ĐẠI BI KỊCH VIỆT NAM



Về Tác Phẩm
ĐẠI BI KỊCH VIỆT NAM”
và tác giả MAX HASTINGS


PHAN LÊ DŨNG
Nếu phải diễn tả toàn bộ cuộc chiến VN thì cần nhập đề và kết thúc cách nào?
Max Hastings chọn nhập đề bằng tiếng kèn nằm sâu trong ký ức Đoàn Phương Hải, một thiếu niên miền Nam biết nhận thức khi cuộc chiến bắt đầu và kết thúc bằng nhận định của một thiếu niên miền Bắc biết nhận thức khi cuộc chiến vừa chấm dứt: “Trương Huy San là một thiếu niên 13 tuổi đang chơi vật lộn với bạn bên sườn một quả đồi miền Bắc năm 1975 khi loa phóng thanh ở làng cậu hân hoan loan tin Sài Gòn đã được “giải phóng.”
Rất lâu về sau, trong cuốn Bên Thắng Cuộc, cậu viết:

“Theo những gì chúng tôi được dạy ở trường, đây là chấm dứt hai thập niên đau khổ của miền Nam VN. Tôi nghĩ “chúng ta phải nhanh chóng chuẩn bị để giáo dục trẻ em miền Nam lầm lạc.”
Nhưng năm 2012, chính cậu bé đó quan sát “nhiều người đã cẩn thận duyệt lại quá khứ… và sững sờ thấy dường như phe thực sự được giải phóng là miền Bắc.”
Max Hastings là một ký giả Anh tham gia cuộc chiến VN ngay từ lúc đầu.
Ông là một trong số ký giả vào cuộc từ lúc ngồi tại phòng họp báo Tòa Bạch Ốc để nghe tổng thống Johnson trò chuyện cùng một số phóng viên và là một trong số người cuối cùng rời VN với nỗi hồi hộp, kinh hoàng bùng lên khi chen chúc giữa đám người hốt hoảng đang cố tìm đường đào thoát.
Gọi cuộc chiến VN là Đại Bi Kịch, Max Hastings mô tả phần đầu cuộc chiến mà Pháp gọi là “cuộc chiến bẩn thỉu”, mô tả Điện Biên Phủ như một “Thành Trì Hư Ảo”, mô tả Hiệp Định Geneve như chiếc nôi cho sự thoát thai của hai chính quyền Nam, Bắc: Hai chế độ Độc Tài Song Sinh. Nhưng Max Hastings chỉ lấy các bối cảnh to lớn đó để dựng lại các bi kịch li ti ít khi được ghi lại.



Chuyện phi công Trần Hội, trong chuyến thả bom Bắc Việt đầu tiên đã cầu nguyện cho em anh không nằm dưới làn mưa bom anh đang thả.
Chuyện một phi công tải thương khi nhận xác trở về đã đọc tên trên tấm poncho bọc xác để biết cái xác bên trong là xác em mình.
Chuyện người cha có con gái trốn vào Nam trối trăn lại với người bạn: “Nếu có tin gì về con gái tôi, anh nhớ nói : Tôi thương nó lắm.”
Chuyện anh lính Mỹ đạp phải mìn cóc qua lời kể của một y tá Mỹ:

“Anh …. bị cắt đôi từ đầu gối trở lên và từ sườn xuống. Phần giữa người anh bị bằm nhừ như thịt băm. Mọi bộ phận trong bụng đều nát như tương, nhưng hai chân anh còn trên giường, hai tay, bàn tay và phần ngực vẫn còn nguyên, và đầu óc anh tỉnh táo. Anh hướng mắt nhìn chúng tôi. Cảm giác thê lương bao trùm toàn đội cứu thương:

Một thanh niên đang chết ở phòng cấp cứu vì chúng tôi chẳng làm được gì cho anh. Cảm giác bất lực, tuyệt vọng chưa từng có. Nỗi kinh hoàng và thất vọng trong mắt các bác sĩ, vì với mọi kinh nghiệm, kiến thức tích lũy, với tất cả những gì có thể làm, chúng tôi vẫn không thể giúp anh ta thoát chết.”
Các bi kịch ít được nghe kể đó không chỉ xảy ra ở miền Nam.
Trương Như Tảng kể lại kinh nghiệm cá nhân khi nằm dưới hầm bị B52 dội đến: “Âm thanh va chạm ầm ầm tiến đến càng lúc càng gần, theo một đường thẳng tiến tới vị trí chúng tôi. Rồi khi cơn chấn động đi qua chúng tôi, mọi người đều nằm sát vào đất. Một số thét lên trong thầm lặng, một số vật vã cố đè nén cơn sợ đang dâng cao mãnh liệt. Xung quanh chúng tôi, mặt đất trồi lên giật từng cơn, chúng tôi chìm giữa các cơn giật đó.”
Một số cầu nguyện Lê-Nin và Bác Hồ, đa số cầu nguyện Phật…

“Từ xa cả ngàn thước, âm thanh gầm rú của tiếng nổ xé thủng màng nhĩ, khiến nhiều người phải điếc vĩnh viễn, trong khi các đợt chấn động khiến một số bất tỉnh. Một quả bom trong vòng 500 thước đánh sập các bức tường một căn hầm kiên cố, chôn sống những người đang co ro nằm rạp bên trong … Trong một số lần đầu B52 oanh tạc, tôi thấy như rớt vào cõi tận thế: kinh hoàng đến mức tuyệt đối. Người ta không còn kiểm soát được các chức năng cơ thể khi bộ óc gào thét các lệnh không còn hiểu nổi, đòi thoát ra khỏi hầm.”
Bảo Ninh, người lính Bắc Việt viết về Rừng Oan Hồn Kêu Khóc, nơi một tiểu đoàn chết gần hết:

“Vào đêm, nghe như có tiếng khóc trong rừng sâu.… Người ta nghe tiếng chim khóc như tiếng người. Các con chim đó không bao giờ bay, chỉ đậu trên cành cây để khóc. Khắp cao nguyên không nơi nào có loại măng có màu kinh hoàng như thế… Và các con đom đóm khổng lồ. Ở đây, khi trời tối, cây cối rên rỉ một nhịp điệu thê lương. Khi khúc nhạc ma quái bắt đầu, tâm hồn người ta không còn chỗ dựa và toàn thể khu rừng hệt như nhau bất kể đứng nhìn ở chỗ nào. Đây không phải nơi của kẻ nhát gan. Sống ở nơi này, có thể điên hoặc chết vì sợ. Nơi đây, lính cộng sản dựng một bàn thờ Phật bí mật và cầu nguyện cho các đồng chí đã chết.”
Ký giả John Swain tả cuộc gặp gỡ hai lính Bắc Việt bị quân đội Cam Bốt bắt gần Kompong Cham:

“Bộ đồng phục xanh vải thô của họ bê bết đất trộn máu. Thân thể họ bị cắt, xẻo. Họ rên rỉ thống khổ, như con vật bị mắc bẫy. Thình lình, biết có sự hiện diện của người ngoại quốc, họ nhúc nhích, mở mắt, nhìn tôi trong ánh sáng mờ với căm phẫn tột độ.”
Swain hỏi vị thiếu tá Cam Bốt có thể cho phép ông đem hai tù binh đến bệnh viện không. Vị thiếu tá dùng cây thọc vào các vết thương của hai tù binh nói “Để bọn nó chết đi. Chúng tôi không hề mời bọn nó đến nước chúng tôi.”
Một tù binh là sĩ quan Bắc Việt, thiếu úy Đào An Tuất. Swain mở cuốn vở của Tuất, thấy tấm ảnh Hồ Chí Minh mờ nhạt và các dòng chữ Việt:
Sống tức là hy sinh cho tổ quốc,
Là hiến mình cho đất nước, núi sông,
Là cắn răng chịu đựng trước mặt kẻ thù,
Sống tức là duy trì sự can đảm khi buồn khổ,
Là cười trong những lúc phẫn nộ…
Chúng ta phải uống máu quân thù.
Tuất đã chết trong túp lều hôi thối, hẳn là một cán bộ hết lòng. Lính Cam Bốt đổ xăng đốt xác Tuất và người đồng chí trước khi ném thi thể họ xuống sông.
Đại Bi Kịch VN được dựng lại không bằng các câu chuyện lý tưởng của những thanh niên mới lớn, không bằng các tư tưởng, lý luận vĩ đại, xoay chuyển thế giới như những bậc sư chiến thuật, chiến lược đưa ra mà là bằng mồ hôi và máu của các thanh niên tham chiến bằng những thô bạo của lớp người đã bị tước đi cả bản năng lẫn lương tri. Một bản kịch nhiều hồi, bắt đầu từ Sài Gòn, Hà Nội và có sự tham dự dần dần của lính Nga, lính Trung Cộng, lính Úc, lính Tân Tây Lan, lính Đại Hàn, lính Mỹ.
Tất cả bi kịch máu và nước mắt đó đã để lại những ký ức bất khả chia xẻ trong tâm những người còn sống sót.
Trong cuộc phỏng vấn năm 2008 khi được xin chia xẻ suy nghĩ về cuộc chiến VN, ký giả lão thành Nguyễn Tú của tờ Chính Luận, một ký giả đã lăn lộn trong cuộc chiến VN và từng trải không kém Max Hastings đã trả lời: “Muốn chia xẻ thì phải có “cái chung.”
Sự im lặng của ông trong gần cả thập niên chắc hẳn do thiếu vắng “cái chung” đó giữa ông và độc giả.
Ngược hẳn suy nghĩ của ký giả Nguyễn Tú, khi viết Đại Bi Kịch, Max Hastings đã cố tạo một “cái chung” để độc giả có thể chia xẻ phần nào kinh nghiệm của đời ông về cuộc chiến.
Ký giả Nguyễn Tú không hề đọc tác phẩm của Hastings.
Ông đã qua đời trong cô đơn năm 2010. Nếu còn sống có lẽ ông sẽ viết rất nhiều về “cái chung” mà tác giả Epic Tragedy cố gắng chuyển tải qua tác phẩm.
Ký giả Nguyễn Tú có thể bất đồng với Max Hastings về rất nhiều điểm, nhưng có một điểm chắc chắn ông sẽ đồng ý với Max Hastings: “Cuộc Chiến VN quả là một Đại Bi Kịch.”
PHAN LÊ DŨNG
Arlington 9/27/2021 

Về Bản Việt Ngữ
“ĐẠI BI KỊCH VIỆT NAM”

