thi phải đáp ứng về đạo đức, lý lịch “trong sạch“, khả năng học vấn tốt vv..Do đó, có cuộc thi sát hạch trước khi được tham gia vào các cuộc thi. Người trúng tuyển chẳng được có học vị gì cả, riêng người đỗ đầu được gọi là “đầu xứ“ cùng nghĩa với nhà nho uyên thâm. Đó là trường hợp của hai ông Nguyễn Khắc Nhu và Ngô Tất Tố. -Thi Hương là thi ở địa phương. Người trúng tuyển ba kỳ còn gọi là tam trường được gọi là tú tài hay ông Đồ, trúng tuyển bốn kỳ hay tứ trường được gọi là cử nhân hay Hương Cống. Người đỗ thủ khoa gọi là Giải Nguyên. Các môn thi bao gồm: kỳ 1 kinh nghỉ̃a (tứ thư, ngũ kinh), kỳ 2 chiếu, chế, biểu (lời vua nói, vua phong thưởng công thần, bài văn thần dân tạ ơn vua), kỳ 3 thơ phú (làm theo thể thất ngôn), kỳ 4 văn sách (bài văn trả lời câu nói về một vấn đề). -Thi Hội là một khoa thi về Nho học được tổ chức ba năm một lần dành cho những người đỗ thi Hương. Trước năm 1442, người trúng tuyển không có học vị gì cả vẫn là cử nhân (Hương Cống). Những người đỗ cao được phép tham dự thi Đình. Sau 1442, người đỗ đầu được gọi là Hội Nguyên, đỗ kế tiếp là Thái học sinh (tiến sĩ) rồi Phó bảng. -Thi Đình được tổ chức tại cung đình do vua ra đề và chấm khảo dành cho những người đỗ thi Hội để có học vị Tiến sĩ bao gồm ba cấp. 1-Tiến sĩ đệ nhất giáp, còn gọi Tam khôi, người đỗ đầu là trạng nguyên (ông trạng), kế tiếp là bảng nhãn (ông bảng), sau là thám hoa (ông thám). 2-Tiến sĩ đệ nhị giáp, người đỗ gọi là hoàng giáp (ông hoàng). 3-Tiến sĩ đệ tam giáp, người đỗ gọi là đồng tiến sĩ xuất thân mà dân gian gọi là ông tiến sĩ (Trường hợp Phan Thanh Giản (1796-1867) đỗ năm 1826). Những người trúng tuyển thi Đình được tuyển chọn làm quan ở triều đình. Sau đây là danh sách của một số người nổi tiếng đỗ trạng nguyên, đình nguyên, hoàng giáp, giải nguyên và phó bảng. 1-Trạng nguyên 状元 Theo wikipedia, VN có 56 trạng nguyên nhưng có 7 hay 9 người đầu không có danh hiệu vì chưa có định chế tam khôi trong đó có 47 người được vinh danh ở Văn Miếu Hà Nội. Người đầu có danh hiệu là Nguyễn Quan Quang (1222-?) đỗ năm 1246, người đỗ cuối cùng là Trịnh Tuệ hay Trịnh Huệ (1701-?) đỗ năm 1736. Ba trạng nguyên khác được nhiều người biết là Mạc Hiển Tích (1060-1189) đỗ năm 1086 khi chưa có danh hiệu, Mạc Đỉnh Chi (1272-1346) cháu 5 đời của Mạc Hiển Tích đỗ năm 1304 và Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) đỗ năm 1535. Theo thống kê, có phân nửa Trạng nguyên xuất thân từ hai tỉnh Bắc Ninh và Hải Dương. 2-Đình nguyên 廷元 Đình nguyên thay Trạng nguyên dưới thời vua Minh Mạng (1791-1841). Theo Wikipedia có tất cả 49 Đình nguyên. Người đỗ đầu tiên là Nguyễn Y (1796-?) năm 1822, người đỗ cuối cùng là Nguyễn Phong Di (1889-?) năm 1919 dưới thời vua Khải Định. Ngoài Nguyễn Khuyến (1835-1909) đỗ Hoàng giáp năm 1871, người thứ hai có tiếng là Phan Đình Phùng (1844-1895) đỗ năm 1877 (đồng TS xuất thân) 3-Hoàng giáp 黄甲 (TS đệ nhị giáp) Ngoài Nguyễn Khuyến có nói trên, hai người khác nổi tiếng là Đào Nguyên Phổ (1861-1907) đỗ năm 1898 và Nguyễn Khắc Niệm (1889-1954) đỗ năm 1907. Ông Niệm là cha của ông Nguyễn Khắc Viện, tác giả của bản dịch Kim Văn Kiều sang tiếng Pháp (xem phần dưới). 4-Giải nguyên 解元 Giải nguyên là người đỗ thủ khoa của kỳ thi Hương. Một số người nổi tiếng đỗ Giải nguyên là: La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp (1723-1804) đỗ lúc 21 tuổi, Lê Quý Đôn (1726-1784) đỗ lúc 18 tuổi, Nguyễn Công Trứ (1778-1858) đỗ lúc 42 tuổi, Buì Hữu Nghĩa (1807-1872) đỗ lúc 29 tuổi, Thủ khoa Huân (1830-1875) đỗ lúc 22 tuổi, Nguyễn Khuyến (1835-1909) đỗ lúc 30 tuổi, Hồ Sĩ Tạo (1841-1907) đỗ lúc 28 tuổi, có nguồn tin nói là ông nội huyết thống của ông Hồ, Phan Bội Châu (1867-1940) đỗ lúc 23 tuổi.
5-Phó bảng 副榜
Phó bảng còn gọi là Ất Tiến sĩ là học vị khoa cử dưới thời nhà Nguyễn có từ năm 1829 đến 1919. Một số người có tiếng đỗ Phó bảng là: Nguyễn Văn Siêu (1799-1872) năm 1838, Hoàng Diệu (1829-1882) năm 1853, Nguyễn Thuật (1842-1911), Phan Chu Trinh năm 1901,
Minh họa

