THAN HỒNG CHIẾN CUỘC

 FREDRIK LOGEVALL 

và THAN HỒNG CHIẾN CUỘC

Lời Người Dịch

Viết sử, dù có kỹ lưỡng đến mấy vẫn có thể có những nhận định sai lầm, do thiếu tài liệu, thiếu kiến thức.  Đối với cuộc chiến Việt Nam, một cuộc chiến kết thúc chưa đến nửa thế kỷ, và các nhân vật trong cuộc nhiều người vẫn còn sống, tài liệu thật chỉ mới vừa được khai mở một phần.

Xử dụng những phần tài liệu mới được khai mở đó và khai triển thêm từ nền tảng của những tài liệu trong văn khố Mỹ từ thập niên 1920, ông Logevall, giáo sư Sử và Quốc Tế Học của đại học Cornell, mạnh dạn chắp nối, bổ túc thêm bằng những tài liệu tìm được trong văn khố Pháp, Nga, Trung Hoa, Anh, Việt Nam, để dựng lại hành trình lập chính sách của Mỹ khi can thiệp vào Việt Nam. 

Khi nhìn vào quá trình can thiệp của Mỹ, đa số người Việt Nam đều cho rằng cách can thiệp đó là một cách can thiệp mù quáng và lầm lẫn khổng lồ.  Ông Diệm, tổng thống nền Đệ Nhất Cộng Hòa, đã phát biểu:  „Đã đem chó Mỹ vào, thì phải chấp nhận bọ chét chó Mỹ.“  Ông Nhu, cố vấn tối cao của ông Diệm cũng nói: “ Pháp có thể là quan thày thực dân, nhưng ít nhất họ hiểu Việt Nam, còn Mỹ giúp chúng ta với rất nhiều tiền của, nhưng lại chẳng biết tí gì về các vấn đề Việt Nam.” Đa số người Mỹ cũng cho rằng sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam là một lầm lẫn khổng lồ, nhưng lại vì những lý do khác hẳn. Nhưng vượt trên cái nhìn của cả hai phía, kết cục của sự can thiệp đó có thể khác không?  Ông Logevall khẳng định là „„.  Chẳng những chỉ „“ tại một thời điểm mà còn „,“ „„, và „“ tại nhiều thời điểm.

Nếu có thể lấy một cái tựa khác cho quyển „Than Hồng Chiến Cuộc„, có lẽ „Cách Người Mỹ Nhìn Cuộc Chiến Việt Nam“ sẽ là một cái tựa đúng nhất.  Ông Logevall vào chuyện qua cái nhìn và những tiên cảm của một chính khách Mỹ nổi bật nhất, và kết thúc bằng lời hậu luận với cái chết bất ngờ của chính khách đó khi đang ở những nấc thang tột đỉnh của sự nghiệp chính trị.  Cũng có thể nói ông vào chuyện bằng cái chết của những người hùng khác như Peter Dewey, nhân viên lỗi lạc của Phòng Hoạt Vụ Chiến Lược Hoa Kỳ (OSS), hoặc James B. McGovern, phi công tài ba của đội bay Phi Hổ (Flying Tiger) bị bắn rớt ở Điện Biên Phủ, và kết thúc bằng bức tường đá hoa cương khắc tên 58,000 người lính Hoa Kỳ tử trận ở Việt Nam.

Cách chọn lựa nhân vật của Logevall cho thấy ông đặc biệt để ý đến hai yếu tố chính quan trọng nhất: „Quân Sự“ và „Đàm Phán“, có thể được gọi vắn tắt là „đánh“ và „đàm“.  „Đánh thế nào?“ và „Đàm thế nào?“ là hai khuôn thước để đo tầm nhìn và cách đối phó của các chính khách và các tư lệnh chỉ huy lần lượt được đưa vào cuộc trước những bài toán nan giải. „Đánh“ và „Đàm“ cũng được nối kết qua một yếu tố thứ ba: yếu tố con người. Yếu tố đó được tả lại tài tình qua hồi ký và ngòi bút tiểu thuyết của Graham Greene, „một Dostoevsky thứ hai“ theo lời bình luận của báo Time.  Yếu tố đó cũng hiển lộ qua một khía cạnh tâm lý ghê rợn khác được rút ra từ con số các xã trưởng bị ám sát trong thời Đệ Nhất Cộng Hòa dưới sự phân tích sắc bén của Bernard B. Fall, một ký giả thượng thặng của cuộc chiến Đông Dương. 