● MAX HASTINGS
Bản nghiên cứu của tôi về cuộc chiến giờ đây đã đến với độc giả VN, nhờ sự làm việc không biết mệt của anh Dũng Phan.
Đối với tôi, đây là điều vui vô cùng lớn.
Những năm 1970, vào thời gian 5 năm cuối cuộc chiến, tôi đã sang VN nhiều lần. Cũng như nhiều người Tây Phương khác, tôi yêu cảnh đẹp thiên nhiên và sự thu hút của người VN. Một lý do chính khiến tôi bắt tay viết cuốn sách này vì cảm thấy thất vọng khi thấy một số lớn tài liệu, sách vở đều đặt trọng tâm vào kinh nghiệm của Pháp hoặc của Mỹ.
Vượt trên mọi lý do, cuộc chiến VN vẫn là một thảm kịch của người bản xứ.
Vì vậy, tôi đã cố gắng kể lại một cách công bằng những chuyện của họ cũng như các biến chuyển của vấn đề địa chính trị. Khi tìm hiểu, một điều khám phá đã khiến tôi sững sờ: Tại tất cả các cuộc họp ở Hoa Thịnh Đốn dẫn đến các quyết định quan trọng về cuộc chiến VN suốt ba thập niên, không hề có đại biểu VN nào được mời tham dự.
Ở VN ngày nay, một quốc gia vĩ đại, đang đạt nhiều thành quả khác thường, việc thực sự bàn luận một cách đứng đắn về những biến cố và nhân vật lịch sử trong thời chiến vẫn là việc khó khăn.
Nhưng vào các dịp sang VN, tôi đã cố sức tìm hiểu. Trong cuộc tìm hiểu, tôi đã phỏng vấn nhiều người Việt lưu vong đang sống ở Mỹ.
Tuy thế, nguồn tin quan trọng của tôi vẫn là các hồi ký, nhật ký và tài liệu đã được Merle Pribbenow dịch ra tiếng Anh.
Merle Pribbenow là một dịch giả đại tài đã bỏ ra cả đời nghiên cứu lịch sử VN, và dịch các tài liệu có tính chứng cớ sử liệu để những người Tây Phương nghiên cứu, như tôi, có thể tham khảo.
Tôi cũng xin lỗi độc giả VN về các sai lầm khi trình bày câu chuyện về đất nước và người dân VN.
Chắc chắn độc giả sẽ thấy trong tác phẩm của tôi có nhiều thiếu sót.
Một cuốn sách không thể diễn tả được trọn vẹn mọi khía cạnh của một cuộc đấu tranh kéo dài suốt 30 năm. Nhưng tôi đã cố gắng để có thể kể lại các chuyện điển hình về cả kinh nghiệm con người lẫn những vấn đề chính trị.
Tất cả sử sách viết bao quát về mọi chuyện ắt hẳn đều có sai lầm — chẳng tài liệu nào có thể coi như tài liệu “hoàn toàn đúng sự thật” đối với một biến cố hay một cuộc chiến.
Khi muốn tìm hiểu và ghi lại quá khứ, mỗi người chúng ta, chỉ có thể mò mẫm, đào xới để tìm sự thật và hân hoan nếu tìm được một số mảnh vụn của sự thật đó.
Một trong số đặc quyền lớn nhất của cuộc đời tôi là đã có những thời gian được sống ở một đất nước vĩ đại như VN trong cả thời chiến lẫn thời bình, được tiếp xúc và biết một số trong những người VN đáng mến.
Người Việt đã phải gánh chịu nhiều kinh nghiệm đau thương trong thế kỷ qua.
Mong mọi người cùng thiết tha hy vọng những người Việt kỳ tài, trong cũng như ngoài nước, đều được hưởng những gì may mắn hơn trong thế kỷ tương lai, một thế kỷ tươi sáng của đa số người trẻ sung sướng không còn nhớ gì về các thảm kịch tôi kể lại trong quyển sách này.
MAX HASTINGS
Tháng Giêng, 2021

  A foreword to the Vietnamese edition

     It gives me enormous pleasure that my study of your country’s war now becomes accessible to Vietnamese readers, through the tireless labours of Dung Phan.   I visited Vietnam repeatedly in the 1970s, during the last five years of its wars.  Like many Westerners, I fell in love with its natural beauty and the charm of its people.  Prominent among the reasons that I set out to write this book are that I was dismayed by the large number of existing works about the war that focus upon the French or American experience.  The war was, above all, a tragedy for the native inhabitants of Vietnam.   I have here striven to do justice to their stories, as well as to the international geopolitical narrative.  One of the most shocking discoveries I made during my research was that, in the course of all the critical meetings in Washington over three decades at which the big war decisions were made, no Vietnamese representatives were invited to attend.  

       It is a disappointment for a historian, that in today’s Vietnam- a great country which is achieving extraordinary things- it remains difficult to hold frank discussions about the events and personalities of the wartime era, but I did my best to do so during my visits, and have also of course conducted interviews with Vietnamese expatriates living in the United States.  My most important sources of Vietnamese material are, however, memoirs, diaries and documents translated by the great Merle Pribbenow, who has spent most of a lifetime committed to the study of Vietnam’s history, and to making evidence accessible to Western researchers such as myself.  

        I must apologise to Vietnamese readers who first, observe mistakes in my account of the country and its people, and who will most certainly find many omissions.  It is impossible in a single volume to address every aspect of a 30-year struggle.  This is why I call this a study, rather than a comprehensive history.  I have sought to provide representative accounts of both human experiences and the political issues.  

        All histories of everything are flawed- there is no such thing as a ‘definitive’ account of any event or war.  Each of us who aspires to chronicle the past can only grope for truth, and rejoice if we succeed in finding fragments of it.  It remains one of the great privileges of my life, to have spent time in the great country of Vietnam in war and peace, and to have met and come to know some of its wonderful people.  The Vietnamese have endured terrible experiences over the past century.  Let us passionately hope that the supremely talented Vietnamese people, both at home and abroad, enjoy far better times in the century that lies ahead, which will be dominated by young people who, happily, have no memories of the tragedies I describe in this book.  

MAX HASTINGS

January 2021