Quang cảnh khóa thi Hương năm Canh Tý (1900) tại trường thi NamĐịnh.

Quang cảnh một trường thi Hương năm Nhâm Tý (1912) ở Nam Định với chòi canh và lều chõng của thí sinh. Thí sinh bắt đầu cầm bút từ 5 giờ sáng đến khoảng 4-5 giờ chiều thì nộp bài.

Việc thi cử ở trường thi rất nghiêm nhặc. Thí sinh không được mang tài liệu, vi phạm bị 100 roi, không được đi lại lộn xộn, nói năng ồn ào, cấm ngồi không đúng chỗ, cấm dùng những chữ thô tục về nghĩa cũng như về âm vv..

Kỳ thi Hương năm Bính Ngọ (1906) dưới thời vua Thành Thái có hơn 6000 thí sinh trong khi khóa năm Nhâm Tý (1912) dưới thời vua Duy Tân chỉ còn có 1330. Điều này cũng dễ hiểu. Số người bỏ chữ nho để chuyển sang học tiếng Pháp ngày càng đông hầu trở thành thầy phán, thầy thông, thầy ký vv..như lời “khuyên bảo“ của nhà thơ Tú Xương.
I-Chuyện ông cử 82 tuổi sau 21 lần thi 

Hình cụ cử Đoàn Tử Quang năm 1924 khi 106 tuổi
Đây có thể nói là chuyện độc đáo ở VN nếu không nói là trên thế giới về sự kiên nhẫn hiếm có của một cụ đồ. Đó là ông Đoàn Tử Quang (段子光, 1818-1928) quê ở Hà Tĩnh cùng quê với nhà đại văn hào Nguyễn Du. Ông không những là người cao tuổi (82) khi đỗ cử nhân sau 21 lần dự thi mà còn là một trong những người cao tuổi nhất đương thời với 110 tuổi! Không những vậy, ông còn được triều đình ban chức Huấn đạo trong ba năm 1901-1903 trong khi mọi người ở tuổi ông đã về hưu từ lâu. Ông cũng sống trong suốt 13 đời vua nhà Nguyễn từ Gia Long đến Bảo Đại.
Theo con cháu của ông, ông tên thật là Đoàn Tự Cận sau đổi thành Đoàn Tử Quang. Lý do theo ông là hai chữ lót Tự Cận không “hên“ vì chữ Tự trong chữ Hán có nghĩa là mái che trên không, chữ Cận có nghĩa là gần nên không nhìn được xa. Còn Tử Quang có nghĩa là con và ánh sáng hào quang. Ông cho rằng do tên “không tốt“ nên ông bị trượt cử nhân đến 20 lần. Dù vậy, ông đỗ tú tài khi 49 tuổi. Đến kỳ thi Hương năm Canh Tý 1900, ông không có ý định đi thi vì tuổi đã cao nhưng trong làng ông chẳng có ai dự thi nên các quan chức làng phải nhờ mẹ ông can thiệp. Do ông là người con hiếu thảo vì cha mất sớm và được mẹ khuyến khích học hành nên ông “đành“ phải tuân theo lời mẹ lúc đó tuổi đã ngoài 100.