„Đánh“ cứ chuyển đổi từng chương trong Than Hồng Chiến Cuộc để khuyếch đại những cuộc chiến lẻ tẻ ở các vùng nông thôn Việt Nam thành những cuộc chiến lớn dần, bao phủ miền Bắc, bao phủ miền Nam, bao phủ Việt Nam, bao phủ Đông Dương. “Đàm” cũng chuyển đổi từng chương từ những cuộc đàm phán nhỏ giữa ông Hồ với Sainteny ở Hà Nội, đến những cuộc đàm phán giữa Việt, Pháp ở Đà Lạt, ở Fontainebleau, biến dần thành những cuộc đàm phán ngày càng lớn ở Ba Lê, ở Hoa Thịnh Đốn và rồi ở Geneva khi mâu thuẫn Pháp-Việt được quốc tế hóa thành „mâu thuẫn thế giới“ trong cái gọi là „Chiến Tranh Lạnh“.  Nằm sau những khốc liệt của các trận đánh ngày càng lớn ở Cao Bằng, Vĩnh Yên, trên đườngThuộc Địa Số 4, bắt đầu ló dạng dần các yếu tố sâu rộng bên ngoài: Sự nhìn nhận Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa của Trung Cộng, của Nga. Sự nhìn nhận Việt Nam Cộng Hòa của Pháp, của Mỹ, của Úc, của Phi Luật Tân…

Nhịp theo bước tiến của „Đánh“ và „Đàm“ là hình ảnh đặc biệt của những nhân vật điển hình đại diện cho từng quốc gia trong cuộc:

Pháp, với d’Argenlieu, một „Nhà Tu Chiến Sĩ“ có „bộ óc siêu việt của thế kỷ thứ 12“, với Jean de Lattre, một nhà quân sự đại tài được mệnh danh là „Ông Hoàng Jean“, với de Castries, một tư lệnh tài hoa đã đặt những cứ điểm quân sự trọng yếu của Điện Biên Phủ bằng tên của những người tình, với Charles Piroth, một đại tá pháo binh cụt tay đã dùng miệng để giật chốt, ép sát trái lựu đạn vào ngực.

Mỹ, với Dean Acheson, một Ngoại Trưởng có trách nhiệm về chủ thuyết Truman hơn Truman, có trách nhiệm về kế hoạch Marshall hơn Marshall, một chính khách đã sắp xếp vai trò quốc tế của Mỹ thời hậu chiến còn hơn cả Tổng Thống, với „Ike“, tư lệnh tối cao chỉ huy cuộc đổ bộ Normandy, „Ike“, tổng tư lệnh tối cao của NATO và cũng chính „Ike“, một người có „đầu óc quỷ quyệt“ theo lời mô tả của Nixon, với Dulles, một Ngoại Trưởng đã học làm ngoại trưởng từ lúc 5 tuổi, một chính khách khi vận động tranh cử đã gắn phù hiệu vào xe, nêu rõ ông là  “Kẻ Thù Của Cộng Sản”, và với Landsdale, người đã “tạo ra Ramon Magsaysay”, tổng thống Phi-Luật-Tân, và cũng là người được Dulles gửi sang Việt Nam giúp ông Diệm với chỉ thị ngắn gọn: “Làm những gì anh đã làm ở Phi-Luật-Tân.”