Việc ông trúng tuyển cử nhân cũng là một đề tài hy hữu. Trong kỳ thi này ông được hai ưu và hai thứ chỉ kém thủ khoa Giải Nguyên Phan Bội Châu (潘佩珠, 1867-1940) một ưu. Lẽ ra ông phải được xếp hạng Á Nguyên. Thế nhưng, ông bị đánh hỏng vì phạm lỗi trường quy do ông quên viết ba chữ “công quyền nội“ như theo quy định. Song quan chả̉nh chủ khảo vì cảm phục chí học hành bền bĩ của ông nên làm tờ tâu về triều đình xin cho ông được đỗ nhưng chỉ được xếp 29/30. Cụ cử Quang đúng là người thuộc ngoại hạng.
Tóm lược theo nguồn: Giáo dục & Thời đại ngày 22-4-2022.
2-Chuyện Khương Công Phụ, người gốc Việt duy nhất đỗ trạng nguyên làm tể tướng nhà Đường TQ

Đền thờ Khương Công Phụ ở xã Đình Thành, huyện Yên Định, Thanh Hóa, nhân dịp lễ Dân Hương năm 2019, hình lấy từ Wikipedia.
Đây là một chuyện hy hữu về một người gốc “An Nam“ thời Bắc thuộc làm đến tể tướng sau khi đỗ trạng nguyên dưới triều Đường Đức Tông (742-805). Vào thời đó, đất An Nam mỗi năm được phép gửi sang kinh đô Tràng An (nay là Tây An, thủ phủ tỉnh Thiểm Tây) 8 thí sinh dự thi tiến sĩ. Năm 758, trong 8 người dự thi có hai anh em Khương Công Phụ (姜公輔, 731-805) và Khương Công Phục. Hai anh em người gốc đất Ai Châu, quận Cửu Chân, nay là Thanh Hóa có tiếng là thông minh, thông suốt Tứ thư, Ngụ̃ kinh và thấu hiểu nghĩa lý trong Kinh thư, Kinh lễ lúc thiếu thời.
Trước khi đến Tràng An dự thi tiến sĩ, Khương Công Phụ đã trải qua nhiều cuộc thi sát hạch và đều được xếp vào hạng xuất sắc. Sau khi đỗ trạng nguyên năm 758, ông lần lượt được vua Đường phong chức “Hiệu thư lang“, “Gián nghị đại phu“ rồi “Tể tướng“. Người em Khương Công Phục cũng được phong chức “Lang trung bộ Lễ“.
Năm 784, công chúa Đường An không may chết yểu. Do quá thương con, vua Đường xuất nhiều ngân khố làm lễ hậu táng xây tháp trong khi binh loạn chưa dứt, dân tình khốn khổ nên Khương Công Phụ thẳng thắn can gián nhà vua. Đang lúc thương thương tiếc con, lại nghe lời trái tai của Khương Công Phụ, vua Đường tức giận giáng ông xuống làm “Tả thứ từ“, một chức quan coi việc giữ sổ sách và dạy học cho thái tử. Nhưng vì mẹ mất nên ông được giải chức về chịu tang.
Năm Qúy Dậu (793), Khương Công Phụ bị biếm chức rồi sai đi biệt giá ở Tuyền Châu. Mãi đến năm 805, sau khi vua Đường Đồng Thuận lên ngôi, nhận thấy lẽ phải trong lời can ngăn của Khương Công Phụ, liền xuống chiếu cử ông làm Thứ sử Cát Châu. Tuy nhiên vị lão thần tuổi già sức yếu đã qua đời trước khi đến nơi nhậm chức. Thời Đường Hiến Tông đã truy tặng ông chức „Lễ bộ Thượng thư“.
Tóm lược theo nguồn: soha.vn ngày 9-8-2019.
VT, 30-6-2022