Anh, với Eden, một ngoại trưởng có thể đọc văn chương Ba Tư, Ả Rập bằng nguyên tác và có phong cách tao nhã tự nhiên thiên phú, không cần cố gắng, một người có khả năng điều đình thượng thặng, có khả năng nghĩ ba, bốn nước cờ trước đối thủ, có khả năng thấy ngay nhược điểm của đối thủ, và tìm cách tấn công vào nhược điểm đó để hạ gục đối thủ.

Trung Cộng, với Vi Quốc Thanh, vị tướng mập mờ, ẩn hiện trong chiến tích Điện Biên Phủ, trưởng Đoàn Cố Vấn Quân Viện Trung Hoa, và cũng là người đã bảo Võ Nguyên Giáp “thiếu tinh thần Bolshevik”, với Chu Ân Lai, vị Ngoại Trưởng khéo léo, biết tiến thủ đã buộc Bắc Việt phải chấp nhận cái mà Phạm Văn Đồng cay đắng thốt ra: „Ông ấy đã lừa chúng ta.“ Với Mao Trạch Đông, một bóng dáng vĩ đại ẩn khuất phía sau mọi hành động của Trung Cộng: Chu Ân Lai lúc nào cũng nhường Mao quyết định các vấn đề quan trọng với cung cách hạ mình của kẻ dưới.

Việt Nam, với Bảo Đại, một vị vua đắm chìm trong hưởng thụ mà cả Pháp lẫn Việt Nam đã săn đuổi từ sân tennis Thụy Sĩ đến chốn ăn chơi Riviera ở Pháp để nài nỉ xin ông tham chính, và cũng chính là người tuyên bố „Thà làm dân một nước tự do còn hơn làm vua một nước nô lệ.“, với Ngô Đình Diệm, một nhân vật của „phép mầu“, với Hồ Chí Minh và câu tuyên bố „Thà ngửi cứt Tây 5 năm còn hơn ăn cứt Tàu suốt đời“, với Võ Nguyên Giáp, một người có khả năng, làm việc hữu hiệu, và tính tình tàn bạo. Ba tính chất đó ở mức độ như nhau.

Theo sau mỗi biến cố „Đánh“ hoặc „Đàm“ là những sự suy ngẫm, cân nhắc để lượng định, phán xét cho đúng chuỗi hệ quả theo sau: Việt Minh được hưởng lợi thế nào khi Pháp bị Đức rồi sau đó bị Nhật đánh quỵ, khi nạn đói xảy ra năm 1945, và Khi Mao Trạch Đông đánh bại Tưởng Giới Thạch ở Trung Hoa?  Các nhân vật quốc gia đã bị hủy hoại thế nào khi bị ép phải hợp tác với Nhật, với Pháp và rồi với Mỹ?

Trong lời hậu luận của một quyển sách xuất bản 1987, tác giả, một chính khách có tiếng của nền Đệ Nhị Cộng Hòa, đã kể rằng vào tháng 8 năm 1974, một người bạn đã hỏi ông: „Ông là đại sứ, ông có thể giải thích thái độ của Hoa Kỳ cho tôi được không? Khi muốn đến, họ tự tiện đến. Khi muốn đi, họ tự tiện đi. Chẳng khác gì một người hàng xóm tự tiện vào nhà mình vung vãi tất cả mọi thứ rồi thình lình bỏ về vì thấy họ sai. Làm sao họ có thể làm những việc lạ đời như vậy?“ Và tác giả đã thú nhận:  „Đây là một câu hỏi ngây thơ của một người không hiểu biết nhiều. Nhưng tôi thật không trả lời được. Theo tôi nghĩ thì cả ông William Fulbright, lẫn ông McGovern hoặc bất kỳ nghị viên phản chiến nào khác cũng không thể trả lời được.“

Mời bạn đọc nghe câu trả lời của Fredrik Logevall.

        ⬤ PHAN LÊ DŨNG     Arlington, 4/18/2017